TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Tổng quan tài liệu
2.1.1.1 Đặc điểm sinh thái cây Keo lai
Keo lai, được tạo ra từ sự kết hợp giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, mang trong mình một số đặc điểm sinh thái tương đồng với hai loài bố mẹ Nghiên cứu của Đinh Văn Quang (2002) trong đề tài "Xác định lập địa phục vụ trồng rừng công nghiệp cho một số vùng sinh thái ở Việt Nam" thuộc dự án khoa học KC.06.05.NN, đã chỉ ra rằng Keo lai có tiềm năng phát triển nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu.
- Phân bố ở 1 0 vĩ độ Nam đến 18 0 vĩ độ Nam
- Độ cao so với mặt nước biển từ 0-600m
- Lượng mưa trung bình năm >800mm
- Chế độ mưa: Mưa mùa hè, mùa khô kéo dài 0 - 7 tháng
- Nhiệt độ trung bình năm >20 0 C
- Nhiệt độ tháng nóng nhất 37 0 C
- Nhiệt độ tháng lạnh nhất 6 0 C
- Nhiệt độ tối thấp từ 0-6 0 C
Loài Keo lai có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, bao gồm đất acid, đất granit, feralit, đất xám, đất đỏ, đất bồi tụ, đất nhiệt đới, đất thoát nước tốt, đất chua, đất nông, sét pha và thịt nặng Điều này cho thấy sự đa dạng trong khả năng thích ứng của loài cây này với các loại đất.
- Cấu tượng: Trung bình, nặng
- Độ thoát nước tự do, úng theo mùa
- Phản ứng đất: đất chua
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đặc biệt chịu được trên đất bạc mầu, có thể chịu được úng và có khả năng cố định đạm
Cây Keo lai rất phù hợp với khí hậu và đất đai của vùng Đông Bắc Bộ, đặc biệt là tỉnh Thái Nguyên Loại cây này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng, sẽ mang lại năng suất cao.
- Khái niệm về trồng rừng thâm canh
Khái niệm về trồng rừng thâm canh có nhiều nguồn thông tin, các tác giả đã đề cập đến như:
Trồng rừng thâm canh, theo Phạm Quang Minh (1987), là việc đầu tư kỹ thuật tổng hợp vào các giai đoạn từ tạo cây con, làm đất, chăm sóc bảo vệ đến khai thác rừng, nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên để tăng cường sức sản xuất của rừng Đây là biện pháp đầu tư theo chiều sâu, không chỉ tập trung vào vốn, vật tư và lao động, mà còn khai thác tối đa tiềm năng của điều kiện tự nhiên và xã hội để đạt được kết quả cao hơn.
* Nhận xét: Khái niệm trên cho thấy trồng rừng thâm canh đi sâu vào đầu tư chưa thấy quan tâm đến môi trường
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995), trồng rừng thâm canh là phương pháp canh tác yêu cầu đầu tư cao, kết hợp các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Mục tiêu của phương pháp này là cải tạo và phát huy tiềm năng tự nhiên cũng như con người để thúc đẩy sinh trưởng mạnh mẽ của rừng.
Để đạt được năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt trong việc trồng rừng, cần phải giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, việc duy trì và phát triển tiềm năng đất đai cùng với bảo vệ môi trường là rất quan trọng, nhằm đảm bảo an toàn sinh thái Điều này sẽ giúp đáp ứng yêu cầu phát triển rừng bền vững và ổn định trong dài hạn.
Khái niệm này được coi là toàn diện nhất về các kết quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo tính bền vững trong tương lai.
- Thực chất của trồng rừng thâm canh
Trồng rừng thâm canh đòi hỏi mức đầu tư cao về tài chính và trí tuệ so với các phương pháp trồng rừng khác Đầu tư này bao gồm việc tính toán đầy đủ chi phí từ khâu giống, trồng, chăm sóc, quản lý đến khai thác rừng Thành công trong trồng rừng thâm canh phụ thuộc vào đầu tư kỹ thuật, đặc biệt là trong việc chọn điều kiện lập địa, cây giống và chăm sóc Mục tiêu cuối cùng là đạt được lợi nhuận cao trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí sản phẩm thấp, đồng thời đảm bảo năng suất và chất lượng cao.
