Một trong những nội dung quan trọng của trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn là tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao đ
Trang 1NGÔ THẾ HOÀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Thái Nguyên - 2012
Trang 2-
NGÔ THẾ HOÀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ GẤM
Thái Nguyên - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu một số giải pháp chủ yếu tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi Đề tài hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin sử dụng t rong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc, các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ , mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tác giả đề tài
Ngô Thế Hoàn
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện Phú Lương, Phòng Lao động Thương binh - Xã hội huyện Phú Lương, Chi cục Thống
kê huyện Phú Lương, phòng Nông nghiệp, phòng Kinh tế- Hạ tầng, trung tâm dạy nghề và huyện Đoàn Phú Lương; cấp ủy, chính quyền và các tổ chức xã hội các xã Yên Ninh, Sơn Cẩm, Tức Tranh, Ôn Lương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp và các thông tin hữu ích phục vụ nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2012
Tác giả
Ngô Thế Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục các biểu đồ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu 3
4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn 3
5 Những đóng góp của luận văn 3
6 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu việc làm 5
1.1.1.1 Việc làm 5
1.1.1.2 Tạo việc làm 10
1.1.1.3 Việc làm mới 10
1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tạo việc làm của lao động thanh niên nông thôn 11
1.1.2 Cơ sở khoa học về thanh niên 17
1.1.2.1 Khái niệm thanh niên 17
1.1.2.2 Thanh niên trong cơ cấu dân số 19
Trang 61.1.2.3 Dân số thanh niên phân theo khu vực nông thôn và thành thị 20
1.1.2.4 Tình hình lao động, việc làm của thanh niên nông thôn 20
1.1.2.5 Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 23
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 23
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 25
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 26
1.2.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam và các địa phương khác 27
1.2.2.1 Kinh nghiệm chung giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở Việt Nam 27 1.2.2.2 Kinh nghiệm cụ thể tại tỉnh Kiên Giang 28
1.2.2.3 Kinh nghiệm cụ thể từ các cán bộ đoàn chuyên trách 29
1.2.2.4 Những bài học kinh nghiệm về tạo việc làm cho TNNT Phú Lương 32
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.1.1 Nguồn số liệu thứ cấp 33
2.2.1.2 Nguồn số liệu sơ cấp 34
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 37
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 37
2.2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế 37
2.2.3.2 Phương pháp phân tích so sánh 38
2.2.4 Phương pháp SWOT 38
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 40
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 40
Trang 73.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.1.1 Vị trí địa lý 40
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình 40
3.1.1.3 Thời tiết, khí hậu 41
3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 42
3.1.2.2 Hệ thống kết cấu hạ tầng 43
3.1.2.3 Văn hoá - xã hội 44
3.1.3 Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn huyện 46
3.1.4 Đánh giá chung 48
3.1.3.1 Thuận lợi 48
3.1.3.2 Những điểm còn hạn chế 48
3.2 Thanh niên và lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 49
3.2.1 Đặc điểm thanh niên huyện Phú Lương 49
3.2.1.1 Dân số thanh niên phân theo khu vực nông thôn và thành thị 49
3.2.1.2 Lực lượng lao động thanh niên huyện Phú Lương 50
3.2.1.3 Lao động thanh niên theo độ tuổi 51
3.2.1.4 Lao động thanh niên theo giới tính 52
3.2.1.5 Chất lượng nguồn lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 54
3.2.2 Việc làm của thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 56
3.2.2.1 Tình trạng việc làm của lao động TNNT huyện Phú Lương 56
3.2.2.2 Công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 59
3.2.2.3 Mạng lưới tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 61
3.2.2.4.Công tác tư vấn, đào tạo và tạo việc làm cho lao động TN nông thôn 62
3.3 Thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 68
3.3.1 Thông tin chung về đối tượng điều tra 68
3.3.2 Vai trò trong gia đình của thanh niên nông thôn 71
3.3.3 Thực trạng đào tạo của đối tượng điều tra 72
Trang 83.3.4 Hiệu quả của tạo việc làm cho thanh niên nông thôn trong huyện 73
3.3.5 Ý kiến đánh giá về công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 75
3.3.6 Những vấn đề quan tâm của thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 77
3.3.7 Nguyện vọng về việc làm của thanh niên nông thôn huyện Phú Lương 79
3.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới việc tạo việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Phú Lương 79
3.4.1 Thiếu vốn cho sản xuất - kinh doanh 79
3.4.2 Chất lượng của lao động thanh niên nông thôn của huyện còn thấp 80
3.4.3 Chính sách hỗ trợ cho học nghề của nhà nước còn hạn chế 81
3.4.4 Thiếu các trung tâm dạy nghề đủ các điều kiện đảm bảo các điều kiện đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn 82
3.4.5 Điều kiện khó khăn của bản thân người học 82
3.5 Phân tích SWOT 83
3.5.1 Điểm mạnh (Strengths) 84
3.5.2 Điểm yếu (Weaknesses) 84
3.5.3 Cơ hội (Opportunities) 85
3.5.4 Thách thức (Threats) 85
3.6 Đánh giá chung 86
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 89
4.1 Quan điểm của huyện Phú Luơng và tỉnh Thái Nguyên về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 89
4.2 Một số giải pháp tạo việc làm cho TN nông thôn huyện Phú Lương 90
4.2.1 Tăng cường công tác tư vấn, định hướng, đào tạo nghề cho lao động thanh niên nông thôn 90
4.2.1.1 Quy hoạch phát triển ngành nghề đào tạo 90
4.2.1.2 Đào tạo nghề theo yêu cầu phát triển của SX và thị trường lao động 91
4.2.1.3 Đào tạo có liên kết với DN sản xuất trên địa bàn huyện, tỉnh 91
4.2.1.4 Nâng cấp chất lượng các cơ sở đào tạo 92
Trang 94.2.1.5 Hỗ trợ các cơ sở đào tạo 933
4.2.2 Tăng cường hoạt động hỗ trợ lao động thanh niên nông thôn 933
4.2.2.1 Hỗ trợ về vốn, các điều kiện cần thiết 933
4.2.2.2 Cung cấp thông tin học nghề và việc làm 944
4.2.3 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 955
4.2.3.1 Hỗ trợ kinh phí đào tạo, giáo dục định hướng 955
4.2.3.2 Vay vốn với lãi suất ưu đãi 966
4.2.4 Tăng cường hoạt động của Đoàn thanh niên 966
4.2.4.1 Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ Đoàn viên, Hội viên thanh niên về chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn 966
4.2.4.2 Thành lập trung tâm tư vấn, dạy nghề cho thanh niên nông thôn 977
4.2.4.3 Tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh của huyện, hình ảnh thanh niên, lao động thanh niên nông thôn của huyện; phối hợp đưa lao động đi lao động hợp tác quốc tế 977
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 988
1 Kết luận 988
2 Kiến nghị 999
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
KTTHHNDN : Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Dân số thanh niên so với dân số cả nước từ 2005 - 2011 20
