Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đóng góp mới của luận văn
Đã xác định được tính đa dạng sinh học ở cấp độ ngành, chi, họ, loài, cũng như các thành phần dạng sống và tài nguyên cây có ích tại 3 trạng thái thảm thực vật ở xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Bên cạnh đó, cũng đã ghi nhận các nguy cơ dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học trong khu vực này.
- Xác định được một số loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU…
Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới Đại Từ là huyện trung du miền núi, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, có diện tích đất tự nhiên 57.790 ha, phía Đông giáp huyện Phú Lương, phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện Định Hóa, phía Tây Bắc và Đông Nam giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang Huyện Đại Từ nằm ở sườn đông núi Tam Đảo, có đường Quốc lộ 37 đi qua 8 xã, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 25 km
Xã Ký Phú, thuộc huyện Đại Từ, có tổng diện tích tự nhiên là 1.949,62 ha, nằm trong vành đai rừng quốc gia Tam Đảo Khu vực này được xác định bởi các ranh giới rõ ràng, tạo nên một không gian nghiên cứu phong phú và đa dạng.
+ Phía Tây giáp xã Văn Yên – Huyện Đại Từ
+ Phía Bắc giáp xã Lục Ba – Huyện Đại Từ
+ Phía Đông giáp xã Vạn Thọ – Huyện Đại Từ
+ Phía Nam giáp xã Cát Nê – Huyện Đại Từ
Thái Nguyên nổi bật với nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam, dần thấp xuống phía Nam Khu vực núi phía Bắc chủ yếu được hình thành từ đá phong hóa mạnh, tạo nên các hang động và thung lũng nhỏ độc đáo.
Dãy Tam Đảo nằm ở phía Tây Nam, với đỉnh cao nhất đạt 1.590 m và các vách núi dựng đứng kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Bên cạnh đó, dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn và chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam đến Võ Nhai, cùng với dãy núi Bắc Sơn cũng theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn và Bắc Sơn đều đóng vai trò quan trọng trong việc che chắn gió mùa đông bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thái Nguyên, một tỉnh trung du miền núi, có địa hình đơn giản hơn so với các tỉnh khác trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội.
Huyện Đại Từ và xã Ký Phú có địa hình phức tạp, đặc trưng của vùng trung du miền núi Đông Bắc, với đồi núi độ dốc vừa phải và nhiều cánh đồng bằng phẳng Xã Ký Phú nằm dưới chân sườn đông dãy núi Tam Đảo, có địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao trung bình từ 27 đến 185m so với mực nước biển, trong khi núi cao nhất đạt 720m, chủ yếu là núi đất.
Theo kết quả phúc tra do Viện Thiết kế xây dựng thực hiện năm 2006 thì toàn huyện Đại Từ có các nhóm đất chính sau:
- Đất xám mùn trên núi : 16.400 ha chiếm 28,37% diện tích
- Đất feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14% diện tích
- Đất feralit phát triển trên đất phù xa cổ: 13.036 ha chiếm 22,55% diện tích
Đại Từ có 13.247 ha đất phù sa phát triển trên phù sa cổ, chiếm 22,94% tổng diện tích Khu vực này sở hữu nhiều loại đất canh tác phù hợp với đa dạng cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả và rừng Cụ thể, đất nông nghiệp chiếm 26,87%, đất lâm nghiệp 45,13% và đất phi nông nghiệp 28%.
* Khí hậu: Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm chia làm
Việt Nam có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.000 đến 2.500 mm, với lượng mưa cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Mùa đông được chia thành ba vùng rõ rệt: vùng lạnh nhiều ở phía bắc huyện Võ Nhai, vùng lạnh vừa ở các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai, cùng với vùng ấm.
Tỉnh Thái Nguyên, bao gồm các huyện Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công, có khí hậu thuận lợi cho nông, lâm nghiệp Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Đại Từ dao động từ 22-25°C, với tháng nóng nhất (tháng 6) đạt 28,9°C và tháng lạnh nhất (tháng 1) là 15,2°C, chênh lệch 13,7°C Tổng số giờ nắng hàng năm từ 1.300 đến 1.750 giờ, phân bố tương đối đều trong các tháng.
Xã Ký Phú có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Bắc, với hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình trong mùa khô đạt 18,5°C, với khoảng 4 giờ nắng mỗi ngày, trong khi mùa mưa có nhiệt độ trung bình 27,5°C và số giờ nắng trung bình là 7,5 giờ/ngày.
Đại Từ, với vị trí địa lý đặc biệt và các dãy núi bao quanh, có lượng mưa lớn nhất tỉnh với trung bình hàng năm từ 1400-1600mm và độ ẩm trung bình đạt 70-80% Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống huyện Đại Từ theo hướng Bắc Nam, tạo nên một môi trường thủy văn phong phú.
Hệ thống suối và khe như La Bằng, Hoàng Nông, Mỹ Yên, Văn Yên, Ký Phú, Cát Nê, và Quân Chu, nằm trong khoảng 2km, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước cho đời sống và sản xuất của người dân trong huyện.
Hồ đập: Hồ Núi Cốc với diện tích 769 ha, Gò Miếu 320 ha, Phượng Hoàng
Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương có tổng diện tích khoảng 124 ha, với mỗi đập chiếm từ 40-50 ha Kết quả khảo sát cho thấy nguồn nước ngầm trong toàn huyện phong phú và có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu cho sinh hoạt và sản xuất.
Xã Ký Phú có lượng mưa trung bình hàng tháng trong mùa mưa đạt 205,25mm, với hồ Gò Miếu có diện tích 320ha và nhiều khe, suối Hệ thống thủy lợi của xã bao gồm 86,7km kênh mương, trong đó 28,7km đã được kiên cố hóa, đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thái Nguyên là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai cả nước, với các loại than mỡ và than đá chủ yếu tập trung ở hai huyện Đại Từ và Phú Lương Tiềm năng than mỡ tại đây ước tính trên 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng đã được thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, có chất lượng tương đối tốt, phân bố tại các mỏ Phấn Mễ, Làng Cẩm và Âm Hồn.
- Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hoà, Núi Hồng
Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên
Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu
Dân số cuối năm 2009 toàn huyện Đại Từ có 168.807 hộ với 159.667 người, nữ chiếm 50,06% dân số Trong đó:
- Nhân khẩu nông nghiệp: 148.490 người
- Nhân khẩu phi nông nghiệp: 11.177 người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mật độ dân số trung bình trong khu vực là 276,29 người/km², với sự phân bố khá đồng đều giữa các xã Tuy nhiên, mật độ dân số cao nhất tập trung ở trung tâm huyện và dọc theo Quốc lộ 37 Ở các xã vùng sâu như Phúc Lương, Đức Lương và Minh Tiến, mật độ dân số dao động từ 112 đến 125 người/km².
