Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi tại tỉnh Phú Thọ đang phát triển mạnh mẽ với sự hình thành của nhiều trang trại chăn nuôi lợn theo hướng hàng hóa Tổng đàn lợn ước tính vượt 550.000 con, với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 5 đến 6% mỗi năm Hiện tại, tỉnh có hơn 300 trang trại nuôi lợn nái giống ngoại, cùng với nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển chăn nuôi Ngành chăn nuôi lợn đang trở thành một trong những lĩnh vực chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Để phát triển chăn nuôi lợn hiệu quả, công tác phòng, chống dịch bệnh cần được chú trọng bên cạnh giống, thức ăn và quản lý Ngành thú y đã hoạt động mạnh mẽ trong những năm qua, giúp hạn chế nhiều bệnh truyền nhiễm cho vật nuôi và đảm bảo sự phát triển của chăn nuôi Tuy nhiên, do đặc điểm vùng miền và nhiều nguyên nhân khác, vẫn còn một số bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh tụ huyết trùng lợn, gây nguy hiểm không chỉ cho lợn mà còn cho nhiều loại gia súc và gia cầm khác trên toàn thế giới.
Trong những năm qua, bệnh tụ huyết trùng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đàn lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ, với ước tính lên tới 25 - 30% tổng đàn hàng năm Việc chẩn đoán và phòng chống bệnh này gặp nhiều khó khăn do đặc thù địa lý, kinh tế xã hội và tập quán chăn nuôi lạc hậu Trình độ dân trí chưa cao, đặc biệt ở các khu vực dân tộc ít người, đã hạn chế việc áp dụng khoa học kỹ thuật và biện pháp phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi, dẫn đến sự tồn tại và phát sinh nhiều ổ dịch.
Dịch tụ huyết trùng lợn lẻ tẻ là một bệnh nguy hiểm ở vật nuôi, gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi Sự bùng phát của bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và lợi nhuận trong ngành chăn nuôi, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả.
Dựa trên nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ của bệnh tụ huyết trùng lợn và đặc điểm sinh vật học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh này ở lợn tại tỉnh Phú Thọ, cùng với các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ nhằm xác định tỷ lệ lợn khỏe mang vi khuẩn THT cũng như tỷ lệ lợn ốm chết do bệnh này.
+ Phân lập, xác định một số đặc điểm sinh học và type của vi khuẩn
+ Thử nghiệm phác đồ phòng và trị bệnh tụ huyết trùng lợn cho tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả cao.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đầu tiên về bệnh tụ huyết trùng lợn tại huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh và Thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ đã thử nghiệm phác đồ phòng và trị bệnh, mang lại hiệu quả cao cho tỉnh Phú Thọ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh tụ huyết trùng lợn tại các huyện nghiên cứu ở tỉnh Phú Thọ
3.1.1 Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ qua các năm 2006 - 2008
Thời tiết tại tỉnh Phú Thọ có sự biến động lớn về nhiệt độ và độ ẩm, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, tạo điều kiện cho vi khuẩn P multocida phát triển Từ năm 2006 đến 2008, chúng tôi đã điều tra số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng tại Phú Thọ, dựa trên các phương pháp dịch tễ như quan sát triệu chứng và số liệu lưu trữ của Chi cục Thú y Qua điều tra 36.513 lợn từ sơ sinh đến hơn 6 tháng tuổi, chúng tôi xác định tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết tại ba địa điểm: Thị xã Phú Thọ, huyện Phù Ninh và Lâm Thao, với kết quả được thể hiện trong bảng 3.1.
Từ năm 2006 đến 2008, tổng số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng là 746 trên 36.513 con, chiếm tỷ lệ 2,04% Trong số này, có 54 con lợn chết, tương đương với tỷ lệ 7,23% Đặc biệt, xã Sơn Vi huyện Lâm Thao ghi nhận tỷ lệ lợn mắc bệnh cao nhất với 8 trên 90 con, chiếm 8,88%.
Tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tụ huyết trùng ở các địa phương nghiên cứu cho thấy sự khác biệt, phản ánh các yếu tố tác động từ môi trường và thói quen chăn nuôi của người dân trong tỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.1: Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ Địa điểm Xã
Số lợn điều tra (con)
Tại huyện Lâm Thao: Xã Tứ Xã có số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng là:
Trong cuộc điều tra, tổng số lợn được ghi nhận là 3922 con, trong đó có 84 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,14% Số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là 6 con, tương ứng với tỷ lệ 7,14% Tại xã Sơn Vi, tổng số lợn điều tra là 4015 con, trong đó có một số lượng lợn mắc bệnh tụ huyết trùng.