Bảng 2.1 Số lượng thanh niên nông hộ được phỏng vấn 36
Bảng 3.1 Dân số và lao động huyện Phú Lương giai đoạn 2009 - 2011 43
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất của huyện Phú Lương giai đoạn 2009 - 2011 47
Bảng 3.3 Dân số thanh niên huyện Phú Lương phân theo nông thôn và thành thị 50 Bảng 3.4 Lao động huyện Phú Lương phân theo độ tuổi 52
Bảng 3.5 Thực trạng lao động thanh niên huyện Phú Lương phân theo giới tính 53
Bảng 3.6 Lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lươngphân theo trình độ
học vấn 54
Bảng 3.7 Lao động TNNT huyện Phú Lương phân theo trình độ chuyên môn 55
Bảng 3.8 Lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lương phân theo tình hình việc làm 56
Bảng 3.9 Lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lươngphân theo nhóm ngành 58
Bảng 3.10 Lao động thanh niên nông thôn tại các doanh nghiệp, làng nghề 62
Bảng 3.11 Kết quả công tác định hướng nghề nghiệp cho thanh niên 63
Bảng 3.12 Kết quả đào tạo nghề ngắn hạn cho TN huyện Phú Lương 63
Bảng 3.13 Kết quả tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT cho đối tượng thanh niên nông thôn giai đoạn 2009 - 2011 64
Bảng 3.14 Thông tin chung về đối tượng điều tra 69
Bảng 3.15 Thực trạng đào tạo của đối tượng điều tra 72
Bảng 3.16 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ được điều tra 75
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào các lĩnh vực SXKD 65
Biểu đồ 3.2 Số lượng thanh niên nông thôn xuất khẩu lao động 67
Biểu đồ 3.3 Vai trò của thanh niên trong gia đình 71
Biểu đồ 3.4 Đánh giá của thanh niên nông thôn về hiệu quả chương trình đào tạo, dạy nghề 73
Biểu đồ 3.5 Đánh giá của học viên thanh niên nông thônvề quá trình đào tạo 76
Biểu đồ 3.6 Mối quan tâm của thanh niên huyện Phú Lương 78
Biểu đồ 3.7 Nguyện vọng về việc làm của thanh niên nông thônhuyện Phú Lương 79
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Trong những năm qua, định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Một trong những nội dung quan trọng của trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn là tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động thanh niên nông thôn Lực lượng thanh niên lao động nông thôn hiện đang chiếm tới 51,5% tổng số thanh niên cả nước, trong đó có tới 94,7% lực lượng lao động này không có chuyên môn nghiệp vụ1 Vì vậy, vấn đề tạo việc làm cho thanh niên nông thôn có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, thanh niên Việt Nam có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm Điểm mạnh của lực lượng thanh niên là có thể vươn lên nắm bắt tri thức và tự do làm giàu bằng khả năng của mình, tuy nhiên cũng có những thách thức đặt ra cho thanh niên Việt Nam: đó là yêu cầu về chất lượng nguồn lao động khiến cho khả năng tìm việc trở nên thực sự khó khăn Mặt khác, kinh nghiệm các nước cho thấy, khi hội nhập WTO, ngành dễ bị tổn thương nhất là nông nghiệp và nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất là nông dân trong đó có lực lượng thanh niên Chính vì vậy, quan tâm đến vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập cho thanh niên nông thôn luôn là vấn đề mang tính cấp bách
Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, trên địa bàn huyện năm 2011 có 23.496 lao động thanh niên nông thôn chiếm 46,61% lực lượng lao động toàn huyện2 Với lực lượng lao động làm nông nghiệp là thanh niên chiếm một
tỷ lệ khá cao, vấn đề tạo việc làm cho thanh niên nông thôn là vấn đề cấp bách Trong khi đó, nhu cầu lao động trong sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm rõ rệt
do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, việc áp dụng các thành tựu
1 http://vov.vn/Home/Tao-nhieu-kenh-viec-lam-cho-thanh-nien-nong-thon/201010/158969.vov
2 Niên giám thống kê huyện Phú Lương năm 2011
Trang 14khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ngày càng nhiều và có hiệu quả Thêm vào đó, nguồn lực đất đai hạn chế do quá trình đô thị hóa và một số mục đích khác khiến diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, dẫn tới tình trạng dư thừa lao động trong nông thôn Vì vậy, vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động thanh niên nông thôn nói riêng là việc làm cấp thiết và cần phải
có những biện pháp giải quyết một cách hiệu quả
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp chủ yếu tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng việc làm của thanh niên huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, đề tài nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động thanh niên nông thôn; góp phần nâng cao mức sống cho thanh niên nông thôn; ổn định xã hội nông thôn; thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo của huyện Phú Lương đến năm 2015
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm phong phú thêm kinh nghiệm thực tiễn vấn đề lao động - việc làm của thanh niên nông thôn ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng
- Đánh giá thực trạng việc làm của lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Phú Lương
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 ở khu vực nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 153.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm từ năm 2009 đến năm 2011 Số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 3-4 /2012
- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu tại địa b àn nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu về thực trạng lao động thanh niên, số lượng lao động, chất lượng lao động, sự phân bố lao động, việc làm của thanh niên nông thôn huyện Phú Lương
4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn
- Giới hạn về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình lao động của
thanh niên nông thôn huyện Phú Lương, như: Nghiên cứu thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn Phú Lương, các chương trình tạo việc làm, công tác đào tạo nghề, tập huấn chuyển giao kỹ thuật để từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm tạo thêm việc làm cho lao động thanh niên nông thôn, hướng tới mục tiêu chung là phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Lương
Do hạn chế về thời gian, nên đề tài chưa đi sâu nghiên cứu được những yếu tố gây cản trở công tác đào tạo nghề, cũng như chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu nhu cầu của xã hội (các cơ sở sử dụng lao động) để đào tạo phù hợp hơn với nhu cầu xã hội
- Giới hạn về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên
- Giới hạn về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu thứ cấp qua các năm 2009
- 2011, số liệu sơ cấp tháng 3-4/2012
5 Những đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu khá toàn diện về việc làm, tình hình sản xuất nông thôn và năng lực tạo việc làm của thanh niên nông thôn ở huyện Phú Lương Do đó, đề tài là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Làm cơ
sở để các cơ quan quản lý đề xuất các chính sách phù hợp nhằm định hướng và tạo việc làm cho lao động thanh niên nông thôn huyện Phú Lương nói riêng và tỉnh Thái Nguyên
Trang 16Đề tài giúp cho người thanh niên có những hiểu biết thêm về các hoạt động lao động sản xuất trên địa bàn huyện Từ đó, họ có thể lựa chọn một phương thức lao động sản xuất phù hợp nhất với năng lực của bản thân