- Dân tộc: toàn huyện có 8 dân tộc anh em là: Kinh chiếm 75% dân số; còn lại 25% là các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Sán Chí, Sán dìu, Hoa, Ngái
- Lao động làm trong các ngành nghề kinh tế chiếm 90,8% (Trong đó: Nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 94,41%; Công nghiệp xây dựng chiếm 4,1%; Dịch vụ chiếm 2,1%)
Trình độ lao động trong khu vực nhìn chung khá cao, với 87% hộ gia đình được đào tạo về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trồng Tỷ lệ lao động có văn hóa bậc tiểu học đạt 97,8%, trong khi đó, 85% có trình độ Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Chỉ có 15% lao động có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và trên Đại học Hầu hết các hộ gia đình đều có khả năng giao lưu với bên ngoài thông qua các phương tiện truyền thông như truyền thanh, truyền hình, internet và các hoạt động dịch vụ khác.
Tổng số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Ký Phú được nêu cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.1 Số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Ký Phú
TT Tên xóm Tổng số hộ
Trong đó dân tộc (theo khẩu) Kinh Tày Nùng Dao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(Nguồn: UBND Xã Ký Phú [55]) 2.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp
Trong 5 năm qua, giá trị sản xuất trong toàn ngành nông, lâm nghiệp của huyện Đại Từ đều tăng qua các năm, mức tăng bình quân đạt gần 8%/năm Các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao được phát triển mạnh như: cây chè, lúa, ngô, lạc, sắn, tạo ra thu nhập đáng kể cho người dân Hệ số sử dụng đất hiện nay là 2,19 lần, đạt giá trị 20,3 triệu đồng/ha canh tác Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 65.922 tấn (năm 2003) lên 72.616 tấn (năm
Từ năm 2010, huyện đã sản xuất lương thực đủ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng Các mô hình chăn nuôi quy mô và tập trung ngày càng phát triển, với đàn lợn duy trì ổn định ở mức 62.457 con Đặc biệt, đàn bò đã tăng nhanh từ năm 2003, hiện đạt 4.300 con, trong khi đàn trâu lại có xu hướng giảm, chỉ còn 16.556 con.
Ngành lâm nghiệp đã chuyển hướng từ khai thác sang trồng và bảo vệ rừng, với diện tích trồng mới hàng năm đạt từ 100 đến 150 ha Kinh tế nông thôn đang phát triển theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, trong đó tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh Nhiều trang trại vừa và nhỏ trong lĩnh vực chăn nuôi công nghiệp đã bắt đầu đạt hiệu quả kinh tế.
Xã Ký Phú, nằm trong vành đai rừng quốc gia Tam Đảo, chú trọng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lâm nghiệp Hiện có 293 hộ được cấp đất rừng, chiếm 14,20% tổng số hộ trong xã, mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho người dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hệ thống giao thông tại xã có tổng chiều dài 25,2 km, bao gồm 5,2 km đường bê tông và 20 km đường cấp phối Đặc biệt, có 5 km đường nhựa tỉnh lộ Đại Từ đi Phổ Yên, trong khi phần lớn còn lại chủ yếu là đường đất, với chiều dài đường nhựa và bê tông rất hạn chế chỉ vài km Hiện nay, nhờ vào chính sách của nhà nước và sự chung tay của nhân dân, xã đang tích cực triển khai xây dựng đường bê tông hoá nông thôn.
Tại Ký Phú, hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất và sinh hoạt được đảm bảo nhờ hồ Gò Miếu, các khe suối nhỏ và nguồn nước ngầm phong phú, cung cấp đủ nước cho nhu cầu sinh hoạt và nông nghiệp.
2.2.4 Văn hoá, giáo dục, y tế
Dân số xã chủ yếu là người Kinh với trình độ dân trí cao, việc giao lưu và thông thương với bên ngoài được thúc đẩy, góp phần nâng cao nhận thức của đa số người dân.
Hệ thống giáo dục tại xã đã phát triển mạnh mẽ với nhiều trường từ mầm non đến trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I Toàn xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Đặc biệt, có một trường THPT nằm trên địa bàn xã, tạo điều kiện thuận lợi cho con em trong xã tiếp cận giáo dục trung học phổ thông.
Xã Ký Phú có một trạm y tế kiên cố tại trung tâm xã, với 1 phòng làm việc, 3 phòng điều trị, 12 giường bệnh và đội ngũ gồm 2 bác sĩ, 6 y tá, cùng 1 nữ hộ sinh Cơ sở vật chất và dụng cụ khám chữa bệnh hiện đại, góp phần vào công tác y tế hiệu quả Công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm và kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tốt Đặc biệt, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em được chú trọng, với 100% trẻ em trong xã được tiêm phòng theo chương trình tiêm chủng quốc gia và phụ nữ mang thai được khám định kỳ.
Có 100% số hộ trong xã được hưởng nguồn điện lưới quốc gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hệ thống nước sạch phục vụ sinh hoạt của người dân chủ yếu được khai thác từ nguồn nước ngầm, bao gồm nước khoan và giếng khơi, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đa dạng các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Thành phần thực vật và các yếu tố phát sinh quần thể đã hình thành kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở KVNC, chủ yếu trên vùng đồi núi thấp với các kiểu phụ thổ nhưỡng Tuy nhiên, hiện nay, các trạng thái rừng nguyên sinh đặc trưng còn lại rất ít, chủ yếu tập trung ở đỉnh núi giáp rừng Quốc gia Tam Đảo Hầu hết thảm thực vật rừng nguyên sinh đã bị tác động và mất đi các đặc trưng cấu trúc ban đầu, hoặc bị phá hủy hoàn toàn, thay thế bằng những trạng thái thảm thực vật khác trong chuỗi diễn thế suy thoái hoặc phục hồi Qua nghiên cứu thực địa, chúng tôi xác định tại xã Ký Phú có 5 trạng thái thảm thực vật hiện tại.
Thảm cỏ thứ sinh thường phát triển trên những vùng đất bỏ hoang sau khi nương rẫy không còn được canh tác Các loài cỏ phổ biến trong thảm cỏ này bao gồm Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides), Song nha kép (Bidens bipinnata), Đơn buốt (B pilosa), Sơn hoàng (Blainvillea acmella), Đại bi (Blumea balsamifera) và Cải trời (Blumea lacera).