90 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,24 % và số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là
8 con, chiếm tỷ lệ 8,88% Xã Hợp Hải có số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng là:
Trong cuộc điều tra, tổng số lợn được ghi nhận là 4.028 con, trong đó có 80 con mắc bệnh, tương đương với tỷ lệ 1,99% Số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là 7 con, chiếm 8,75% Tại huyện Phù Ninh, xã Phú Nham có số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng đáng chú ý.
Trong cuộc điều tra, tổng số lợn là 3.928 con, trong đó có 78 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 1,99% Số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là 4 con, tương đương 5,12% Tại xã Gia Thanh, trong số 3.903 con lợn được điều tra, có 81 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,08%.
Số lượng lợn mắc bệnh tụ huyết trùng tại xã Hạ Giáp là 83 con, chiếm 2,01% trong tổng số 4.133 con lợn được điều tra Tỷ lệ lợn chết do bệnh này là 6 con, tương ứng với 7,22% Ngoài ra, có 7 con lợn khác mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 8,64%.
Thị xã Phú Thọ ghi nhận tình hình dịch bệnh tụ huyết trùng ở xã Hà Thạch với 4205 con lợn được điều tra, trong đó 79 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 1,88%, và 5 con đã chết, chiếm 6,32% Tương tự, xã Văn Lung cũng có số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng với 4172 con được điều tra.
86 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,06 % và số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là
4 con, chiếm tỷ lệ 4,65 % Xã Hà Lộc có số lợn mắc bệnh tụ huyết trùng là:
Số lợn điều tra là 4207 con, trong đó có 85 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,02 % và số lợn chết do bệnh tụ huyết trùng là 7 con, chiếm tỷ lệ 8,23 %
Tỷ lệ lợn chết do bệnh tụ huyết ở các địa phương nghiên cứu cao do vị trí địa lý, khí hậu, và giao thông khó khăn, cùng với trình độ dân trí không đồng đều Việc áp dụng biện pháp khoa học kỹ thuật còn hạn chế, phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thức ăn không đầy đủ, và điều kiện chuồng trại chưa đảm bảo vệ sinh Thêm vào đó, tỷ lệ tiêm phòng thấp và thông tin về dịch bệnh chưa kịp thời đã góp phần làm gia tăng số lợn mắc bệnh tại mỗi địa phương.
Tình hình mắc bệnh tụ huyết trùng (THT) trên đàn lợn tại các địa phương nghiên cứu trong những năm qua đã gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thu thập số liệu về số lượng lợn chết do bệnh THT, và kết quả được trình bày rõ ràng trong bảng 3.2.
Theo bảng 3.2, trong tổng số 36.513 lợn được điều tra, có 54 con chết do tụ huyết trùng, chiếm tỷ lệ 0,15% Cụ thể, năm 2006 ghi nhận 21/12.105 con (0,17%) chết, trong khi năm 2007 có 15/12.021 con (0,12%) tử vong.
2008 số lợn chết là 18/12.387 con (0,15%)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.2: Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ qua các năm
Huyện Lâm Thao Huyện Phù Ninh Thị xã Phú Thọ Tổng hợp
Trong các năm 2006, 2007 và 2008, số lượng lợn chết do THT ở các huyện có sự khác biệt rõ rệt Năm 2006, huyện Lâm Thao điều tra 4.035 con lợn, trong đó có 8 con chết, tỷ lệ chết là 0,20% Huyện Phù Ninh điều tra 3.945 con, với 7 con chết, tỷ lệ 0,18%, trong khi Thị xã Phú Thọ có 4.125 con và 6 con chết, tỷ lệ 0,15% Sang năm 2007, huyện Lâm Thao điều tra 3.925 con, có 6 con chết, tỷ lệ 0,15%; huyện Phù Ninh có 3.890 con, với 4 con chết, tỷ lệ 0,10%, và Thị xã Phú Thọ điều tra 4.206 con, có 5 con chết, tỷ lệ 0,12% Đến năm 2008, huyện Lâm Thao điều tra 4.005 con, số chết là 7 con, tỷ lệ 0,17%; huyện Phù Ninh có 4.129 con, với 6 con chết, tỷ lệ 0,13%, còn Thị xã Phú Thọ điều tra 4.253 con, có 5 con chết, tỷ lệ 0,12%.