Đồng thời, đề tài sẽ là tài liệu giúp cho cấp ủy, chính quyền và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho thanh niên nông thôn huyện một cách phù hợp
Góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn nhằm thực hiện hiệu quả chương trình phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo của huyện Phú Lương đến năm 2015
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng việc làm của lao động thanh niên nông thôn huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu tạo việc làm cho thanh niên nông thôn
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 17a Khái niệm về việc làm
Có nhiều quan niệm về việc làm:
- “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” (Trần Xuân Cầu, 2010)
- “Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” (Mạc Văn Tiến, 2005)
Điều 13, Chương II, Bộ Luật lao động và Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động - 2006 có ghi: “Việc làm là những hoạt động có ích, tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm” (Luật Thanh niên, 2006)
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm : “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật” (Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2006)
Cho dù có nhiều quan niệm về việc làm, song việc làm là dành cho con người và do con người thực hiện với các điều kiện vật chất, kỹ thuật tương ứng hay
đó chính là nhu cầu sử dụng sức lao động của con người
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Thông qua việc làm, người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người họ
Trang 18Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau Trước đây người ta cho rằng chỉ
có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong biên chế Nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không
có việc làm ổn định Với những quan niệm đó nên người lao động cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp này Nhưng hiện nay quan điểm ấy không tồn tại nhiều trong số những người đi tìm việc làm Lực lượng lao động này sẵn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao động của họ được Nhà nước khuyến khích, không ngăn cấm và đem lại thu nhập cao cho họ
Như chúng ta đã biết, hai phạm trù việc làm và lao động có liên quan với nhau và cùng phản ánh một loại lao động có ích của một người, nhưng hai phạm trù
đó hoàn toàn không giống nhau vì: Có việc làm thì chắc chắn có lao động nhưng ngược lại có lao động thì chưa chắc đã có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao động đang làm
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi
là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
b Phân loại việc làm
* Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động
Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian
nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật
Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời
gian nhất sau công việc chính
* Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động
- Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người
đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân
Trang 19và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm Trên thực tế, nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp và thu nhập thấp Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ xung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ
Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay quy định 8 giờ một ngày) mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động
Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ
- Thiếu việc làm: là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp
Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu
Theo Tổ chức Lao động Thế giới thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau:
+ Thiếu việc làm vô hình: là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủ
thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhưng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều và thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn
+ Thiếu việc làm hữu hình: là hiện tượng người lao động làm việc thời gian ít hơn
thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc
- Thất nghiệp: Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp Thất
nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tích cực tìm việc làm (Trần Xuân Cầu, 2010)
Trang 20Thất nghiệp được chia thành các loại sau:
+ Xét về nguồn gốc thất nghiệp, có thể chia thành: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ
Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống
Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, việc làm Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động
Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không
ổn định Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ
+ Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm: thất nghiệp
tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện
+ Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình
Thất nghiệp hữu hình: Xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường
Thất nghiệp vô hình: Hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển Họ là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất
c Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Đối với từng cá nhân, có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân
Trang 21Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân Thực tế cho thấy, những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ) Thất nghiệp sẽ làm mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao mòn và mất đi kiến thức, kỹ năng vốn có
Đối với nền kinh tế, lao động là một trong những nguồn lực quan trọng nhất,
là đầu vào không thể thay thế, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân Nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu về việc làm cho từng cá nhân nhằm duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và tăng trưởng kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động
Đối với xã hội, mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội
Vì vậy, vấn đề việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội cả về mặt tích cực và tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển
do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, giảm thiểu các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ… Ngược lại, khi nền kinh
tế không đảm bảo đáp ứng nhu cầu về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người có nhu cầu lao động, ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội Ngoài ra, không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn
và ảnh hưởng đến tình hình chính trị
Vai trò việc làm đối với từng cá nhân đối với phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội là rất quan trọng Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi nhà nước và từng địa phương phải có những chiến lược, kế
hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này
Trang 221.1.1.2 Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ
mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Vì vậy, tạo việc làm không chỉ
