1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật thái nguyên

150 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thái nguyên
Tác giả Đoàn Thị Thanh Tú
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Văn Hộ
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 905,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa đào tạo nghề chưa thích ứng với thị trường lao động, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu công nghiệp - khu chế xuất cả về số lượng và chất lượng, lạc hậu s

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ THANH TÚ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ THANH TÚ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60.14.01.14

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Văn Hộ

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2013

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Thanh Tú

Trang 4

Lời cảm ơn

Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn tới:

- Các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, phòng Đào tạo và Quản lý khoa học, khoa sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong thời gian học tập và nghiên cứu

- Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng và các khoa của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để tôi được tham gia khóa học này

- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS-TS Nguyễn Văn Hộ - Nguyên

hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Trưởng khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên người đã hết lòng chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn để tác giả có thể hoàn thành luận văn này

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm còn hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót Tác giả kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô và các anh chị đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2013

NGƯỜI THỰC HIỆN LUẬN VĂN

Đoàn Thị Thanh Tú

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ 6

Trang 6

1.3.1 Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 29

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

62

đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

64

2.3.2 Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng

Kinh tế - Kỹ thuật

72

2.3.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý dạy học trong đào tạo nghề tại

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

87

Chương 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO

NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẢNG KINH TẾ - KỸ THUẬT

97

3.1 Định hướng phát triển Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật và

nguyên tắc xác định biện pháp quản lý

97

Trang 7

3.1.5 Tăng cường và đổi mới các lĩnh vực quản lý 100

3.2.1 Biện pháp 1 - Phát triển và điều chỉnh chương trình đào tạo trình

độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề theo hướng đáp ứng sản xuất

100

3.2.2 Biện pháp 2 - Điều chỉnh nề nếp công tác quản lý trong chỉ đạo,

giám sát kế hoạch, nội dung, chương trình dạy học

101

3.2.3 Biện pháp 3 - Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng

phát huy tính tích cực, chủ động của người học

104

3.2.4 Biện pháp 4 - Nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của giáo

viên trong quản lý dạy học trên lớp và chuẩn bị giảng dạy

108

3.2.5 Biện pháp 5 - Giám sát và hướng dẫn khai thác, sử dụng cơ sở vật

chất - kỹ thuật dạy học hiệu quả hơn

112

3.2.6 Biện pháp 6 - Xây dựng nề nếp học tập nghiêm túc và môi trường

học tập thân thiện trong trường và lớp của HSSV trong đào tạo

Trang 8

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

đến năm học 2011 – 2012

68

đào tạo nghề qua đánh giá của CBQL và GV

78

trình đào tạo qua đánh giá của CBQL và GV

79

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, bức xúc và là mối quan tâm của toàn xã hội Do thiếu quy hoạch hệ thống đào tạo nghề, cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế Số trường dạy nghề có nhiều nhưng nhìn chung quy mô nhỏ Ở nước ta hiện nay đang tồn tại mất cân đối giữa đào tạo công nhân với đào tạo cán bộ trung cấp và đại học, ở các nước tỷ lệ lao động phổ thông chỉ chiếm 35% thì ở Việt Nam là 88% Tỷ lệ công nhân lành nghề ở các nước là 35% thì ở Việt nam là 5,5% Lao động kỹ thuật trung cấp cũng vậy: 24,5% ở các nước công nghiệp và 3,5% ở Việt nam Nếu các nước công nghiệp có cơ cấu nhân lực là 1 kỹ sư - 4,9 kỹ thuật viên - 7 công nhân lành nghề và bán lành nghề, còn ở Việt nam tỷ lệ 1 kỹ sư - 1,29 kỹ thuật viên - 2,43 công nhân lành nghề và bán lành nghề, cho thấy tình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ biến Hơn nữa đào tạo nghề chưa thích ứng với thị trường lao động, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu công nghiệp - khu chế xuất cả về số lượng và chất lượng, lạc hậu so với các nước trong khu vực, chưa có chính sách thu hút trọng dụng người tài, tạo môi trường cạnh tranh, công bằng lành mạnh

Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đang đòi hỏi bức xúc nhu cầu về nguồn nhân lực – một lực lượng đông đảo có đủ kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, nhất là trong giai đoạn nước ta vừa mới gia nhập tổ chức thương mại Thế giới ( WTO) Đảng và Nhà nước ta đã có những chiến lược, chính sách ưu tiên để đầu tư phát triển lĩnh vực