Trong quá trình trồng rừng thâm canh, cần kết hợp chặt chẽ giữa kết quả kỹ thuật và kinh tế Nếu yêu cầu sinh lợi được đáp ứng nhưng đất đai và môi trường bị suy thoái, việc trồng rừng sẽ không còn khả thi Hơn nữa, nếu năng suất và chất lượng rừng giảm dần, đầu tư thâm canh sẽ không được coi là thành công, chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà thôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.2.1 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids)
Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), được phát hiện lần đầu bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 tại Sabah, Malaysia Năm 1976, M.Tham đã chứng minh rằng việc thụ phấn chéo giữa hai loại keo này tạo ra cây Keo lai với sức sinh trưởng vượt trội hơn Đến tháng 7 năm 1978, Pedley cũng xác nhận kết luận này sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật.
Queensland - Autralia (Lê Đình Khả 1986, Gun và cộng sự 1987, Griffin,
Năm 1988, nghiên cứu tại Sabad (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) ở Malaysia, cùng với Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992) đã chỉ ra rằng giống lai tự nhiên và rừng trồng có những đặc tính vượt trội so với cây bố mẹ Các giống này sinh trưởng nhanh, có cành nhánh nhỏ và thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả và cs 1997).
Nghiên cứu hình thái cây Keo lai đã chỉ ra rằng, theo Rufelds (1988) và Gan.E cùng Sim Boon Liang (1991), Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm Cụ thể, ở cây con, lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, trong khi đó, Keo tai tượng thường có lá giả ở lá thứ 8.
Keo lai thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 và có tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen, 1981).
Nghiên cứu của Rufeld (1987) cho thấy không có sự sai khác đáng kể giữa keo lai và các loài bố mẹ Các tính trạng của keo lai thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai rõ rệt.
Keo lai có những ưu điểm vượt trội so với Keo tai tượng như độ tròn đều của thân tốt hơn, đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên tốt hơn Tuy nhiên, độ thẳng thân, hình dáng tán lá và chiều cao dưới cành của Keo lai lại kém hơn Nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) cho thấy cây keo lai từ Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng, mặc dù ưu thế lai không phải lúc nào cũng đảm bảo do ảnh hưởng của yếu tố di truyền và điều kiện lập địa Sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn, nhưng từ đời F2 trở đi sinh trưởng không đều và trung bình còn kém hơn Keo tai tượng Đánh giá về chất lượng, Pinso và Nasi (1991) nhận thấy Keo lai có độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành và độ tròn đều tốt hơn giống bố mẹ, cho thấy Keo lai phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ
2.2.1.1 Vị trí địa lý Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, bao gồm 18 xã, thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên là 45.774 ha; có toạ độ địa lý:
Từ 21 0 35’02” đến 21 0 50’34” vĩ độ Bắc
Từ 105 0 42’02” đến 105 0 55’25” kinh độ Đông Địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai-Thái Nguyên huyện Chợ Mới-Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Yên Thế - Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
2.2.1.2 Địa hình Đồng Hỷ thuộc tiểu vùng 1 của tỉnh Thái Nguyên, có kiểu địa hình đồi độc lập và núi thấp Phía Đông và Đông Bắc có dãy núi Tèn và núi Bắc Lâu kéo dài tạo thành bức tường ngăn cách 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Độ cao trung bình của huyện là 350m, cao nhất là đỉnh núi Tèn 759m Địa hình chia cắt mạnh ở phía Bắc và thấp dần từ Bắc xuống Nam, có độ cao tuyệt đối từ 50m đến 750m so với mực nước biển Nhìn chung địa hình huyện Đồng Hỷ có thể chia làm 2 vùng: Phía Bắc là núi thấp và núi trung bình, còn lại là vùng đồi Tuy nhiên, đây lại là vùng thượng lưu của sông Cầu nên vai trò của thảm
Thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy và cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt.
Theo dữ liệu từ trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, Đồng Hỷ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt trong năm.
Bảng 2.2 Tình hình khí hậu thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ
Tháng Nhiệt độ không khí trung bình ( 0 C)
Tổng lƣợng mƣa phổ biến (mm) Độ ẩm không khí trung bình (%) Ghi chú
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, năm 2010)
Theo bảng 2.2, điều kiện khí hậu năm 2010 tại huyện Đồng Hỷ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Tuy nhiên, lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 91% tổng lượng mưa trung bình, dao động từ 1585 đến 2110 mm, với tháng 7 là tháng có lượng mưa lớn nhất, đạt từ 380 mm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 480 mm, dễ gây ra lũ lụt ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau có ít mưa, thậm chí không mưa, cộng với gió mùa Đông Bắc và đợt rét đậm từ 5 - 7 độ C Tháng 12, lượng mưa bình quân chỉ đạt 10mm - 15mm, tác động lớn đến năng suất và chất lượng cây trồng Độ ẩm trung bình năm dao động từ 75,5% đến 85,5%, với tháng 3 có độ ẩm cao nhất là 85,5% và tháng 12 có độ ẩm thấp nhất là 75,5%.