là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội
Việc hình thành việc làm thường là sự tác động đồng thời giữa ba yếu tố:
- Nhu cầu thị trường
- Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ
+ Người lao động (sức lực và trí lực)
+ Công cụ sản xuất
+ Đối tượng lao động
- Môi trường xã hội: Xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội
Có thể mô hình hoá quy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
Y = f (C,V,X,…) Trong đó: Y: Số lượng việc làm được tạo ra
C: Vốn đầu tư V: Sức lao động X: Thị trường tiêu thụ sản phẩm…
Trong đó, quan trọng nhất là các yếu tố đầu tư © và sức lao động (V) Hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất Mối quan hệ giữa C và V phụ thuộc vào tình trạng công nghệ và tồn tại dưới dạng khả năng Để chuyển hoá khả năng đó thành hiện thực đòi hỏi những điều kiện nhất định Đó là những điều kiện kinh tế,
xã hội, thông qua hệ thống các chính sách của Nhà nước như chính sách thu hút người lao động, qua việc phát triển các ngành nghề, chính sách vay vốn,…
1.1.1.3 Việc làm mới
Khái niệm việc làm thường gắn với chỗ làm việc bởi vì mỗi công việc cụ thể phải có môi trường làm việc nhất định Như thế việc làm tạo ra những chỗ làm việc
Trang 23mới cũng hàm ý với việc tạo ra việc làm mới Việc làm mới bao gồm những công việc đòi hỏi kỹ năng và những việc làm được tạo thêm cho người lao động Đối với những công việc mới này cần phải có sự thay đổi kỹ năng lao động thông qua đào tạo, còn đối với những việc làm được tạo thêm (tăng lượng cầu lao động) đồng nghĩa với việc tạo thêm những chỗ làm việc mà không yêu cầu phải thay đổi kỹ năng của người lao động
Như vậy, việc làm mới là phạm trù nói lên sự tăng lượng cầu về lao động, nó được thể hiện dưới hai dạng: Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao động mới và những chỗ làm việc mới được tạo thêm, song không đòi hỏi sự thay đổi về kỹ năng của người lao động (Trần Xuân Cầu, 2010)
1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tạo việc làm của lao động thanh niên nông thôn
a Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là toàn bộ những tư liệu vật chất cần thiết ch o sản xuất của con người; bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong sản xuất nông nghiệp, tư liệu sản xuất là đất đai, vốn, máy móc, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực con người, nguồn lực sinh học và các phương tiện hoá học Trong đó, yếu tố năng lực bản thân của người lao động đất đai và vốn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tạo việc làm
* Năng lực bản thân của người lao động
Sức lao động cũng là yếu tố quan trọng của quá trình tạo việc làm, sức lao động là khả năng trí lực, thể lực của con người Đó là tri thức, sức khoẻ, kỹ năng, kinh nghiệm, truyền thống, bí quyết công nghệ,…
Theo C.Mác: “Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất”
Nói đến sức lao động ta phải nói đến số lượng và chất lượng lao động Nếu một người lao động có sức khoẻ tốt, có đầu óc suy nghĩ thông minh, sáng tạo thì hẳn công việc mà họ được giao sẽ được hoàn thành tốt, sản phẩm mà họ tạo ra đảm bảo yêu cầu chất lượng
Để tạo việc làm cho người lao động thì sức lao động là yếu tố quan trọng nhất Mỗi công việc được thực hiện khi có con người có đủ sức lao động
Trang 24Ở nông thôn, kiến thức chuyên môn cũng như xã hội đều thấp nên việc tiếp cận thông tin kinh tế - khoa học xã hội chậm Điều đó ảnh hưởng lớn đến việc làm của chính họ Chính vì vậy, tạo việc làm cho người lao động nông thôn cần phải cân nhắc tính toán kỹ nếu không sẽ gây tổn thất nặng nề và để tạo việc làm có hiệu quả cần thiết phải bồi dưỡng kiến thức cho họ
Bên cạnh đó, trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ có tác động rất lớn đến cơ hội việc làm của thanh niên, những thanh niên có tay nghề, có trình độ sẽ có nhiều cơ hội lựa chọ việc làm và có thu nhập cao, có điều kiện thăng tiến Tuy nhiên, trên địa bàn cả nước đến năm 2009 có 90% thanh niên nông thôn chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật (có bằng chứng chỉ nghề trở lên), 2,2% có trình độ sơ cấp, 4,2% có trình độ trung cấp và 3,3% có trình độ cao đẳng trở lên Do đó việc làm cần thiết hiện nay là nâng cao tỷ lệ đào tạo cho lao động nói chung trong đó có lao động thanh niên
Ngày nay, để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì nhu cầu về nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao rất lớn, mặt khác yêu cầu này gây ra sức ép lớn đối với lao động có trình độ thấp Vì vậy, nhu cầu đào tạo nguồn lao động có trình độ văn hoá, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của công việc mới tăng cao được kết hợp với việc áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra những việc làm hợp lý Ngược lại, nếu những chính sách tạo việc làm của Nhà nước cho người lao động không phù hợp với yêu cầu của công việc mới chương trình tạo việc làm sẽ không đạt hiệu quả cao
* Đất đai: là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất
Đất đai trong nông nghiệp có đặc điểm: ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất là vô hạn Mỗi quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và
tỷ lệ ruộng đất trong nông nghiệp ở mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nước Với nước ta, mặc dù đất chật người đông nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá lớn là 9.345,4 nghìn ha chiếm 29,4% tổng diện tích đất cả nước; đất lâm nghiệp
Trang 25có rừng là 11.575,4 nghìn ha chiếm 35,15% tổng diện tích đất cả nước so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34% Tuy nhiên đất chưa sử dụng (có cả sông ngòi) còn rất nhiều 1.027,3 nghìn ha, chiếm 30,4% Diện tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi đơn vị diện tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con người và thị trường thế giới Chính việc sử dụng đất hợp
lý kết hợp với sử dụng nguồn lực con người sẽ tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho người lao động với việc tăng sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, nó khác tư liệu sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất nếu sử dụng hợp lý
Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp Mỗi một vùng có vị trí địa lý khác nhau Do vậy, để có việc làm cho người lao động nông thôn thì Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích họ đồng thời đưa ra những giải pháp tăng sức sản xuất của ruộng đất, làm tăng số lần quay vòng của đất
* Vốn: vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao
động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Vốn sản xuất nông nghiệp mang đặc điểm sau:
Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng vốn gặp nhiểu rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn
Một bộ phận sản phẩm nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp Do vậy, một phận vốn được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật
Đối với người nông dân, đặc biệt là những người dân nghèo thì vốn là yếu tố quan trọng và cần thiết để tiến hành sản xuất Để tạo việc làm cho người lao động, nguồn vốn được huy động chủ yếu từ trợ cấp, từ các quỹ, các tổ chức tín dụng
Khi số lượng việc làm được tạo ra nhưng nó có được chấp thuận hay không còn tuỳ thuộc vào thị trường tiêu thụ Bởi vì, nếu sản phẩm sản xuất ra mà không