Trang 12

này Nghị quyết của đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: " Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với

hệ thống các trường đào tạo nghề Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động

Để hiện đại hóa nền kinh tế, trước mắt phải tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục theo 7 nhóm giải pháp lớn được đề ra trong

Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 - 2010 “Trong đó, đổi mới chương trình

giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm, đổi mới quản

lí giáo dục là khâu đột phá” [2] Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng

cao về nguồn nhân lực, vấn đề đào tạo công nhân lành nghề đáp ứng nhu cầu của xã hội đang trở thành vấn đề quan trọng và cấp bách của các cơ sở đào tạo nghề Nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt, đời

sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [5] Mục tiêu phát

triển giáo dục nghề nghiệp trong Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 đã

chỉ rõ: “Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý

thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại Gắn đào tạo với nhu cầu

sử dụng, gắn việc làm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất”, “Con người

và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục, trong đó ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực”[2]

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên là một trường đào tạo đa ngành, đa nghề Nhiệm vụ của trường là: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn trong các lĩnh vực:

Trang 13

Kinh tế, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật giao thông, kỹ thuật quản lý đất đai, kỹ thuật nông lâm và đào tạo nghề Song song với việc đào tạo, trường có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi phía Bắc Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Đại học Thái Nguyên và

ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, khẳng định được chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho tỉnh Thái Nguyên và một số tỉnh khác Định hướng trong những năm tiếp theo: Trường phấn đấu xây dựng, phát triển trở thành một trường Đại học đa cấp, đa ngành đào đạo nguồn nhân lực có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp cao đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển kinh tế trong khu vực và toàn quốc Trên cơ sở mục tiêu đó Nhà trường xác định nhiệm

vụ trọng tâm là tập trung mọi nguồn lực, không ngừng nâng cao chất lượng giảng viên, chất lượng đào tạo, đặc biệt là chất lượng đào tạo nghề

Trước tình hình này, nhiều năm qua nhà trường đã có một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề Điều đó đặt ra cho nhà trường phải xem xét một cách tổng thể việc tổ chức, quản lý chất lượng đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho học sinh, sinh viên cao đẳng nghề và trung cấp nghề Vấn đề ở đây là quản lý đào tạo nghề chưa thực sự phù hợp, ngay từ quan niệm cho đến cách làm Do đặc thù của việc dạy nghề nên các biện pháp quản

lý đào tạo nghề phải khác với quản lý ở hệ cao đẳng và đại học Xuất phát từ

những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: " Quản lí hoạt động đào tạo

nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên"

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực trạng quản lí hoạt động đào tạo nghề đề xuất một số giải pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Trang 14

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các giải pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

3.2 Khách thể nghiên cứu:

Công tác quản lí hoạt động đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế

- Kỹ thuật

4 Giả thuyết khoa học của đề tài:

Nếu các giải pháp quản lí đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Kinh tế -

Kỹ thuật tập trung vào việc thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, quản lí và sử dụng cơ sở vật chất hợp lý và có hiệu quả thì hoạt động quản lí đào tạo nghề sẽ có hiệu lực hơn và tác động tích cực hơn đến kết quả đào tạo

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận việc quản lí hoạt động đào tạo nghề 5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng trong quá trình quản lí đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lí hoạt động đào tạo nghề của các lớp cao đẳng nghề và trung cấp nghề tại trường Cao đẳng Kinh tế -

Kỹ thuật

7 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây đã được thực hiện trong quá trình chúng tôi làm nhiệm vụ nghiên cứu:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tổng quan lý luận trên tư liệu các văn bản chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước về công tác dạy nghề

- Phân tích và khái quát hóa lý luận về đào tạo nghề, dạy học, công

Trang 15

tác quản lí, quản lí giáo dục, quản lí trường học và quản lí dạy học

- Phương pháp so sánh để tìm hiểu các lý thuyết trong nước và ở

nước ngoài có liên quan

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm

- Phương pháp tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm quản lí dạy học