Hình 2.1 Giản đồ vũ nhiệt Gaussen -Walter huyện Đồng Hỷ
Huyện Đồng Hỷ có nhiều sông suối quan trọng, nổi bật là sông Cầu, bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các xã Văn Lăng và Hoà Bình trước khi đến thành phố Thái Nguyên Bên cạnh đó, khu vực còn có hệ thống suối từ các khe núi, trong đó hai suối lớn là suối Nà Sa, bắt nguồn từ Võ Nhai, chảy qua xã Vân Lăng và đổ ra sông Cầu, cùng với suối Quang Sơn cũng có nguồn gốc từ khu vực này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Võ Nhai, với các xã Quang Sơn, Khe Mo và Linh Sơn, chảy ra sông Cầu, gặp bất lợi trong vận chuyển thủy do địa hình dốc và dòng chảy mạnh Lưu tốc dòng chảy đạt từ 600 - 800m/s, thường tăng cao vào mùa mưa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông lâm nghiệp.
Kết quả điều tra lập bản đồ đất tỉnh Thái Nguyên năm 2001 cho thấy, đất đai huyện Đồng Hỷ được hình thành từ quá trình phong hoá đá vôi Gi ét, với hai loại đất chính.
- Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét (Fs) có mầu vàng đỏ, độ dầy tầng đất ở mức trung bình > 60cm, độ PH = 4-5
- Đất Feralit phát triển trên đá Macma chua có mầu vàng nhạt, độ dầy tầng đất từ 40cm đến 50cm, độ PH = 5-6
Hai loại đất này phù hợp cho trồng cây lâm nghiệp và cây công nghiệp
2.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ
2.2.2.1 Đặc điểm dân số, lao động, kinh tế
Tính đến ngày 31/12/2010, huyện Đồng Hỷ có tổng dân số 114.893 người, với mật độ dân số trung bình là 251 người/km² Trong đó, xã Văn Lăng ghi nhận mật độ thấp nhất với 69 người/km², trong khi thị trấn Chùa Hang có mật độ cao nhất lên đến 3.278 người/km² (Chi cục thống kê huyện Đồng Hỷ, 2010).
Huyện có khoảng 63.000 người lao động, chiếm 54,8% dân số, trong đó lao động nông thôn chiếm trên 67% tổng số lao động và lao động phi nông nghiệp gần 35% Theo thống kê hàng năm, người lao động chỉ sử dụng khoảng 70% quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm, với 3-5% lao động thường xuyên không có việc làm và khoảng 30% lao động nông nghiệp không có việc làm ổn định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN, thông tin từ Chi cục thống kê huyện Đồng Hỷ (2010) chỉ ra rằng việc làm sau khi kết thúc thời vụ nông nghiệp chính là một vấn đề quan trọng Điều này ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế và sinh kế của người dân trong khu vực.
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp tại huyện Đồng Hỷ đã đạt tốc độ tăng trưởng ổn định từ 3-5%, đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm của người dân Giá trị kinh tế của ngành trồng trọt chiếm 63% trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, trong khi ngành chăn nuôi đóng góp 35% Thành công này có được là nhờ vào các biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, và tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Lâm nghiệp và hiện trạng tài nguyên rừng
Trong những năm gần đây, huyện Đồng Hỷ đã có những bước tiến đáng kể trong sản xuất lâm nghiệp Người dân ngày càng nhận thức rõ vai trò và lợi ích của rừng trong bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội Sự gia tăng các hoạt động tích cực trong công tác gây trồng và quản lý bảo vệ rừng đã dẫn đến diện tích rừng trồng tăng lên, trong khi diện tích đất trống đồi núi trọc giảm Chất lượng rừng cũng được cải thiện đáng kể.
Theo đánh giá của phân viện điều tra qui hoạch rừng Đông Bắc Bộ, huyện Đồng Hỷ có hơn 50% diện tích đất đai phù hợp cho sản xuất lâm nghiệp, điều này thể hiện tiềm năng lớn của ngành lâm nghiệp không chỉ tại huyện mà còn cho toàn tỉnh Thái Nguyên.