Trang 26được thị trường chấp nhận thì quy mô lớn đến đâu, máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu thì đơn vị sản xuất cũng không thể tồn tại Do đó, khi tạo việc làm cho người lao động cần phải biết cung - cầu lao động trên thị trường, số người thiếu việc làm,
số người không có việc làm để tạo việc làm cho người lao động vừa đủ
Ngoài các yếu tố đất đai, vốn, sức lao động, thị trường lao động, còn có yếu
tố quan trọng nữa đó là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật: hệ thống thuỷ lợi, hệ thống đường giao thông, điện, thông tin liên lạc, cơ sở chế biến… Hệ thống này là yếu tố gián tiếp góp phần tạo ra việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm Việc phát triển cơ
sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân cư sẽ tạo khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm trong từng cộng đồng
b Nhân tố dân số
Dân số là yếu tố chủ yếu của quá trình phát triển, dân số vừa là chủ thể vừa
là khách thể của xã hội, vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng Vì vậy, quy
mô, cơ cấu và chất lượng dân số ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, ảnh hưởng đó là tích cực hay tiêu cực tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa tốc độ phát triển dân số với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước trong mỗi thời kỳ Do quy mô dân số lớn, tốc độ tăng cao đã làm quy mô số người trong độ tuổi lao động có khả năng tăng cao Quy mô dân số đông, nguồn lao động dồi dào, đó là sức mạnh của quốc gia, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất Nhưng đối với nước ta - nước đang phát triển, khả năng mở rộng và phát triển sản xuất còn có hạn, nguồn vốn, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu còn thiếu thốn, nguồn lao động đông và tăng nhanh lại gây sức ép về việc làm rất lớn Mỗi năm phải tạo thêm từ 1 triệu - 1,2 triệu chỗ làm việc chưa kể số sinh viên sắp ra trường,
số người làm việc nội trợ thì số người chưa có việc làm hàng năm là rất lớn
Ngoài ra, để đảm bảo đủ việc làm cho người lao động trong nông thôn, tận dụng hết quỹ thời gian lao động cần có thêm hơn 7 triệu chỗ làm việc
Rõ ràng dân số đang tăng nhanh gây sức ép về việc làm rất lớn, mặc dù nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn để phát triển kinh tế nhưng để tạo việc làm
Trang 27cho người lao động không phải đơn giản mà kéo theo tài chính, tín dụng, tư liệu sản xuất… trong khi ngân sách nước ta còn hạn hẹp Ngay từ năm 2000 Đảng và Nhà nước ta đã có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong đó nhân tố dân số đã được coi trọng
c Nhân tố giáo dục và công nghệ
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của đất nước đó, trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nước nào đó sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nước còn rất non yếu Sự non yếu thể hiện ở chỗ thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề Điều đó đã ảnh hưởng tới việc áp dụng các thành tựu khoa học, không có sự lựa chọn nào khác hoặc là đào tạo các nguồn lực quý giá cho đất nước phát triển hoặc phải chịu sự tụt hậu so với thế giới
Giáo dục và đào tạo cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi có trong tay kiến thức về xã hội, về trình độ chuyên môn người lao động sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Như vậy, giáo dục và đào tạo nhằm định hướng phát triển kinh tế - xã hội, trước hết cung cho xã hội một đội ngũ lao động đủ về số lượng, chất lượng và sau là phát huy hiệu quả để đảm bảo thực hiện xã hội: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Bên cạnh sự đảm bảo nguồn lực về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc thì việc phát triển công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc đưa đất nước trở thành nước công nghiệp Công nghiệp hoá với xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc
Ngày nay, để công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì việc thiếu lao động có trình độ
Trang 28chuyên môn hoá cao và thừa lao động trình độ thấp rất nhiều gây ra sức ép việc làm lớn Nếu bên cạnh việc nâng cao trình độ cho người lao động mà kết hợp với việc
áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra những chỗ làm việc hợp lý Ngược lại, nếu Nhà nước có những chính sách tạo việc làm cho người lao động mà họ thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức chuyên môn thì chương trình tạo việc làm sẽ không đạt hiệu quả nữa
d Chính sách lao động và việc làm trong xã hội
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng cơ hội để lực lượng lao động của toàn xã hội tiếp cận được việc làm Ngoài ra chính sách việc làm còn bao gồm các giải pháp trợ giúp các loại đối tượng đặc biệt (cho người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương…) có cơ hội và đều được làm việc
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội nhằm giải quyết một vấn đề xã hội vừa cấp bách trước mặt hiện nay vừa cơ bản lâu dài ở mỗi nước là đảm bảo việc làm, đời sống cho lao động toàn xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi đang tồn tại tỷ người chưa có việc làm, thiếu việc làm khá cao
Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) thì khả năng tìm việc làm đối với người lao động có trình độ thấp lại càng khó Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo chỗ làm việc mới; mặt khác phải tránh cho người lao động đang làm việc lâm vào thất nghiệp Ngoài ra, phải có hệ thống bảo hiểm cho người lao động khi họ thất nghiệp
Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải được chú ý, đó là đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ sở Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có cơ hội chủ động tìm kiếm việc làm, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, tránh thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều việc làm với thu nhập thấp Đồng thời cũng chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khiến cho tình trạng thất nghiệp trở
Trang 29thành vấn đề xã hội gay cấn Cần gắn tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh nghiệp trong chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương thức và biện pháp tạo việc làm lại mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến những vẫn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ Vì thế bất cứ chính sách kinh tế nào của Nhà nước cũng đều có ảnh hưởng và tác động đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.2 Cơ sở khoa học về thanh niên
1.1.2.1 Khái niệm thanh niên
Thanh niên là khái niệm được sử dụng nhiều trong công tác cũng như trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau Tùy theo trường hợp, có khi thanh niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại dùng để chỉ tính cách, phong cách trẻ trung của người nào đó, có khi lại dùng để chỉ cả một lớp người trẻ tuổi
Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học ; tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về
thanh niên
Về mặt sinh học , thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người , bởi từ đây các em bước sang một giai đoạn mới để trở thành người
lớn, người trưởng thành
Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý
lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác
Từ góc độ xã hội học , thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa - thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò cá nhân
qua các hoạt động độc lậ p với tư cách đầy đủ của một công dân , là một trong các
chủ thể của các quan hệ xã hội
Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng
lao động xã hội hùng hậu , là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động
Trang 30trên các lĩnh vực sản xuất…
Đặc điểm chung về mặt sinh học của thanh niên là giai đoạn kết thúc tuổi thiếu niên, đạt tới đỉnh cao của sự trưởng thành Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển của cá thể con người Xác định giai đoạn này thường được biểu hiện một cách tập trung ở việc xác định độ tuổi thanh niên Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội , đặc điểm của từng thời đại lịch sử , các yếu tố truyền thống của từng quốc gia , dân tộc,… mà quy định về độ tuổi thanh niên có sự khác nhau giữa các quốc gia Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới quy định độ tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 tuổi; nhưng tuổi kết thúc có khác nhau khá nhiều Có nước quy định là 25 tuổi (hầu hết các nước phương Tây ), có nước quy định là 30 tuổi (Philippin, Hà Quốc… ), nước khác lại quy định là 35 tuổi (Án Độ , Maldives…),
Trung Quốc là 28 tuổi
Ở nước ta, Theo Luật Thanh niên 2009, “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ
16 tuổi đến 30 tuổi”
Tuỳ theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp người ta chia thanh niên thành các nhóm đối tượng khác nhau: Thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, thanh niên trong lực lượng vũ trang Như vậy, có thể hiểu thanh niên nông thôn là những người thanh niên sinh sống ở khu vực nông thôn
Với những đặc tính của thanh niên , Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đã khái quát : “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn khẳng định mình Song do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên thanh niên cần được sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội…” Bên cạnh những mặt tích cực, Nghị quyết cũng chỉ rõ “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm
Trang 31sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc Học vấn của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng hội nhập quốc tế Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Tỷ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao” (Luật Thanh niên, 2009)
1.1.2.2 Thanh niên trong cơ cấu dân số
Dân số trung bình cả nước năm 2011 ước tính 87,84 triệu người, tăng 1,04%
so với năm 2010, bao gồm: Dân số nam 43,47 triệu người, chiếm 49,5% tổng dân số
cả nước, tăng 1,1%; dân số nữ 44,37 triệu người, chiếm 50,5%, tăng 0,99% Dân số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số cả nước, tăng 2,5%
so với năm 2010; dân số khu vực nông thôn 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, tăng 0,41% Đó là số liệu mà Tổng cục Thống kê vừa công bố Dự báo, trong năm 2012, dân số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 88 triệu người Việt Nam trở thành nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (Sau Inđônêxia và Philippin) và đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới Trong 10 năm qua, dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong thời kỳ giữa hai cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009 là 1,2%/năm, giảm mạnh so với thời kỳ 10 năm trước 1989-1999 (mỗi năm tăng gần
1200 nghìn người với tỷ lệ tăng hàng năm là 1,7%) Đây là thời kỳ có tỷ lệ tăng dân
số thấp nhất trong vòng 50 năm qua Dân số thanh niên từ Tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc năm 2009 là 23.871.354 người chiếm 27.8% dân số cả nước Dân
số thanh niên từ 2005 đến 2011 biến động không lớn từ 22-24 triệu, chiếm từ 27 - 28% dân số cả nước
Trang 32Bảng 1.1 Dân số thanh niên so với dân số cả nước từ 2005 - 2011
Quá trình đô thị hoá , công nghiệp hoá tác động không nhỏ làm cho cơ cấu dân số thanh niên thay đổi theo xu hướng tăng dần số lượng thanh niên làm ăn sinh sống ở khu vực đô thị Dân số thanh niên nông thôn giảm dần , nhưng mức độ giảm nhẹ từ 1999 đến 2006 và giảm mạnh từ 2007 đến nay Năm 1999 dân số thanh niên sinh sống ở khu vực nông thôn là 75%, năm 2005 là 74,8%, năm 2007 là 74,4%, năm 2008 là 72,7% và năm 2009 là 68,8% (Phạm Ngọc Anh, 2012)
Số liệu trên cho thấy tín hiệu đáng mừng của công cuộc chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất, thương mai và dịch vụ Tuy nhiên, cũng đề ra nhiều thách thức khó khăn và nhiều vấn đề cần phải giải quyết như việc làm, nhà ở, Mặc dù số lượng thanh niên sống ở khu vực nông thôn có giảm , nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao, điều đó đặt ra thách thức rất đối với các cấp, các ngành trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
1.1.2.4 Tình hình lao động, việc làm của thanh niên nông thôn
Thanh niên nông thôn có tỷ lệ cao trong tổng số thanh niên cả nước, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế ở nông thôn và thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trang 33Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc năm 2009, số lượng thanh niên nông thôn là 16.429.584 người, chiếm 68,8% trong tổng số thanh niên cả nước và chiếm 27,2% dân số nông thôn Kết quả điều tra lao động và việc làm từ
2007 đến nay cho thấy , số lượng thanh niên nông thôn có xu hướng giảm , nhưng vẫn chiếm tỷ lệ tương đối cao Năm 2007 số lượng thanh niên nông thôn chiếm 74,4% dân số thanh niên, năm 2008 còn 72,7% và năm 2009 giảm xuống còn 68,8% dân số thanh niên cả nước Nguyên nhân giảm có nhiều, nhưng chủ yếu là do quá trình đô thị hoá và chuyển dịch lao động trả từ nông thôn đến đô thị và các khu công nghiệp, khu chế xuất (UBND Huyện Phú Lương, 2011)
* Lao động thanh niên nông thôn: Kết quả điều tra lao động và việc làm toàn
quốc năm 2009 cho thấy, có 12.196.501 thanh niên nông thôn tham gia hoạt động kinh tế, chiếm 74% trong tổng số thanh niên nông thôn và 50% lực lượng lao động trong nông nghiệp Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của cả nước trong những năm qua theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng dần lao động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, nên lao động trẻ ở nông thôn có biến đổi theo Năm 2005 có 64,2% thanh niên nông thôn làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản đến năm 2009 giảm xuống còn 59,1%; lao động thanh niên nông thôn trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 21,3% năm 2005 lên 24,1% năm 2009; lao động thanh niên nông thôn trong lĩnh vực dịch vụ tăng từ 14,6% năm 2005 lên 16,8% năm 2009 (UBND Huyện Phú Lương, 2011)
* Về việc làm: Kết quả điều tra tình hình lao động và việc làm năm 2005 đến
năm 2009 cho thấy, số thanh niên nông thôn có đủ việc làm ngày càng tăng Năm
2005 có 87,4% thanh niên nông thôn có đủ việc làm đến năm 2009 tăng lên là 93,3%; tình hình thiếu việc làm năm 2009 là 3,6% (giảm 3,7% so với năm 2005); thất nghiệp là 3,1% (giảm 2,2% so với năm 2005) Tuy nhiên, vấn đề lao động và việc làm của thanh niên ở một số nơi là vấn đề xã hội bức xúc, trọng tâm là những địa bàn thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp hoặc đô thị hoá Kết