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thăm dò ý kiến của cán bộ

quản lí, giáo viên và học sinh, sinh viên

- Phương pháp phân tích hồ sơ quản lí

7.3 Các phương pháp khác:

- Phương pháp sử dụng thống kê toán học: thu thập xử lý các thông

tin số liệu điều tra và nghiên cứu các hồ sơ thống kê

- Lấy ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác quản

lí giáo dục đào tạo nghề

8 Cấu trúc luận văn

Mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, khách thể và đối tượng

nghiên cứu, giả thiết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, giới hạn, phạm vi và

phương pháp nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lí đào tạo nghề

Chương 2: Thực trạng quản lí quá trình đào tạo nghề tại Trường Cao

đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề

tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

Kết luận và khuyến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 16

đã rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập rèn kỹ năng kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất [41] Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia khác như Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Phần Lan, [42] Trong đó đều đề cập tới yếu tố quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục Trong “ Technical and Vocational education and training for the twentyfirst centry: UNESCO and ILO wecommendations (Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI: các khuyến nghị của tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc), John Daniel và Goran Hultin [38] đã đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu phát triển đào tạo nghề với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữa đào tạo với sự biến động của thị trường lao động, sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt Các tác giả đã khẳng định cho rằng: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về đào tạo nghề cần lưu tâm tới mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước, người sử dụng lao động và các cơ sở sản xuất

Trang 17

Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực- đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp, hình thức, qui mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau song có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và quản lí quá trình đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp

Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản phát triển đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo Quá trình đào tạo cũng như quản lí đào tạo nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống Cho đến ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học

Cũng theo T.V Cuđrisep, để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên cần thiết phải có nhận thức lại, theo tác giả sự hình thành nghề của thế hệ trẻ trong điều kiện của giáo dục và dạy học là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất Quá trình hình thành nghề trải qua bốn giai đoạn nhưng chúng có sự gắn

bó mật thiết với nhau Quan điểm này của tác giả đã tạo nên nhận thức mới về

sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Đối với dạy nghề hay giáo dục nghề nghiệp, trên thế giới ở mỗi quốc gia

có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ văn minh khác nhau mà hệ thống giáo dục dạy nghề cũng khác nhau Nhưng hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạch hệ phổ thông

và trung học

1.1.2 Ở Việt Nam

Đào tạo nghề nói chung và quản lý hoạt động đào tạo nghề nói riêng là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong đó có thể kể tới một

Trang 18

số công trình sau: Giáo sư Vũ Ngọc Hải trong bài viết "Cung - Cầu giáo dục" [15] đã đề cập tới những thay đổi trong quan hệ cung - cầu và những bất cập trong đào tạo nhân lực với các biểu hiện như sự không tương thích giữa đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội, ngành nghề đào tạo chưa gắn với thị trường lao động, trình độ đào tạo không phù hợp với đòi hỏi của việc làm Từ đó, ông đề xuất một số giải pháp đảm bảo hài hoà mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao động

Giáo sư Phan Văn Kha trong cuốn " Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" [21] đã phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn với những giải pháp tăng cường sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố quản lý đào tạo nghề của cả hệ thống và ở mỗi cơ sở

Tác giả Nguyễn Đức Trí với công trình " Nghiên cứu ứng dụng đào tạo nghề theo Môđun kỹ năng hành nghề" [31] đã thiết lập cơ sở lý luận quá trình đào tạo nghề theo môđun kỹ năng thực hành nghề, đưa ra quy trình biên soạn

và quy trình tổ chức đào tạo theo phương thức này nhằm đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sử dụng nguồn nhân lực

Các tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (Đồng chủ biên) với công

trình "Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" [10] đã

thiết lập cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về phát triển lao động kỹ thuật, đề xuất một số giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010, trong đó đưa ra giải pháp quản lý nội dung, chương trình và quản lý tổ chức quá trình đào tạo nhằm đạt tới sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng

Luận án tiến sĩ của Phan Chính Thức với đề tài "Những giải pháp phát

triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá" [30] đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của đào tạo

Trang 19

nghề, đề xuất một số giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội

Qua phân tích đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên, trung cấp và công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ

sở đào tạo Hình thức đào tạo nghề nghiệp phong phú và đa dạng: đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy; đào tạo tại các trường hay các trung tâm dạy nghề Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được

các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam được hình thành trên 50 năm Điều 32 Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề

Những vấn đề về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó còn Tổng cục dạy nghề Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp,

tâm lý học lao động như các nhà nghiên cứu: Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc

Trang 20

Đường, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương đã chủ động nghiên cứu những

khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề Đặc biệt, một

số nhà nghiên cứu khác như: Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ

Lộc đã đi sâu nghiên cứu về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường Tuy nhiên,

sau đó những nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề ở nước ta bị lắng xuống, ít được chú trọng Chỉ đến những năm gần đây vấn đề đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm nghiên cứu trở lại thông qua những đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lí giáo dục Những nghiên cứu này đã ít nhiều khái quá hoá và làm rõ được những vấn đề lý luận và đề xuất những biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả quản lí quá trình đào tạo nghề nói

chung và hoạt động dạy nghề nói riêng

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm quản lí

- Thomas J Robins - Wayned Morrison cho rằng: “Quản lí là một nghề

nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [40, tr 59]

- Theo H.Koortz (người Mỹ): “Quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm

đảm bảo sự phối hợp những lỗ lực cá nhânđể đạt được mục đích của tổ chức, mục tiêu quản lí hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được trong đó con người có thể đạt được mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân” [37, tr 33]

Trong giáo trình quản lí hành chính Nhà nước của Học viện hành chính

quốc gia chỉ rõ: “Quản lí là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã

hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lí” [9, tr 8]

Còn tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lí là sự tác động của chủ

thể quản lí để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí nhà quản lí, phù hợp với quy luật khách quan” [29, tr 1]

Trang 21

Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lí là sự tác động qua

lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí qua con đường

tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lí và hành động của các đối tượng quản lí, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [11, tr 55]

Tóm lại: các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này

hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lí là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định Hay nói một cách khái quát nhất: quản lí là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra

Khái niệm quản lí bao hàm một ý nghĩa chung là:

- Quản lí là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Quản lí là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức

- Quản lí là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm

- Quản lí là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia

- Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản

lí lên đối tượng quản lí, thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định

Trong công tác quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí, khách thể quản lí quan hệ với nhau bằng các tác động quản lí Quá trình quản lí phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung Khi thực hiện nhiệm vụ quản lí, chủ thể quản lí

Trang 22

luôn hướng theo mục đích quản lí đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản

lí thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lí bao hàm các khía cạnh:

Hệ thống quản lí gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lí với đối tượng quản lí Khi chỉ ra chủ thể quản lí thì phải chỉ ra đối tượng quản lí và ngược lại

Nếu ta trả lời được câu hỏi: Ai quản lí? Thì ta đã xác định được chủ thể

quản lí Chủ thể quản lí có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ thể lập nên Cá nhân làm chủ thể quản lí được gọi chung là CBQL Nếu xét ở góc độ vĩ mô toàn cầu thì đó là Tổng thư ký Liên hợp quốc; ở một nước là Chủ tịch hoặc Thủ tướng; ở trong một ngành là Bộ trưởng, ở góc độ vi

mô một doanh nghiệp là Giám đốc; ở một nhà trường là Hiệu trưởng

Còn nếu trả lời được câu hỏi: Quản lí ai? Quản lí cái gì? ta sẽ xác định được

đối tượng quản lí Đối tượng quản lí có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể hoặc có thể là một sự việc Khi đối tượng quản lí

là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại diện có thể trở thành chủ thể quản lí cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc

Ví dụ: Như ở một Trường TCCN thì Trưởng khoa là đối tượng quản lí của Hiệu trưởng nhưng cũng lại là chủ thể quản lí của Trưởng tổ môn Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tượng quản lí là người hoặc tổ chức được con người đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể

Giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lí nảy sinh các động lực quản lí, còn khách thể quản lí thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lí

Công cụ quản lí là các phương tiện mà chủ thể quản lí dùng để tác động đến đối tượng quản lí như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch

Trang 23

Phương pháp quản lí là cách thức tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí Phương pháp quản lí rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính - tổ chức, phương pháp tâm lí - giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau

Mục tiêu của quản lí là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người

Ph

Hình 1.1 Sơ đồ logic của khái niệm quản lí

Như vậy: ở đâu có những hoạt động chung thì nơi đó có sự quản lí Để đạt được những mục tiêu đã định Quản lí phải thực hiện bốn chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong đó:

+ Kế hoạch hoá: là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác định mục đích chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu rủi

ro, hạn chế phát sinh, lãng phí Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xẩy ra, những ý tưởng của chủ thể quản lí để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu Đây là bước cơ sở cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo của quản lí

Phương pháp QL

Mục tiêu quản lý

Khách thể quản lý

Trang 24

+ Tổ chức thực hiện: là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm

vụ Tổ chức là xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lí tác động đến các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tượng quản lí để đạt hiệu quả cao nhất Tổ chức giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch

LêNin đã từng nói về công tác tổ chức: "Hãy cho tôi tổ chức những

người Bônsêvích chân chính có kỷ luật tôi sẽ làm đảo tung nước Nga bảo thủ, man dợ" Câu nói bất hủ ấy của Lê Nin cho chúng ta hiểu rõ tổ chức và vai trò

của tổ chức Người còn nói: "Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp

vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức" Khi giai cấp đã nắm chính

quyền rồi, người còn nói: "Lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của cuộc

cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức" Thực hiện nhiệm vụ của một

ngành hay một cơ quan bất kỳ nào trong hệ thống chính trị của chúng ta cũng đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức thích hợp

+ Chỉ đạo: là công việc thường xuyên của người quản lí nhằm tác động đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lí luôn phục tùng, phát huy tính tự giác và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm vụ đã phân công Nói cách khác đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu đã định

+ Kiểm tra đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp quản lí nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lí để kiểm soát hoạt động của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy đạt được mục tiêu Có thể nói: Kiểm tra là tai mắt của quản lí

Trong công tác lãnh đạo, quản lí và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói: "không có

kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo" Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra

Trang 25

đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lí là việc

làm không thể thiếu của chủ thể quản lí

Quyết định quản lí: là sản phẩm của người quản lí trong quá trình thực hiện các chức năng quản lí Quá trình quản lí được thể hiện qua sơ đồ (hình 1.2)

Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu:

“Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” Với khái niệm trên quản lí phải bao gồm các yếu tố (các điều

- Quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí và đối tượng bị quản lí

- Quản lí bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược nhau

TỔ CHỨC

KIỂM TRA

KẾ HOẠCH HOÁ

CHỈ ĐẠO

Thông tin quản lí, Quyết định quản lí

Trang 26

- Quản lí bao giờ cũng có khả năng thích nghi

Hoạt động và các quan hệ quản lí chính là đối tượng của khoa học quản

lí Quản lí ra đời chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với việc làm của từng cá nhân riêng rẽ của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung gần gũi với nhau Nói một cách khác, thực chất của quản lí là quản lí con người trong tổ chức, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của tổ chức Ngày nay, công tác quản lí được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội là vốn - nguồn lực lao động - khoa học kỹ thuật công nghệ - tài nguyên và quản lí Trong đó quản lí có vai trò quyết định sự thành bại của công việc

1.2.2 Quản lí giáo dục

Quản lí giáo dục cũng như quản lí xã hội là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình

Xét ở cấp vĩ mô, cấp quản lí một nền/ hệ thống giáo dục:

Theo D.V Khuđominxki thì: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ

thống, có kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [35, tr 33]

Theo tác giả Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân thì: “Quản lí giáo dục là

những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu

xã hội” [23, tr 14]

Còn theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của

chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ

Trang 27

cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [20, tr 10]

Còn xét ở cấp vi mô, cấp quản lí một nhà trường/ cơ sở giáo dục:

Theo học giả nổi tiếng M.I Konđakốp: "Quản lí giáo dục là tập hợp

những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [39, tr 93]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế

hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái

về chất" [12, tr 7]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí giáo dục vi mô được hiểu là những

tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, CNV, tập thể HSSV, cha mẹ HSSV và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục của nhà trường” [20, tr 12]

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lí nhà trường là thực hiện đường

lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [25, tr 61]

Tóm lại: Quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của

ngành giáo dục, nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục

Trang 28

1.2.3 Nghề và đào tạo nghề

1.2.3.1 Nghề

Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm,

theo sự phân công của xã hội” Khái niệm nghề của Nga được định nghĩa “là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sống” Khái niệm nghề của Pháp được định nghĩa “là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống” Ở Đức, nghề được định nghĩa “Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó” Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao

động vừa mang tính xã hội (sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi

để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và của cá nhân

Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, chuyên môn nhất định Khi tìm hiểu

về khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn nghề và phân loại nghề vì nó là cơ sở để xác định nội dung đào tạo nghề và cấp trình độ đào tạo Đặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:

Trang 29

nên phân loại nghề có nhiều loại: Nghề dạy học, nghề tiện, nghề điện, nghề thủ công mỹ nghệ

1.2.3.2 Đào tạo nghề

Trong “Bách khoa toàn thư Việt Nam”, khái niệm đào tạo nói chung là

quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người

đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người

Như vậy đào tạo nghề là một quá trình tác động có chủ đích của con người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hoá nghề nghiệp (nhân cách) của họ, thể hiện trên 3 mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia

1.2.3.3 Vai trò của Đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội:

Theo quan niệm của Liên hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Nhờ có nền tảng giáo dục-đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kĩ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế Như vậy có thể thấy, giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng Nhờ có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức

và kĩ năng nghề của mình

Trang 30

Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô và cơ cấu giáo dục- đào tạo nghề và qua đó, quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác nhau Nếu như ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục - đào tạo theo trật tự

ưu tiên sẽ là giáo dục phổ thông - giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học (và

cơ cấu nhân lực sẽ là lao động phổ thông - công nhân kỹ thuật bậc thấp và bậc trung- lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý); thì ở thời kỳ nền kinh tế phát triển cao (nhất là trong nền kinh tế tri thức), cơ cấu trên sẽ là giáo dục đại học- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông (và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý- công nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp - lao động phổ thông) hoặc trong thời kỳ…Ngược lại, giáo dục - đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhận thức rõ được vai trò của giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và qua đó tạo ra sự phát triển tương lai, Chính phủ của nhiều nước đã có chiến lược dài hạn phát triển giáo dục - đào tạo và đầu tư thỏa đáng ngân sách cho lĩnh vực này Chẳng hạn, hàng năm, Mỹ

đã chi khoảng 5%-7% GDP cho việc đào tạo và phát triển nhân tài, các nước công nhiệp phát triển khác cũng đầu tư cho giáo dục - đào tạo rất lớn, như Hà Lan 6,7% GDP, Pháp 5,7%, Nhật 5,0 Ngoài ra, Chính phủ các nước công nghiệp phát triển còn có chính sách huy động sự tham gia mạnh mẽ cuả các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn đầu tư cho phát triển giáo dục nghề nghiệp, nhất là phát triển các trung tâm đào tạo chất lượng cao, tạo ra những nhà kỹ thuật, những nhà phát minh, sáng chế hàng đầu trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, tạo cho Nhật bản một vị thế là cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới

Ngay ở Đông Nam Á, một số nước cũng đã có chiến lược đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo nghề khá ấn tượng, trong đó phải kể đến Brunei Để trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức và kỹ năng trong một thế giới hiện đại, Quốc vương đã đề ra một số định hướng về chiến lược được gọi là " Hệ thống

Trang 31

giáo dục quốc gia cho thế kỷ XXI - SPN 21", hướng tới đào tạo con người phát triển cả về trình độ và kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của các ngành, nghề cần thiết trong những thập niên đầu thế kỷ mới; đồng thời, nâng cao trình độ kiến thức và

kỹ năng cho đội ngũ giáo viên, những người làm công tác giảng dạy, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo thế hệ tương lai…

Ở nước ta, ngay từ Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Phát triển giáo dục- đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Phát triển giáo dục - đại học gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; thực hiện công bằng trong giáo dục

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã đề ra chủ trương phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triển mạnh

hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động” và “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề” Đặc biệt Dự thảo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 sẽ được trình tại Đại hội lần thứ XI cũng đã nêu rõ: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá chiến lược…Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm, nhất là

ở nông thôn và vùng đô thị hoá; hỗ trợ các đối tượng chính sách, người nghèo học nghề

Đây là những định hướng rất cơ bản, là căn cứ để phát triển đào tạo nghề, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta trong giai đoạn tới./

Trang 32

Bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào, muốn đạt kết quả tốt bao giờ cũng phải đảm bảo 2 mặt chủ yếu:

- Tính chính xác, nhanh gọn của các thao tác, động tác chính là kỹ xảo

- Cách tổ chức sản xuất, hình thành kỹ năng, phát triển tư duy

Vai trò cốt lõi của đào tạo nghề là hình thành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo nghề và phát triển khả năng hành dụng trên cơ sở những liên hệ hữu cơ giữa tri thức, kỹ năng và kỹ xảo

1.2.4 Nhu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề:

Công tác dạy nghề hiện nay còn thiếu gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp (DN) mặc dù DN đã bắt đầu chủ động hơn trong việc liên kết với các cơ sở dạy nghề nhằm tuyển dụng lao động có tay nghề Một số DN cũng hỗ trợ nhà trường nghề việc tạo điều kiện cho học viên thực tập, thực hành Về phía nhà trường cũng đã chủ động liên kết đào tạo với DN Tuy nhiên, việc đóng góp ý kiến phản hồi về xây dựng chương trình đào tạo để nhà trường có sự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tế của DN vẫn chưa được sự chú trọng, quan tâm của

DN Còn nhà trường thì chưa khảo sát nhu cầu nhân lực của DN, mới đào tạo theo cái mình có nên hiệu quả mang lại chưa cao

Làm thế nào để phát huy nguồn nhân lực có tay nghề? Trước hết, nhà trường cần liên kết với các trường nghề trong việc cung ứng lao động, cung cấp thông tin đào tạo bám sát vào nhu cầu thực tế của DN Nhà trường và DN đều cần có một hệ thống thông tin về thị trường lao động, những nhận định đánh giá định kỳ về cơ cấu đào tạo, nhu cầu việc làm và những chính sách của nhà nước đối với học sinh học nghề nhằm khuyến khích và phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở Đa số các DN đều muốn tạo điều kiện cho học sinh nghề được thực hành thực tế tại DN

Chính vì vậy Nhà nước có thể nghiên cứu thành lập một cơ quan điều phối chung về phát triển nhân lực Sự liên kết sẽ đạt được hiệu quả cao và thiết thực khi DN và cơ sở dạy nghề có liên kết trong việc đặt hàng đào tạo của DN, cung

Trang 33

ứng lao động có chất lượng cao của cơ sở dạy nghề và sự phối hợp trong công tác đào tạo từ hai phía Mô hình người học nghề học lý thuyết vài tháng tại trường, sau đó thực hành tại DN một vài tháng theo chương trình luân phiên hiện nay có thể nói là mô hình được nhà lãnh đạo, DN và cơ sở dạy nghề cho là khả thi và có hiệu quả nhất

Mặt khác, về phía Nhà nước trong thủ tục thành lập DN Nhà nước cần có quy định bắt buộc cam kết phối hợp với các cơ sở dạy nghề để cùng tham gia đào tạo nghề cho DN và cho xã hội DN phải trích lập quỹ hỗ trợ học nghề tại

DN Các khoản chi cho đào tạo lực lượng lao động và nghiên cứu khoa học được tính là cho phí sản xuất hợp lý Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức các yếu tố cạnh tranh trong quá trình tham gia thị trường lao động của các DN, cơ

sở đào tạo và người lao động về chất lượng nguồn nhân lực

Cần xác định được khung chương trình đào tạo phù hợp, có chất lượng phù hợp với nhu cầu công việc xã hội và các DN Hạn chế việc đào tạo tự phát không đảm bảo chất lượng gây tình trạng thừa thiếu lao động và gia tăng thất nghiệp Có sự đồng bộ giữa hoạt động hướng nghiệp, tuyển sinh, đào tạo, thực hành với nhu cầu sử dụng lao động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các DN cũng như nhà trường

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng , Nhà nước, của các cấp , các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa nông nghiệp , nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn,

có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn ; chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị

Trang 34

trường lao động ; gắn đào tạo nghề với chiến lược , quy hoạch , kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương

theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ , được bắt đầu triển khai thực hiện trong bối cảnh năm 2010 là năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và chuẩn bị kế hoạch 5 năm 2011-2015, đồng thời cũng là năm diễn ra Đại hội Đảng các cấp và là năm bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) về xây dựng nông thôn mới ; cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn đang tác động trực tiếp tới phát triển kinh tế và việc làm nước ta Bối cảnh trên vừa có những điểm thuận lợi nhưng cũng có không ít những khó khăn , thách thức tác động đến việc triển khai thực hiện Đề án