Bồ công anh hoa tím (Cichorium intybus), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Cỏ hôi (Synedrella nodiflora)
4.1.2 Trạng thái thảm cây bụi
Thảm cây bụi trong khu vực nghiên cứu chủ yếu bao gồm các loài cây ưa sáng và phát triển nhanh, như Sói rừng (Alchornea rugosa), Đom đóm (Alchornea trewioides), Thàu táu (Aporosa dioica), Bọt ếch lông (Glochidion eriocarpum), Găng răng nhọn (Aidia oxyodonta) và Găng vàng gai (Canthium).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn horridum), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua thường (Melastoma normale),
4.1.3 Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác Đây là trạng thái hình thành sau khi rừng tự nhiên bị tác động mạnh và lâu dài do hoạt động khai thác của con người Ở trạng thái rừng này, thảm thực vật rất đa dạng về thành phần loài cũng như về cấu trúc hình thái Ở trạng thái này ưu thế là các loài cây gỗ như: Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica), Sau sau (Liquidambar formosana), Kháo nhớt (Actinodaphne cochinchinensis), Kháo xanh (Cinnadenia paniculata), Kháo vàng (Machilus bonii ), Trám trắng (Canarium album)
Rừng trồng hiện chiếm 11,25% tổng diện tích đất tự nhiên, với diện tích lớn Các loại cây chủ yếu được trồng trong khoảng 10 năm qua bao gồm Keo tai tượng, Keo lá tràm và Bạch đàn trắng, có chiều cao trung bình từ 5 đến 7 mét và đường kính từ 12 đến 20 cm.
4.1.5 Trạng thái cây nông nghiệp Đất trồng cây nông nghiệp ở xã Ký Phú có 351,68 ha, phân bố chủ yếu ở chân hồ Gò Miếu, dọc hai bên đường Tỉnh lộ 261 cây trồng chủ yếu là lúa nước, một số loài cây hoa cảnh Đặc biệt là cây Chè (Camellia sinensis) khá phổ biến với nhiều giống khác nhau và được trồng khá lâu đời
4 2 Đa dạng hệ thực vật trong KVNC
Trong quá trình nghiên cứu ngoài thực địa, chúng tôi gặp nhiều khó khăn như địa hình phức tạp và thời gian hạn chế Do đó, chúng tôi chỉ tập trung vào việc điều tra tính đa dạng hệ thực vật ở các mức độ ngành, bậc chi, họ, dạng sống, tài nguyên cây có ích và cây quý hiếm Nghiên cứu được thực hiện trong ba trạng thái thảm thực vật: rừng thứ sinh, thảm cây bụi và thảm cỏ.
Đa dạng về hệ thực vật trong KVNC
4.2.1 Đa dạng các bậc taxon trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Dựa trên kết quả từ các điểm nghiên cứu điển hình về thảm thực vật và tài liệu tham khảo liên quan, chúng tôi đã tiến hành thống kê hệ thực vật tại khu vực KVNC, được trình bày trong bảng 4.1.
Theo bảng 4.1 và hình 4.1, nghiên cứu đã ghi nhận 216 loài thuộc 170 chi và 75 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch, bao gồm ngành Thông đất (Licopodiophyta), ngành Mộc tặc (Equisetophyta), ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Mộc lan (Magnoliophyta).
Bảng 4.1 Số lượng và tỷ lệ (%) sự phân các taxon thực vật ở KVNC
Thành phần thực vật trong thảm thực vật thứ sinh tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều loài cây có giá trị sử dụng cao như cây lấy gỗ, cây làm thuốc, cây cho tinh dầu và dầu béo, cũng như cây dùng làm rau ăn.
Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế trong nghiên cứu với 95,85% số loài, 95,29% số chi và 90,68% số họ Ngành này thể hiện sự đa dạng vượt trội trong các hệ thực vật Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 6 loài, chiếm 2,77% tổng số loài, thuộc 5 chi và 4 họ Ngành Thông đất (Licopodiophyta) chỉ có 2 loài, chiếm 0,92% tổng số loài, thuộc 2 chi và 2 họ Cuối cùng, ngành Mộc tặc (Equisetophyta) có tỷ lệ xuất hiện thấp nhất trong khu vực nghiên cứu.
Trong tổng số loài, chỉ có một loài duy nhất, Cỏ quản bút (Equisetum ramosissimum), chiếm 0,46% Điều này cho thấy sự phân bố của các taxon trong các ngành là không đồng đều Ngay cả trong cùng một ngành, sự phân bố của các taxon cũng có sự khác biệt rõ rệt Chẳng hạn, trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta), lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 68 họ và 192 loài, trong khi lớp Hành (Liliopsida) chỉ có một số lượng hạn chế hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 4.1.Biểu đồ phân bố của các bậc taxon ở KVNC 4.2.2 Đa dạng về số chi, số họ và số loài trong các trạng thái thảm thực vật
Tại các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu, chúng tôi cũng đã thống kê được số chi, số họ được trình bày cụ thể ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ các họ, chi và loài trong các trạng thái thảm thực vật
Phân tích bảng 4.2 và biểu đồ 4.2 cho thấy sự phong phú về số lượng họ, chi và loài trong các quần xã nghiên cứu.
- Trạng thái rừng thứ sinh: có 74 họ (chiếm 98,66 %), 150 chi (chiếm 88,23%), 183 loài ( chiếm 84,72 %)
- Trạng thái thảm cây bụi, số lượng họ và chi đã giảm đi nhiều, có 49 họ (chiếm 65,33%) và 99 chi (chiếm 58,23 %), 120 loài ( chiếm 55,55 %)
- Trạng thái thảm cỏ, số lượng họ và chi thấp nhất, có 25 họ (chiếm 33,33 %) và 41 chi (chiếm 24,11%), 45 loài ( chiếm 20, 83 %)
4.2.2.1 Đa dạng về số loài trong các chi Ở KVNC, chúng tôi đã thu được 216 loài thuộc 170 chi Sự phân bố của các loài trong các chi khá chênh lệch Trong tổng số 170 chi thì có tới 138 chi chỉ có 1 loài, 32 chi còn lại có từ 2 loài trở lên được tổng hợp trong bảng 4.3
Bảng 4.3 Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Rừng thứ sinhThảm cây bụiThảm cỏ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TT Tên chi Tên họ
Sự có mặt của các loài trong các trạng thái thảm thực vật Rừng thứ sinh
Thảm cây bụi Thảm cỏ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo số liệu từ bảng 4.3, có 32 chi thực vật thuộc 22 họ và 2 ngành là Dương xỉ (Polypodiophyta) và Mộc lan (Magnoliophyta), với tổng cộng 74 loài, chiếm 34,25% tổng số loài ở KVNC Trong số 22 họ, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) chiếm ưu thế với 5 chi và 11 loài, tiếp theo là họ Dâu tằm (Moraceae) với 2 chi và 8 loài Các họ khác như Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Đơn nem (Myrsinaceae), Cúc (Asteraceae), Cà phê (Rubiaceae) và Gai (Urticaceae) đều có 2 chi và từ 4 đến 6 loài Ngoài ra, có 3 họ với 1 chi và 3 loài, còn lại 12 họ mỗi họ có 1 chi và 2 loài.