Tỷ lệ chết do bệnh THT ở các huyện điều tra có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, huyện Lâm Thao với 11.965 con điều tra ghi nhận 21 con chết, tương đương tỷ lệ 0,18% Huyện Phù Ninh có 11.964 con điều tra và 17 con chết, chiếm tỷ lệ 0,14% Trong khi đó, thị xã Phú Thọ với 12.584 con điều tra chỉ có 16 con chết, tương ứng với tỷ lệ 0,13%.
Bệnh tụ huyết trùng lợn chịu ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng, địa phương với vị trí địa lý khác nhau.
Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam, cung cấp sản phẩm thịt lợn chủ yếu cho thị trường Do đó, việc áp dụng các biện pháp hiệu quả để phòng và trị bệnh THT cho đàn lợn là nhiệm vụ cấp thiết nhằm giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra, đòi hỏi sự chú ý từ các chuyên gia và cơ quan quản lý.
3.1.2 Kết quả điều tra số lƣợng lợn mắc và chết do bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Phú Thọ ở các mùa vụ
Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ bệnh phẩm của lợn chết
nghi mắc bệnh tụ huyết trùng
Chúng tôi đã tiến hành phân lập và xác định vi khuẩn Pasteurella từ các mẫu bệnh phẩm của lợn chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng tại các địa phương nghiên cứu, bao gồm huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh và thị xã Phú Thọ, theo phương pháp của Carter (1984) Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 3.9.
Bảng 3.9: Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ bệnh phẩm của lợn chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng Địa điểm Bệnh phẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Pasteurella được phân lập trong các địa phương nghiên cứu là 33,33% với 12/36 mẫu Chúng tôi đã thu thập mẫu từ phổi, máu và xương ống, và kết quả phân lập vi khuẩn ở mỗi loại bệnh phẩm có sự khác biệt Cụ thể, tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella từ 3 mẫu bệnh phẩm phổi tại huyện
Tại huyện Lâm Thao, trong tổng số 9 mẫu phân lập, có 4 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 44,44% Huyện Phù Ninh ghi nhận 4 mẫu dương tính trong 12 mẫu phân lập, tương ứng với tỷ lệ 33,33% Thị xã Phú Thọ có 4 mẫu dương tính trong tổng số 15 mẫu, đạt tỷ lệ 26,67% Cụ thể, Lâm Thao có 2 mẫu dương tính từ phổi (66,67%) và 1 mẫu dương tính từ máu (33,33%) Phù Ninh có 1 mẫu dương tính từ phổi (25%) và 2 mẫu dương tính từ xương ống (50%) Thị xã Phú Thọ có 1 mẫu dương tính từ phổi (20%) và 2 mẫu từ xương ống (40%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Cao Văn Hồng (2002) về dịch tễ bệnh tụ huyết trùng tại Đắk Lắk, điều này có thể do sự phát triển của bệnh phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và yếu tố địa lý tại từng địa phương.
Kết quả phân lập Pasteurella từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ
Lợn khỏe mạnh chúng tôi tiến hành lấy dịch ngoáy mũi để phân lập vi khuẩn Kết quả được trình bày ở bảng 3.10
Kết quả ở bảng 3.10 cho thấy: Ở các địa phương tỷ lệ mang vi khuẩn
Tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella ở đường hô hấp trên của lợn khỏe mạnh có sự khác biệt giữa các địa phương Cụ thể, huyện Lâm Thao ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 6 mẫu dương tính, chiếm 18,75%, trong khi thị xã Phú Thọ có tỷ lệ thấp nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mẫu dương tính với vi khuẩn Pasteurella ở lợn 3-6 tháng tuổi là 17,72%, với 14 mẫu dương tính Trong khi đó, ở lứa tuổi trên 6 tháng, tỷ lệ này là 14,71% với 5 mẫu dương tính Tổng cộng có 7 mẫu dương tính, chiếm 14,89%.
Tỷ lệ vi khuẩn Pasteurella được phân lập từ ổ dịch hô hấp của lợn khỏe mạnh tại các địa phương khác nhau cho thấy bệnh tụ huyết trùng lợn và khả năng mang trùng ở lợn khỏe mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố địa lý và môi trường sinh thái.
Bảng 3.10: Kết quả phân lập Pasturella từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ Địa điểm
Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella phụ thuộc vào sự khác biệt của từng tiểu vùng khí hậu, yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội và phương thức chăn nuôi Tỷ lệ tiêm phòng thấp trong đàn lợn dẫn đến tỷ lệ mang trùng cao.