Trang 34quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu thanh niên năm 2008 và năm 2009 cho thấy, các vấn đề của thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất nông nghiệp là: Thiếu việc làm (81,5%), không được đào tạo nghề (68,1%), bỏ học giữa chừng (56,2%) tăng tệ nạn xã hội (36%) Những vấn đề khó khăn của thanh niên nơi thu hồi đất là: Trình độ học vấn thấp nên không có cơ hội việc làm (68,4%); không còn đất để canh tác (53,13%), thiếu kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh (26,5%), thiếu thông tin về thị trường lao động (23,3%), khó tiếp cận các nguồn vốn để tự tạo việc làm (22,3%) Lực lượng lao động lớn, trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp thấp, khả năng thích ứng với điều kiện hội nhập thấp… là những đặc điểm cơ bản của thanh niên nông thôn ngày nay
1.1.2.5 Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
Muốn tồn tại và phát triển con người cần phải làm việc để tạo ra của cải vật chất Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động, nhất là lao động trong độ tuổi thanh niên không những tạo điều kiện để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống
mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội văn minh hơn
Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn, khu vực chiếm trên 70% dân số cả nước, là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh thần của người lao động
Tạo việc làm là tạo ra cơ hội để người lao động có việc làm và có thu nhập nhằm tái sản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế được
những phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra
Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc nhu cầu lao động của con người vì
lao động là phương tiện để tồn tại chính của con người
Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năng nguồn lực con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội Vì vậy, một quốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động sẽ thành công lớn trong
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và ổn định chính trị của mỗi quốc gia
Trang 35Việt Nam là nước đang phát triển có đặc điểm đất chật, người đông, đại bộ phận dân số sinh sống ở khu vực nông thôn Tính đến ngày 1/4/2009, dân số cả nước là 85.846.997 người đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á Trong đó dân số thanh niên là 23.871.325 người chiếm 27,8% dân số cả nước Dân số thanh niên sinh sống ở thành thị là 31,2%, nông thôn là 68,8% Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm trong giai đoạn 2001-2009 là 1,2% (Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, 2011)
Khu vực nông thôn đang tập trung một lực lượng lao động lớn của cả nước với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5%/năm Những năm gần đây, ở khu vực nông thôn, cầu lao động tăng chậm làm cho tình hình cung cầu trên thị trường lao động mất cân đối lớn Về cơ cấu ngành kinh tế, năm 2009 trong tổng số gần 35 triệu người tham gia lực lượng lao động nông thôn, có tới 75% làm việc trong nông - lâm - thủy sản, chỉ 15% làm việc trong công nghiệp và dịch vụ Những người thiếu việc làm ở nông thôn có tới 80% tập trung ở khu vực nông nghiệp (Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, 2011)
Là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, Thái Nguyên có nguồn lao động dồi dào Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm gần đây nền kinh tế tỉnh Thái Nguyên cũng đã có nhiều khởi sắc, đây cũng chính là yếu tố thuận lợi cho quá trình giải quyết việc làm Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh còn chậm so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Lao động nông nghiệp tuy có giảm qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn Năm 2009 chiếm 66,16% tổng số lao động làm việc Thời gian lao động ở nông thôn chưa cao tuy có tăng lên trong những năm gần đây, năm
2007 đạt gần 77% và năm 2009 đạt xấp xỉ 79%
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc tạo việc làm cho thanh niên nông thôn
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai gồm 2 loại: đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước và đất nông thôn, ngoại thành, ngoại thị
Trang 36thuộc sở hữu tập thể Hiến pháp (lần sửa đổi mới nhất năm 2005) quy định: Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường Theo các nhà làm luật, trưng thu là biện pháp áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất
Luật Đất đai của Trung Quốc ra đời năm 1986 (đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1988, 1998 và 2004) quy định mọi đơn vị và cá nhân khi có nhu cầu đất đai để xây dựng cần căn cứ theo pháp luật để xin sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước trừ trường hợp xây dựng xí nghiệp, nhà ở nông thôn, kết cấu hạ tầng và công ích ở cơ sở Nếu được Nhà nước chấp nhận thì sẽ tiến hành trưng dụng đất thuộc sở hữu nhà nước để cung ứng cho mục đích sử dụng (trong một số trường hợp còn gọi là thu hồi quyền sử dụng đất), nếu không có hoặc không đủ loại đất này thì sẽ trưng thu đất thuộc sở hữu tập thể và chuyển đổi thành đất thuộc sở hữu nhà nước
Trong vấn đề thu hồi đất, Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là “đất ruộng cơ bản” đã được chính quyền xác định dùng để sản xuất lương thực, bông, rau hay đã có những công trình thuỷ lợi tốt trên đó Luật còn quy định cụ thể đất ruộng cơ bản phải chiếm từ 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh Cấm không được dùng đất canh tác để xây lò gạch, mồ mả hay tự ý xây nhà, đào xới nhằm khai thác cát, đá, quặng, Việc trưng thu đất ruộng cơ bản, đất canh tác vượt quá 35 ha và đất khác vượt quá 70 ha phải được Quốc Vụ viện phê chuẩn, còn trưng thu các đất khác thì do chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn rồi báo cáo với Quốc
Vụ viện
Khi trưng thu đất đai phải bồi thường theo hiện trạng sử dụng đất lúc đó Chi phí bồi thường bao gồm tiền bồi thường đất, tiền trợ giúp an cư tính theo số nhân khẩu của hộ gia đình và tiền hoa màu Tiền bồi thường đất bằng 6 - 10 lần và tổng
số tiền trợ cấp an cư tối đa không quá 15 lần giá trị trung bình sản lượng hằng năm của 3 năm trước trưng thu
Đối với đất thuộc sở hữu nhà nước, khi nhu cầu đất vì lợi ích công cộng hoặc để cải tạo các khu đô thị cũ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn thì được thu hồi
Trang 37quyền sử dụng đất có bồi thường Khi thu hồi đất buộc phải di dời nhà cửa do đó bên di dời phải bồi thường về nhà cửa cho bên bị di dời bằng tiền tính theo giá trị thị trường hoặc bằng cách chuyển đổi tài sản Không bồi thường nhà xây trái phép hoặc nhà tạm đã hết hạn
Sau khi bị thu hồi đất, vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, kinh nghiệm Trung Quốc thực hiện đó là: Tích cực phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho người nông dân có việc làm là chính sách lâu dài mà Trung Quốc đang tập trung giải quyết