Chi Ficus (họ Dâu tằm - Moraceae) có nhiều loài nhất là 6 loài;,chi Clerodendrum (họ Cỏ Roi Ngựa - Verbenaceae) có 4 loài; 4 chi có 3 loài (Garcinia, Macaranga, Zanthoxylum, Pterospermum )
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong 3 trạng thái thảm thực vật ở KVNC, số lượng loài trong các chi giàu nhất (từ 2 loài trở lên) như sau:
- Trạng thái rừng thứ sinh: có 61 loài, 29 chi, 22 họ Trong tổng số 29 chi, có 1 chi có 6 loài (Ficus), 4 chi có 3 loài
- Trạng thái thảm cây bụi: có 48 loài, 28 chi, 19 họ Trong tổng số 28 chi, 1 chi có 4 loài (Clerodendrum), 1 chi có 3 loài …
- Trạng thái thảm cỏ: số lượng loài thấp nhất chỉ có 11 loài, 8 chi, 6 họ Trong tổng số 8 chi, có 3 chi có 2 loài
Rừng thứ sinh là loại thảm thực vật có sự phong phú về số lượng loài, chi và họ, bởi vì tại đây, các loài từ nhiều kiểu thảm và nhóm sinh thái khác nhau hội tụ, hướng tới một trạng thái ổn định tương đối.
4.2.2.2 Đa dạng về số loài trong các họ
Trong nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 75 họ thực vật, trong đó có 33 họ đơn loài và 42 họ có từ 2 loài trở lên, như được thể hiện trong bảng 4.4 Tổng số loài trong các họ có từ 2 loài trở lên là 176 loài, chiếm 81,48% tổng số loài trong khu vực nghiên cứu Sự phân bố loài giữa các họ là không đồng đều, với họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có số lượng loài nhiều nhất, lên đến 23 loài, tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 14 loài, và họ Dâu tằm (Moraceae) cùng họ Cúc (Asteraceae) cũng có sự đa dạng đáng kể.
11 loài; họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 7 loài; họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) có 6 loài; có 3 họ có 5 loài; 5 họ có 4 loài; 9 họ có
Trong khu vực Vườn Quốc gia Núi Chúa (KVNC), có 3 loài thực vật đặc trưng, trong khi 18 họ thực vật còn lại chỉ có 2 loài Sự phân bố của các loài thuộc các họ giàu nhất trong 3 trạng thái thảm thực vật tại KVNC không đồng đều, như được thể hiện trong bảng 4.4.
Trạng thái rừng thứ sinh tại khu vực này ghi nhận sự đa dạng với 147 loài thực vật thuộc 42 họ khác nhau Trong đó, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) chiếm ưu thế với 18 loài, tiếp theo là họ Dâu tằm (Moraceae) với 11 loài và họ Cà phê (Rubiaceae) với 10 loài Ngoài ra, còn có sự xuất hiện của 2 họ Đơn nem, góp phần làm phong phú thêm hệ sinh thái rừng thứ sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(Myrsinaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) có 6 loài;,Họ Na (Annonaceae) và họ Cúc(Asteraceae) có 5 loài; 4 họ có 4 loài là: họ Hoà thảo (Poaceae), họ
Trúc đào (Apocynaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Long não (Lauraceae) ; có 11 họ có 3 loài Có 17 họ có 2 loài vá 3 họ chỉ có 1 loài
Trạng thái thảm cây bụi bao gồm 104 loài thuộc 34 họ khác nhau Trong đó, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) chiếm số lượng lớn nhất với 17 loài, tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 10 loài Họ Cúc (Asteraceae) có 8 loài, trong khi họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 7 loài Hai họ Hoà thảo (Poaceae) và Đơn nem (Myrsinaceae) mỗi họ có 5 loài, còn họ Ô rô (Acanthaceae) và Dâu tằm (Moraceae) có 4 loài Ngoài ra, có 11 họ có từ 3-4 loài và 13 họ chỉ có 1 loài.
The grassland status is characterized by a minimum of 37 species across 17 families The Asteraceae family has the highest representation with 10 species, followed by the Poaceae family with 5 species, and the Amaranthaceae family with 3 species Additionally, five families, including Acanthaceae, Fabaceae, Lamiaceae, Portulacaceae, and Urticaceae, each contain 2 species, while 8 families are represented by a single species.