Tỷ lệ mang vi khuẩn cao tại các địa phương nghiên cứu cho thấy tình hình dịch tễ bệnh tụ huyết trùng, với bệnh xảy ra hàng năm do vi khuẩn được bài xuất qua phân, nước tiểu và chất tiết đường hô hấp, cũng như tồn tại trong môi trường chăn nuôi Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải chú trọng đến việc kiểm soát vi khuẩn Pasteurella ở lợn khỏe mạnh khi xây dựng các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho toàn tỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Kết quả xác định đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Pasteurella phân lập được
Các chủng Pasteurella sau khi được phân lập và xác định sẽ được đặt tên, đồng thời tiến hành xác định các đặc tính sinh vật và hóa học của các chủng này.
3.4.1 Kết quả kiểm tra hình thái, tính chất nhuộm màu
Tất cả 31/31 chủng vi khuẩn phân lập đều cho kết quả nhuộm Gram âm, có hình dạng cầu trực khuẩn, thường xuất hiện riêng lẻ, đôi khi kết hợp thành đôi hoặc chuỗi Ngoài ra, 100% số chủng vi khuẩn này đều không có khả năng di động.
3.4.2 Kết quả kiểm tra đặc tính nuôi cấy
Chúng tôi tiến hành kiểm tra đặc tính nuôi cấy của 31 chủng vi khuẩn phân lập được ở các môi trường, kết quả cụ thể như sau:
Môi trường nước thịt sau 24 giờ nuôi cấy ở 37 độ C sẽ trở nên vẩn đục do sự phát triển của vi khuẩn, với đáy có lớp căn nhày Khi lắc nhẹ, môi trường sẽ vẩn đục như sương mù và phát ra mùi tanh đặc trưng của nước dãi khô.
Sau 24 giờ nuôi cấy ở 37 độ C, vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc nhỏ, lấp lánh như hạt sương Qua thời gian, khuẩn lạc trở nên lớn hơn, có màu trắng đục, nhớt và dính chặt vào bề mặt thạch.
Sau 24 giờ nuôi cấy ở 37 độ C, vi khuẩn phát triển mạnh mẽ trên môi trường thạch máu, với hình dạng tròn và kích thước lớn hơn so với thạch thông thường Chúng có màu tro xám hình giọt sương, không gây hiện tượng dung huyết và đặc biệt tỏa ra mùi tanh đặc trưng.
Môi trường Mac Conkey không cho phép vi khuẩn phát triển, do đó, các chủng vi khuẩn được phân lập đều thể hiện những đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu phù hợp với đặc trưng chung của vi khuẩn P multocida theo nghiên cứu của Carter (1984).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.4.3 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hóa
Sau khi kiểm tra các đặc điểm hình thái và nuôi cấy của các chủng vi khuẩn phân lập, chúng tôi đã tiến hành giám định Pasteurella thông qua một số đặc tính sinh hóa học Kết quả giám định được trình bày chi tiết trong bảng 3.11.
Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn
Kết quả kiểm tra đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn Pasteurella phân lập được của chúng tôi tương đồng với kết quả của Carter (1984)
Dùng thuốc thử Kovac để kiểm tra khả năng sinh Idol của vi khuẩn thấy tất cả các chủng đều cho phản ứng dương tính
+ 100% số chủng phân lập được đều cho phản ứng Oxidaza và Catalaza dương tính
+ Tất cả các chủng này đều không gây dung huyết thạch máu, không sản sinh H 2 S và không phân giả urea
+ Các chủng phân lập được đều không mọc trên môi trường Mac Conkey
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chúng tôi kiểm tra khả năng lên men các loại đường của các chủng
Pasteurella phân lập được Kết quả thu được ở bảng 3.12
Bảng 3.12: Kết quả kiểm tra khả năng lên men một số loại đường của các chủng Pasteurella phân lập được
Qua bảng 3.12 chúng tôi thấy cả 31 chủng Pasteurella phân lập được (100%) đều lên men đường glucose, galactose, mannitol, sorbitol và không lên men đường lactose, arabinose, maltose
Căn cứ vào đặc tính sinh vật, hóa học các loài vi khuẩn thuộc giống
Pasteurella mà các tác giả (Hoàng Đạo Phấn 1986[19]),(Heddleston 1972[66]) và (Rimler 1992a [85]) đã mô tả, kết quả của chúng tôi phù hợp với tiêu chuẩn của các tác giả trên
Kết quả kiểm tra khả năng lên men một số loại đường của 31 chủng
Các nghiên cứu về Pasteurella cho thấy 31 chủng đã được phân lập, trong đó tất cả đều lên men glucose, galactose, mannitol và sorbitol với tỷ lệ 100% Tuy nhiên, không có chủng nào lên men lactose, arabinose và maltose Điều này cho thấy đặc điểm sinh lý của các chủng Pasteurella này.