Các địa phương ở Trung Quốc đã có nhiều cách làm khác nhau để giải quyết vấn đề này như: Thứ nhất, thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho những nông dân bị thu hồi đất; khuyến khích các đơn vị ưu tiên sắp xếp công ăn việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất; khuyến khích nông dân lập nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân bị thu hồi đất vào thành phố mở doanh nghiệp và được hưởng các chính sách ưu đãi như các đối tượng thất nghiệp ở thành phố Thứ hai, áp dụng chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho người nông dân bị thu hồi đất Tất cả các đơn vị tuyển dụng người nông dân bị thu hồi đất vào làm việc phải ký hợp đồng lao động cho những người này từ 3 năm trở lên, mức lương hàng tháng không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu của địa phương (Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, 2011)
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan trong những năm gần đây đang
giảm dần do tốc độ công nghiệp hoá, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí, khu
đô thị Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm bền vững đòi hỏi phải được triển khai khẩn cấp để đất canh tác không bị rửa trôi, xói mòn hoặc nhiễm mặn Người Thái Lan đã giải quyết bằng cách tập trung đào tạo tập huấn vào đối tượng là thanh niên nông thôn với niềm tin họ là mấu chốt của sự thay đổi, là đối tượng nhạy bén với các kỹ thuật mới Điều đó khiến nhiều thanh niên nông thôn gắn
bó hơn với nghề nông Họ không bỏ lại ruộng vườn đến những thành phố lớn kiếm việc, tạo áp lực việc làm tại các thành phố lớn
Trang 38Song song với những chính sách khuyến khích và hỗ trợ thanh niên nông thôn thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức của người nông dân được coi trọng hướng đến Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và các khoá học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được
mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút và nâng cao trình độ thanh niên nông thôn
Ngoài ra họ còn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, cải tạo những vùng đất thoái hoá, khô cằn nâng cao độ màu mỡ cho đất Điều này giúp tăng diện tích đất canh tác cho thanh niên nông thôn, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất tại địa phương
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Cũng như không ít các quốc gia khác Nhật Bản có diện tích đất canh tác hạn hẹp, dân số đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại đây vẫn là những hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của một nền văn hoá lúa nước, thanh niên nông thôn thiếu trầm trọng việc làm Nhật Bản đã có một số biện pháp phát triển khôn khéo và
có hiệu quả sau:
Trước hết, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc Tổ chức các trương trình hỗ trợ, tập huấn cho thanh niên nông thôn tiếp cận với thông tin mới, mở ra nhiều cơ hội việc làm
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng chú trọng phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng sản phẩm của nông nghiệp làm nguyên liệu trên địa bàn nông thôn Tạo
ra các khóa đào tạo để thanh niên nông thôn được học hỏi, tiếp cận, thực hành những kỹ năng, kỹ thuật trong công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp Điều này đã thu hút không nhỏ thanh niên nông thôn tham gia tích cực, góp phần làm giảm số lực thanh niên nông thôn bỏ quê hương ra thành phố tìm việc
Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn Từ đó tạo việc làm cho thanh niên nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị
Trang 391.2.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam và các địa phương khác
1.2.2.1 Kinh nghiệm chung giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở Việt Nam
Qua những nghiên cứu tình hình lao động - việc làm nông thôn của nước ta trong những năm qua cho thấy việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động thanh niên ở nông thôn là vấn đề mang tính chiến lược Các địa phương có cách làm khác nhau trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đã mang lại khác nhau , nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình tạo việc làm cho người lao động nông như sau:
- Thực hiện chính sách phát triển thị trường lao động, phát triển dạy nghề gắn với chiến lược kinh tế - xã hội của từng địa phương, lồng ghép chương trình dạy nghề với các chương trình việc làm, chương trình xoá đói giảm nghèo và các chương trình phát triển kinh tế khác,… (Vũ Thị Mão, 2007)
- Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích nâng cao trình độ văn hoá, học vấn, tay nghề, tăng cường dạy nghề ngắn hạn, phổ cập nghề cho lao động Thanh niên ở khu vực nông thôn vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất để chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ cho phù hợp
- Tập trung phát triển các lĩnh vực có thế mạnh của mỗi địa phương Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp cố gắng tránh lấy đất trên những cánh đồng mầu
mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Có chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động nông thôn Coi trọng các chính sách phát triển kinh tế nông thôn; phát triển hài hòa giữa kinh tế nông thôn và môi trường (Vũ Thị Mão, 2007)
Giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn là nhiệm vụ rất quan trong của mỗi địa phương và của đất nước Giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, vừa tạo tiền
đề để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức phức tạp, có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ đó, nên cần
Trang 40sử dụng các chỉ tiêu một cách khách quan và triệt để nhằm đánh giá quá trình giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho người lao động có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn đã đạt được những kết quả, song vẫn còn nhiều khó khăn thách thức Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực này là rất cần thiết, đó là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với cả nước nói chung và huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng
1.2.2.2 Kinh nghiệm cụ thể tại tỉnh Kiên Giang
Hai mô hình tạo nghề, giải quyết việc làm tại chỗ giúp thanh niên nông thôn
hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo được triển khai hiệu quả tại một huyện ở tỉnh Kiên Giang:
- Đi lên từ chi hội làm thuê
Từ thực tế phần lớn thanh niên trong ấp sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp theo thời vụ, chạy xe ôm, sửa xe, thợ mộc, phụ hồ, một số người không nghề nghiệp, năm 2009 chi đoàn ấp Đông Quý (thị trấn Thứ 3, huyện An Biên) đứng ra thành lập chi hội làm thuê nhằm tạo điều kiện cho thanh niên địa phương có công ăn việc làm, cải thiện đời sống
Thời gian đầu mới thành lập chi hội chỉ có 14 thành viên Do thiếu kinh nghiệm nên chi đoàn chỉ bố trí các anh em trong chi hội nhận làm các công việc đơn giản như phụ hồ, bốc vác, đào đất thuê
Nghề dạy nghề, dần dần những “người thợ phụ” trong chi hội cứng nghề và
tự tin đứng ra lãnh thầu xây dựng các công trình nhà cấp 4 với giá cả bình dân
Khi đã “rèn” những thanh niên từ chưa thạo nghề trở thành những người thợ lành nghề, chi hội đã nâng lên thành “Tổ hợp tác giải quyết việc làm” với trên 40 thành viên tham gia làm tất cả các nghề như thợ hồ, thợ mộc, nhận thầu các công trình sửa chữa, xây mới nhà cấp 4, đào đất, bốc vác tại huyện An Biên và các huyện lân cận, với mức thu nhập trung bình của các thành viên từ 3,5-5 triệu đồng/tháng