Như vậy, hầu hết các họ trên là những họ giàu loài, có phổ biến trong hệ thực vật nước ta Đặc biệt các họ Euphorbiaceae, Moraceae, Urticaceae,
Họ Poaceae và Rubiaceae là những nhóm thực vật có nhiều loài thân thảo hoặc cây bụi ưa sáng, phát triển nhanh chóng và có số lượng loài phong phú Điều này cho thấy chúng sinh trưởng tốt trong môi trường có độ chiếu sáng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 4.4 Các họ có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
T Tên họ Tên Việt Nam
Sự có mặt của các loài trong các trạng thái thảm thực vật Rừng thứ sinh
3 Adiantaceae Họ Tóc vệ nữ 2 1 1
8 Araliaceae Họ Ngũ gia bì 3 3 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
41 Verbenaceae Họ Cỏ roi ngựa 7 3 7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Trạng thái thảm thực vật nghiên cứu
Thảm cây bụi Thảm cỏ
1 Psilotum nudum (L.) Griseb Thông đất + + + He Lt, Ca
Quyển bá + + He Lt, Ca,
3 Equisetum ramosissimum Desf Cỏ quản bút + He Lt
4 ADIANTACEAE HỌ TÓC VỆ NỮ
4 Adiantum flabellulatum L Dớn đen + He Ca, Lt
5 A unduratum H Christ Tóc vệ nữ cứng + He Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7 Lygodium flexuosum (L.) Sw Bòng bong + + + He Lt
9 Pteris vitata L Ráng + He Lt
Mảnh cộng + + Ph Ra, Lt
Nees Đình lịch + + He Lt
12 Justicia gendarussa Burm f Thanh táo + + Ch Lt
13 Justicia procumbens Tước sàng + Ch Ca
14 Saurauia dillenioides Gagnep Nóng lá to + + Ph Lt
15 S tristyla DC Nóng + Ph Lt
Thôi ba Trung hoa + Ph Lt, Lg
17 Liquidambar formosana Hance Sau sau + + Ph Lg, Td
18 Achyranthes aspera L Cỏ xước + + + He Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20 Celosia argentea L Mào gà trắng + + + Th Lt, ca
Giâu gia xoan + Ph Aq, Lg,
Xoan nhừ + Ph Aq, Lg,
25 Desmos chinensis Lour Hoa dẻ thơm + + Ph Lt, Td
27 F villosissimum Merr Lãnh công lông mượt + + Ph Lt
29 Xylopia vielana Pierre Giền đỏ + Ph Lg
30 Gymnema sylvestre Dây thìa canh + + Ph Lt
31 Holarrhena antidysenterica Thừng mực trâu + Ph Lg, Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
32 Wrightia balansae Pitard Thừng mực mỡ + + Ph Lg, Lt
33 Tabernaemontana bovina Lour Lài trâu + Ch Lt
17 ARALIACEAE HỌ NGŨ GIA BÌ
Don) Seem Đơn châu chấu + + Ph Lt
Frodin Đáng chân chim + Ph Lt, Ca
Lindl.) Visan Đu đủ rừng + Ph Lt
37 Hoya carnosa L Cẩm cù + Ph Ca, Lt
38 Streptocaulon juventas Hook Hà thủ ô trắng + + Cr Lt
39 Cichorium intybus L Bồ công anh hoa tím + + Th Ra, Lt
40 Ageratum conyzoides L Cỏ cứt lợn + + Th Lt
41 Bidens bipinnata L Song nha kép + Th Lt
42 B pilosa L Đơn buốt + + Th Lt
43 Blumea balsamifera L Đại bi + + Th Lt
44 Blainvillea acmella (L.) Philips Sơn hoàng + Th
45 Blumea lacera (Burm f.) DC in
Cải trời + + + Th Ra, Lt
46 Elephantopus scaber L Cúc chỉ thiên + + + He Lt
47 Eupatorium odoratum L Cỏ lào + + + Ch Lt, Td
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
49 Gynura crepidioides L Tầu bay + Th Ra
50 Betula alnoides Buch.–Ham in
Cáng lò + Ph Lg, Lt
51 Oroxylum indicum (L.) Kurz Núc nác + Ph Lt
Rà đẹt lửa + Ph Lt
Trám đen + Ph Lg, Ra,
Trám trắng + Ph Lg, Aq,
55 Erythrophleum fordii Oliv Lim xanh + Ph Lg, Đo
Bồ kết + Ph Lg, Aq,
Lim vang + Ph Lg, Lt
58 Saraca dives Pierre Vàng anh + Ph Ca, Lt
59 Drymaria diandra Blume Tù tì + + + Th Ra, Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
60 Alchornea rugosa Sói rừng + + Ch Lt
62 Garcinia cowa Roxb Tai chua + Ph Lg, Ra
63 G multiflora Champ ex Benth Dọc + Ph Ra, Lt
Bứa lá thuôn + Ph Aq, Lg
65 Argyreia acuta Lour Bạc thau lá nhọn + He Lt
67 Trichosanthes rubriflos Cayla Hồng bì + Ph Lt
68 Dillenia indica L Sổ bà + Ph Lg, Aq,
69 Tetracera scandens (L.) Merr Chạc chìu + + Ph Lt
71 Diospyros susarticulata Thị đốt cao + Ph Lg
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Muell.-Arg Đom đóm + + Ph Lg
Thàu táu + Ph Aq, Lt
74 A villosa (Lind.) Baill Tai nghé lông + Ph Lt
75 Breynia fruticosa (L.) Hook f Bồ cu vẽ + + Ph Lt
76 Antidesma bunius Chòi mòi tía + Ph Ra, Lt
77 B petelotii Merr sec Phamh Cù đề petelot + Ph
78 C longifolium (Blume) Endl ex Hassk
Lộc mại lá dài + Ph Ra, Lt
79 Cleistanthus myrianthus Cọc rào + + Ph Ra
80 Croton tiglium L Ba đậu + + Ph Lt
81 Phyllanthus emblica Me rừng + + Ph Aq, Lt
82 Glochidion eriocarpum Champ Bọt ếch lông + + + Ph Lt
83 Baccaurea ramiflora Dâu tiên + Ph Aq, Lt
84 Bridelia minutiflora Đỏm + + Ph Lg
85 Bridelia tomentosa Đỏm lông + Ph Ra, Lt
Ba soi tai + Ph Lt
Ba soi + + Ph Lg, Lt
88 Mallotus apelta (Lour.) Muell.- Bục trắng + Ph Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
89 M barbatus Muell.-Arg Bùng bục + + Ph Lt
90 Bischofia javanica L Nhội + + Ph Aq, Lt
91 Sapium discolor L Sòi tía + + Ph Lt
93 Phyllanthus reticulatus Poir Phèn đen + Ph Lt
94 Endospermum chinense L Vạng trứng + + Ph Lg
95 Flemingia macrophylla L Hàm xì + Ph Lt
96 Ormosia balansae Drake Ràng ràng mít + Ph Lg
97 Pueraria montana (Lour.) Merr Sắn dây rừng + + He Lt
99 Millettia ichthyochtona Drake Thàn mát + Ph Đo, Lt
101 C indica (Roxb.) A DC Dẻ gai Ấn Độ + Ph Lg, Ra
102 Casearia balansae Gagnep Chìa vôi + Ph Lt
103 Xylosma longifolium Clos Mộc hương lá dài + Ph Lt
104 Aesculus assamica Griff Kẹn + Ph Lg, Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
105 Dichroa febrifuga Lour Thường sơn + Ch Lt
Thành ngạnh nam + + Ph Lt
107 C pruniflorum (Kurz) Kurz Đỏ ngọn + + Ph Lg, Lt
Chẹo Ấn độ + Ph Lg, Đo
109 Pterocarya stenoptera C DC Cơi + Ph Lg, Đo
110 Salvia plebeia R Br Xôn dại + + + Th Lt
111 Teucrium viscidum Blume Tiêu kỳ dính + + + He Lt
Kháo nhớt + Ph Lg, Td
114 Machilus bonii Lecomte Kháo vàng + Ph Lg , Lt
115 Litsea cubeba (Lour.) Pers Màng tang + + + Ph Td, Lg