Các chủng vi khuẩn Pasteurella được phân lập từ các địa phương nghiên cứu đều mang những đặc tính của vi khuẩn P multocida, phù hợp với kết quả nghiên cứu của Carter (1984).
3.4.4 Kết quả xác định type P.multocida bằng kỹ thuật PCR
Các chủng vi khuẩn P multocida chuẩn type A và B được cung cấp bởi Phân Viện Thú y miền Trung, Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc Thú y Quốc gia và Viện Thú y Quốc gia Nhật Bản (Tsukuba) nhằm làm đối chứng dương Nghiên cứu này so sánh các chủng P multocida phân lập từ lợn nuôi tại ba huyện Lâm Thao, Phù Ninh và Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Mẫu DNA cần xác định được nuôi cấy trực tiếp từ khuẩn lạc của các chủng vi khuẩn Pasteurella, đã được nuôi ở nhiệt độ 37 độ C trong 24 giờ trên môi trường thạch máu Phương pháp xác định vi khuẩn P multocida sử dụng kỹ thuật PCR.
Kết quả xác định type như sau:
- Với cặp mồi CAPA-F, CAPA-R, sản phẩm PCR đặc hiệu cho vi khuẩn
P multocida type A có chiều dài 1044bp đúng như lý thuyết và trùng với các chủng chuẩn
- Với cặp mồi CAPB-F, CAPB-R, sản phẩm PCR đặc hiệu cho vi khuẩn
P multocida type B có chiều dài 760bp trùng với các chủng chuẩn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỹ thuật PCR đã xác định thành công các chủng P multocida từ lợn tại huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh và Thị xã Phú Thọ, với hình ảnh đặc trưng của các type A và B chuẩn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.13 Kết quả định type vi khuẩn P multocida bằng phản ứng PCR
Kết quả định type kháng nguyên giáp mô Type
Dịch ngoáy mũi lợn khỏe 19 5 26,32 14 73,68 Bệnh phẩm lợn ốm chết có triệu chứng bệnh THT 12 4 33,33 8 66,67
Bảng 3.13 chỉ ra rằng trong tổng số 31 chủng vi khuẩn, có 9 chủng thuộc type A, được phân lập từ dịch ngoáy mũi của lợn khỏe mạnh và bệnh phẩm từ lợn ốm chết với triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh THT, chiếm tỷ lệ 29,03% Đồng thời, còn lại 22 chủng thuộc type khác.
B, nguồn gốc phân lập từ dịch ngoáy mũi lợn khỏe và bệnh phẩm lợn ốm chết có triệu chứng nghi mắc bệnh THT và chiếm tỷ lệ 70,97% Trong mỗi loại bệnh phẩm tỷ lệ phân lập được các type vi khuẩn cũng khác nhau, cụ thể: 19 chủng P multocida phân lập được từ dịch ngoáy mũi lợn khỏe có 5 chủng thuộc type A chiếm tỷ lệ 26,32%, có 14 chủng thuộc type B chiếm tỷ lệ 73,68% Đối với 12 chủng phân lập từ bệnh phẩm lợn ốm thấy có 4 chủng thuộc type A, 8 chủng thuộc type B, chiếm tỷ lệ 33,33%, 66,67% Kết quả định type của chúng tôi có khác so với kết quả định type của Cù Hữu Phú và cs (2005)[21] khi định type các chủng P.multocida bằng phương pháp Co-agglutination (đồng ngưng kết) với kháng huyết thanh đặc hiệu cho kết quả 100% là type D Nhưng kết quả của chúng tôi cũng tương đương với kết quả của Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007)[8] bằng kỹ thuật PCR cho biết các chủng P multocida định type thuộc các type A,B,D trong đó nhiều nhất phải kể đến là type B (các chủng
P.multocida này phân lập được từ cả lợn ốm và lợn khỏe) Kết quả của Đỗ Ngọc
Nghiên cứu của Thúy và cộng sự (2007) chỉ ra rằng các chủng P multocida được phân lập từ dịch ngoáy mũi của lợn khỏe mạnh và lợn bệnh chủ yếu thuộc type A, trong khi chỉ có một chủng thuộc type D.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.4.5 Kết quả xác định độc lực của các chủng P multocida phân lập được Đặc tính của vi khuẩn P multocida là khi cấy chuyển nhiều đời trên môi trường nhân tạo thường bị giảm độc lực theo thời gian bảo quản (Carter,