116 Melastoma candidum D Don Mua vảy + + Ph Lt
117 M dodecandrum Lour Mua lùn + + Ph Lt
118 Osbeckia chinensis L Mua tép + + + He Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
119 Melia azedarach L Xoan + Ph Lg, Lt,
Mán đỉa + Ph Lg, Lt
45 MOLLUGINACEAE HỌ CỎ BỤNG CU
121 Mollugo pentaphylla L Cỏ bụng cu + + + He Lt
122 Antiaris toxicaria (Pers.) Lesch Sui + Ph Lg, Lt
Chay Bắc bộ + Ph Lg, Lt
125 Ficus fulva L Ngoã lông + Ph Lg, Aq
126 F rasemosa L Sung + Ph Lt, Aq
127 Artocarpus styracifolius L Vỏ đỏ + + Ph Lg, Lt
Smith Đa lá lệch + Ph Lt, Ra
129 F simplicissima Lour Vú bò đơn + + + Ph Lt
130 F tinctoria Forst f Sung bầu + + Ph Lt
131 F vasculosa Wall ex Miq Đa bóng + Ph Lg, Ca
132 Streblus ilicifolius (Vidal) Corn Ruối ô rô + Ph Lt, Ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
134 K pierrei Warb Máu chó lá lớn + Ph Lg
135 Ardisia quinquegona Blume Cơm nguội năm cạnh + + Ph Lt
136 A silvestris Pitard Lá khôi + Ch Lt, *
137 Maesa balansae Mez Đơn nem lá to + + + Ph Ra, Lt
138 Embelia laeta (L.) Mez Chua ngút + + Ph Lt
139 M perlarius (Lour.) Merr Đơn nem + + Ph Ra, Lt
140 Myrsine seguinii Levl Mặt cắt + + Ph Lt
141 Rhodomyrtus tomentosa Hassk Sim + + Ph Aq, Lt
142 Psidium guajava L Ổi + Ph Aq, Lg
143 Jasminum funale Decne Nhài dây + + Ph Lt
144 J nervosum Lour Nhài gân + + Ph Lt
145 Ligustrum pricei Hayata Râm cuống + Ph Lg
146 Portulaca oleracea L Rau sam + + + Th Ra, Lt
147 P quadrifida L Sam nhỏ + + + Th Ca, Lt
148 Lysimachia decurrens Forst f Trân châu đứng + + + He Lt
149 Heliciopsis lobata (Merr.) Đìa đụn (mạ sưa) + Ph Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Dây vằng trắng + + Ph Lt
151 Ventilago leiocarpa Benth Đồng bìa trái láng + + Ph Lt
152 Morinda citrifolia L Nhàu lá chanh + Ph Lt
153 M offficinalis How Ba kích + + Ph Lt
154 Mussaenda pubescens L Bướm bạc lông + + Ch Lt
155 Hedyotis capitellata L Dạ cẩm + + Ch Lt
156 Gardenia augusta L Dành dành + Ph Ca, Lt
158 Psychotria rubra Poir Lấu đỏ + + Ph Lg, Lt
159 Randia spinosa (Thunb.) Poir Găng gai + + Ph Lt, Đo
160 Aidia oxyodonta L Găng răng nhọn + Ph
161 Canthium horridum L Găng vàng gai + Ph Lt, Ra
162 Neolamarckia cadamba L Gáo trắng + Ph Lg, Lt
164 Geophila repens L Rau má núi + Ch Lt
165 Hymenodictyon orixense Mabb Vỏ dụt + Ph Lg, Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hồng bì + Ph Ra, Lt
168 Z.avicennae DC Muồng truổng + Ph Td
169 Euodia meliaefolia L Ngô thù lá xoan + Ph Td
171 Micromelum falcatum Tanaka Trẩn trắng + Ph Lg
172 Euodia lepta Hemsl Xẻ ba + Ph Lt
173 Zanthoxylum nitidum A.DC Xuyên tiêu + Ph Lt
Mật sạ lá đơn + Ph Lg
175 Nephelium cuspidatum Blume var Bassacense (Pierre) Leenh
Vải rừng + + Ph Lg, Aq
177 Helicteres hirsuta Lour Tổ kén lông + + Ph Lt
Lòng mang lá nhỏ + + Ph Lg, Lt
179 P jackianum Wall Lòng mang tía + Ph Lg, Lt
180 P truncatolobatum Gagnep Lòng mang lá cụt + Ph Lg, Lt,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
181 Sterculia lanceolata Cav Sảng + Ph Lg, Lt
Lá dương đỏ + + Ph Lg,*
183 Styrax annamensis Guillaum Bồ đề trung bộ + + Ph Lg
Bồ đề trắng + + Ph Lg, Lt
185 Grewia glabra Blume Cò ke láng + + + Ph
186 G paniculata Roxb Cò ke + Ph Lt
187 Celtis sinensis Pers Sếu + Ph Lg, Ls
188 Gironniera subaequilis Planch Ngát vàng + Ph Lg
189 Trema orientalis (L.) Blume Hu đay + + Ph Ls, Lt
Thuỷ ma lá mua + He Lt
191 P plataniflora Wright Thạch cân thảo + He Lt
Bọ mắm rừng + + Ph Lt
193 P zeylanica (L.) Benn Bọ mắm + + + He Lt
65 VERBENACEAE HỌ CỎ ROI NGỰA
194 Callicarpa arborea L Bông nạc + Ph Lg, Lt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
196 Gmelina arborea L Lõi thọ + Ph Lg, Lt
197 C paniculatum L Mò đỏ + + Ph Lt, Ca
198 C philippinum L Mò mâm xôi + Ph Ra, Lt
199 C villosum Blume Ngọc nữ lông + + Ph Ca
200 Callicarpa bodinieri L Tử châu + Ph Lt
201 Viola inconspicua Blume Hoa tím ẩn + + He Lt, Ra
Ráy leo lá xẻ + He Lt, Ca
203 Commelina communis L Trai thường + + He
69 CONVALLARIACEAE HỌ MẠCH MÔN ĐÔNG
204 Aspidistra typica Baill Hoa trứng nhện + He
206 Musa acuminata Colla Chuối hoang nhọn + + Cr Ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
208 Imperata cylindrica (L.) Beauv Cỏ tranh + + + He Lt
Cỏ lá tre + + He Ca
213 Smilax prolifera Roxb Khúc khắc đỏ + Cr Lt
Sa nhân tím + + Cr Lt, Td
215 A xanthioides Wall ex Baker Sa nhân ké + Cr Lt, Td
216 Alpinia conchigera Riềng gừng + + Cr Lt, Td
Aq: Cây ăn quả Ca: Cây làm cảnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Db: Cây cho dầu béo Lt: Cây làm thuốc Ls: Cây lấy sợi Đo: Cây có độc Lg: Cây lấy gỗ Ra: Cây rau ăn
Td: Cây có tinh dầu *: Cây có trong sách đỏ Việt Nam (2007)
- Cr (Cryptophytes): Cây chồi ẩn - Ch (Chamerophytes): Cây chồi sát đất
- He (Hemicryptophytes): Cây chồi nửa ẩn - Ph (Phanerophytes): Cây chồi trên đất
- Th (Therophytes): Cây sống 1 năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.2.3 Đa dạng thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật
Các nguy cơ gây suy giảm đa dạng sinh học ở KVNC
Ở Việt Nam, theo P.Maurand thì năm 1943 có 14,352 triệu ha rừng chiếm 43% diện tích đất nước [60]
Từ năm 1945 đến 1975, Việt Nam đã mất 3 triệu ha rừng, khiến tỷ lệ che phủ rừng giảm từ 43% (năm 1943) xuống còn 38% (năm 1975) Từ năm 1975 đến 1995, tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 28%, với tổng diện tích rừng chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha, trong đó có 1 triệu ha rừng trồng Hiện nay, diện tích rừng bị giảm ước tính khoảng 200.000 ha mỗi năm, trong đó 60.000 ha bị chặt để chuyển đổi thành đất nông nghiệp ngoài kế hoạch, 50.000 ha bị cháy và 90.000 ha bị khai thác làm gỗ củi.
Xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên diện tích rừng và tài nguyên sinh vật rừng cũng trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng từ năm
1945 – 1990 Diện tích rừng của xã năm 1945 khoảng 789 ha, có độ đa dạng sinh học cao gồm nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm như: Sến mật
Madhuca pasquieri, Chò nâu (Aquilaria crassna), Lim xanh (Erythrophleum fordii), Hổ (Panthera tigris), và Chồn bạc má (Megogale personats geeffrory) là những loài thực vật và động vật quý hiếm đang gặp nguy hiểm Đến năm 1990, diện tích rừng tự nhiên toàn xã chỉ còn 450 ha, giảm 339 ha so với năm 1945, tức là trung bình mỗi năm mất 7,5 ha rừng Sự suy giảm này không chỉ ảnh hưởng đến diện tích rừng mà còn dẫn đến sự biến mất của nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm.
Từ năm 1990 đến 2010, hiện tượng tàn phá rừng đã giảm đáng kể nhờ chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên của xã đạt 375 ha, giảm 75 ha so với năm 1990.
Từ năm 1945 đến 1950, chất lượng rừng có trữ lượng gỗ đạt khoảng 200 – 250 m³/ha, bao gồm nhiều loài gỗ quý như Sến mật (Madhuca pasquieri), Trầm hương (Aquilaria crassna), Chò nâu (Aquilaria crassna) và Gụ (Sindora).
Rừng hiện tại đang đối mặt với tình trạng suy giảm chất lượng nghiêm trọng, với trữ lượng gỗ trung bình chỉ khoảng 70m³/ha Các cây gỗ có đường kính từ 40 – 50 cm chỉ chiếm 3-5% tổng trữ lượng, trong khi cây có đường kính 20 – 25 cm và cây tái sinh đang gia tăng Rừng tre nứa cũng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng, với những cây tre có đường kính 15 – 18 cm và nứa 4-6 cm vẫn phổ biến Nhiều loài gỗ quý như Trầm hương và Chò nâu đã gần như biến mất khỏi khu vực này.
Rừng Ký Phú từng nổi bật với sự đa dạng của hơn 250 loài dược liệu, đồng thời cung cấp nhiều sản phẩm quý giá khác như nấm, mật ong, hoa lan và cánh kiến với trữ lượng phong phú.
Qua điều tra thực tế, hiện có 163 loài cây làm thuốc, trong khi mật ong, hoa lan và nấm quý vẫn còn hạn chế và cánh kiến thì không có Ngoài ra, nhiều loài động vật như Hổ, Chồn bạc má, Báo gấm, Hươu sao và Trĩ sao trước đây từng tồn tại nhưng giờ đã biến mất.
Diện tích và chất lượng rừng trong khu vực nghiên cứu suy giảm chủ yếu do dân số gia tăng, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép, cháy rừng và tỷ lệ nghèo đói cao.
4 3 1 Khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép
Khai thác nguồn lâm sản đang gây ra nhiều lo ngại cho tài nguyên rừng Việt Nam, đặc biệt là trong khu vực nghiên cứu Hành động này là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của rừng, làm giảm đa dạng hệ sinh thái, sự phong phú của các loài sinh vật, cũng như độ che phủ và chất lượng rừng Hậu quả của việc khai thác rừng không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động tiêu cực đến đời sống sinh vật và cây trồng.
Con người đã tác động và tàn phá tài nguyên rừng qua nhiều hình thức khác nhau Hoạt động khai thác lâm sản được phân chia thành ba loại chính: khai thác gỗ, khai thác củi, và khai thác lâm sản ngoài gỗ, mỗi loại phục vụ cho những mục đích cụ thể khác nhau.
Trong giai đoạn từ 1945 đến 1990, người dân trong khu vực đã khai thác gỗ trái phép với khối lượng trung bình khoảng 1500 m³ mỗi năm, tương đương với 7,5 ha rừng Từ năm 1991 đến 2010, toàn xã đã mất 75 ha rừng Việc khai thác gỗ chủ yếu phục vụ cho các công trình xây dựng như nhà ở, đồ gia dụng, giàn giáo và cốp pha Đặc biệt, với giá gỗ ngày càng tăng, nhu cầu khai thác gỗ để phục vụ mục đích kinh tế ngày càng gia tăng, dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng rừng.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, với khoảng 95% năng lượng cho gia đình đến từ sản phẩm thực vật Mỗi năm, khoảng 1000 m³ củi được khai thác từ rừng, đặc biệt ở vùng miền núi, nơi người dân có thói quen sử dụng củi với lượng lớn Với dân số hiện nay là 7611 người, nhu cầu về củi đốt đang gia tăng, gây ra lo ngại về tình trạng tàn phá rừng.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ gây tàn phá nghiêm trọng đến tài nguyên rừng, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy kiệt nhanh chóng của rừng Ngoài củi, lâm sản ngoài gỗ còn bao gồm các loài động vật quý hiếm, động vật hoang dã và nhiều loại thực vật cung cấp sản phẩm như song, mây, tre, nứa, lá cây thuốc và dầu Tất cả những nguồn tài nguyên này đều có thể bị khai thác một cách bừa bãi, ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học và sự bền vững của hệ sinh thái rừng.
Tình trạng khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam, đặc biệt là ở xã Ký Phú, huyện Đại Từ, đang diễn ra mạnh mẽ với sự gia tăng buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm từ động vật và thực vật quý hiếm Nhiều loài như hổ, báo, hươu, khỉ, và lợn rừng đã gần cạn kiệt, trong khi các loại cây như sến, trầm hương, và gụ cũng đang bị đe dọa Các loài động vật thông thường như tê tê, rùa, và ba ba đang bị săn bắt do giá trị xuất khẩu cao Hoạt động khai thác trái phép này diễn ra liên tục, khiến rừng không kịp phục hồi và dẫn đến suy thoái môi trường Theo thống kê từ Chốt kiểm lâm xã Ký Phú, trong 10 năm qua đã phát hiện 15 vụ vận chuyển trái phép với tổng khối lượng lên tới 17 m³ và 95 kg các loài động vật quý hiếm.
4.3.2 Sự suy giảm do cháy rừng
Cháy rừng là một nguyên nhân quan trọng gây suy thoái nhanh chóng tài nguyên rừng, ảnh hưởng đến sinh vật trên diện rộng và dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như xói mòn, lũ lụt và hạn hán Nguyên nhân của cháy rừng ngày nay rất đa dạng, bao gồm hiện tượng El Niño, hoạt động khai thác của con người như đốt lửa lấy mật ong, trẻ em đốt lửa sưởi ấm khi chăn thả gia súc, và việc đốt nương làm rẫy của người dân Tất cả những yếu tố này đều có khả năng gây ra cháy rừng.
Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Xã Ký Phú, thuộc khu vực vành đai vườn Quốc gia Tam Đảo, có 10 xóm với tổng cộng 2063 hộ và 7161 khẩu Năm xóm giáp rừng đang chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của người dân, như săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ và dược liệu, cũng như thu hái lâm sản khác Những hoạt động này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn dẫn đến suy thoái rừng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái địa phương.
Dựa trên kết quả điều tra, chúng tôi đề xuất một số biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật, đặc biệt là thực vật, tại xã Ký Phú.
4.4.1 Các biện pháp về chính sách
Tuyên truyền giáo dục cho người dân địa phương về pháp luật và pháp lệnh bảo vệ rừng của Chính phủ là rất quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức về vai trò to lớn của rừng đối với con người và môi trường sống Qua đó, giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn của rừng hiện nay
Chính sách trả tiền hỗ trợ bảo vệ rừng cho các hộ gia đình sẽ được phục hồi với mức 50.000 đồng/ha/năm, nhằm khuyến khích người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Các cấp chính quyền tỉnh và Trung ương cần xây dựng chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo điều kiện sống cho người dân Điều này sẽ giúp họ yên tâm hơn trong việc bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng.
4.4.2 Các biện pháp về quản lý, bảo vệ và phục hồi thảm thực vật
- Bảo vệ nghiêm ngặt những diện tích rừng hiện có, cấm khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và săn bắt động vật hoang dã trái phép
Người dân được phép khai thác lâm sản ngoài gỗ như củi, măng, nấm, mật ong và cây thuốc để phục vụ đời sống, nhưng phải tuân thủ sự kiểm soát chặt chẽ từ cơ quan kiểm lâm.
Để đề phòng và phòng chống cháy rừng, cần xây dựng chòi canh quan sát và thực hiện làm đường ranh giới Đồng thời, cấm việc đốt rừng để trồng chè ở khu vực gần rừng nhằm bảo vệ môi trường.
- Giao khoán rừng cho các cộng đồng địa phương, các cơ quan trong khu vực để họ có ý thức bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên rừng
Cần thiết phải thực hiện các biện pháp khảo sát và quy hoạch đồng cỏ chăn nuôi tại những vị trí thích hợp nhằm giảm thiểu áp lực từ gia súc như trâu, bò và dê thả rông vào rừng.
Chính quyền các cấp cần thực hiện các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn nạn khai thác vàng trái phép tại 5 xóm Chuối, Gió, Dứa, Cạn và Soi Đồng thời, cần nghiêm cấm việc đào bới đất rừng trái phép để khai thác quặng tại khu vực giáp ranh giữa rừng xã và rừng Quốc gia Tam Tảo, vì hoạt động này không chỉ làm suy giảm diện tích rừng mà còn gây ra những tác động nghiêm trọng đến môi trường sống xung quanh.
Việc trồng thêm các loại cây phù hợp như Keo lai và Keo lá tràm trong các khu rừng và thảm cây bụi không chỉ giúp cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương mà còn có tác dụng phòng hộ và cung cấp gỗ sử dụng.
4.4.3 Các biện pháp về kỹ thuật
Xác định các loài cây quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam và IUCN là rất quan trọng Dựa trên thông tin này, chúng ta có thể lựa chọn các biện pháp bảo tồn nguyên vị, bao gồm bảo tồn tại chỗ, nhằm bảo vệ các loài có giá trị sử dụng.
Bảo tồn nguyên vị là phương pháp duy trì thảm thực vật trong trạng thái tự nhiên và hoang dã, cho phép các loài sinh trưởng và phát triển theo quy luật chọn lọc tự nhiên Cách bảo tồn này mang lại hiệu quả cao nhờ vào việc giữ gìn môi trường sống tự nhiên cho các loài sinh vật.
Cách bảo tồn rừng tại xã Ký Phú chủ yếu dựa vào việc khoanh nuôi và giao đất cho từng hộ gia đình quản lý, giúp giảm thiểu tác động của con người lên thảm thực vật Tuy nhiên, việc phục hồi và phát triển của thảm thực vật diễn ra chậm, và con người không thể chủ động định hướng sự phát triển của các loài cây có giá trị kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu thảm thực vật và hệ thực vật xã Ký Phú, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1 Khu vực xã Ký Phú hiện có 5 trạng thái thảm thực vật là: Trạng thái thảm cỏ; thảm cây bụi; rừng thứ sinh nhân tác; rừng trồng và thảm cây trồng nông nghiệp
2.Hệ thực vật ở KVNC bước đầu đã thống kê được 216 loài, 170 chi, 75 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch (Thông đất, Mộc tặc, Dương xỉ, Mộc lan)
- Thành phần dạng sống trong 3 trạng thái thảm thực vật ở KVNC đều có
Có năm dạng sống cơ bản trong hệ sinh thái rừng: cây chồi trên đất (Ph), cây chồi sát đất (Ch), cây chồi nửa ẩn (He), cây chồi ẩn (Cr) và cây một năm (Th) Trong các trạng thái rừng thứ sinh, nhóm Ph chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,49%, tiếp theo là thảm cây bụi với 58,33% Đặc biệt, trong thảm cỏ, nhóm dạng sống He có tỷ lệ cao nhất, đạt 38,83%.