Nhận định đây là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tổ chức hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ xã, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trong khu vực nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tỉnh Lào Cai đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách đồng bộ và đạt hiệu quả bước đầu 100% các huyện, thành phố đã xây dựng Đề án và thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ), xây dựng quy chế BCĐ, 100% số xã đã thành lập BCĐ hoặc thành lập tổ công tác giúp việc Đã tăng cường năng lực cho các trung tâm dạy nghề Bố trí lực lượng tuyên truyền xuyên suốt từ tỉnh đến các thôn bản, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở ban ngành và các địa phương

1.2.5 Quản lí nhà trường, quản lí đào tạo nghề:

1.2.5.1 Quản lí nhà trường:

Nhà trường với tư cách là một thể chế nhà nước - xã hội, trực tiếp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương Quản lí nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái

Trang 35

đang có tiến lên trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát

triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục

Trong quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học là nội dung quan trọng Quản lí dạy học là tác động hợp qui luật của chủ thể quản lí dạy học đến chủ thể dạy học bằng các qui định pháp lý về GD-ĐT, Bộ máy tổ chức, nhân lưc, nguồn lực, tài lực dạy học và thông tin môi trường dạy học nhằm đạt được

mục tiêu quản lí dạy học Theo Đặng Thành Hưng (Giáo trình Giáo dục so

sánh, 1998) coi quản lí nhà trường là quản lí giáo dục ở cấp cơ sở, phản ánh đầy đủ mục tiêu, chức năng, nội dung và phương tiện quản lí giáo dục trong phạm vi trường học Trong quản lí nhà trường có những đối tượng quản lí cụ thể tạo nên những lĩnh vực hay nội dung quản lí tương đối khác nhau, cụ thể

như sau:

- Quản lí hành chính và tài chính

- Quản lí hoạt động chuyên môn (hay quản lí chương trình giáo dục)

- Quản lí nhân sự (giáo viên, nhân viên, người học)

- Quản lí cơ sở hạ tầng kỹ thuật

- Quản lí các quan hệ giáo dục trong nhà trường, giữa nhà trường với gia đình, cộng đồng địa phương

1.2.5.2 Đào tạo nghề và quản lí đào tạo nghề:

* Đào tạo nghề:

Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mổi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là:

+ Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

Trang 36

+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định” Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động

để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề

Quản lí quá trình đào tạo nghề thực chất là quản lí các yếu tố sau theo một trình tự, qui trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo Các yếu tố đó là:

+ Mục tiêu đào tạo nghề

+ Nội dung đào tạo nghề

+ Phương pháp đào tạo nghề

+ Hình thức tổ chức đào tạo nghề

+ Hoạt động dạy nghề (chủ thể là thầy, cô)

+ Hoạt động học nghề (chủ thể là học trò)

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề

+ Môi trường đào tạo nghề

+ Tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo nghề trong kiểm tra, đánh giá

+ Tổ chức bộ máy đào tạo nghề

Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau

* Quản lí đào tạo nghề:

Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lí đào tạo nghề cần tiến hành các bước theo quy trình như quản lí giáo dục kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình quản lí công tác đào tạo các yếu tố trên luôn luôn vận động và tác động qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lí Do vậy, Nhà quản lí phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lí các sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục, đào tạo và nhà trường phát

triển liên tục

Trang 37

Nhiệm vụ của quản lí đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội

Đào tạo nghề là một lĩnh vực bao gồm tất cả các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục học sinh Đó là công việc kết nối mục tiêu đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo, thực hiện chương trình và các vấn

đề liên quan đến giảng dạy, giám sát, kiểm tra, đánh giá cùng các qui trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng mà nhà trường đào tạo Vì vậy quản lí đào tạo nghề chính là quá trình xử lý tình huống có vấn

đề trong quá trình đào tạo để nhà trường phát triển

1.2.5.3 Đào tạo thực hành nghề và quản lí đào tạo thực hành nghề

* Đào tạo thực hành nghề:

Lý luận dạy nghề với tư cách là một bộ môn của giáo dục học nghề nghiệp, là lý thuyết của dạy học trong đào tạo nghề nghiệp và cũng chính là lý thuyết của dạy học nói chung Dạy học là quá trình giáo dục và giáo dưỡng có

kế hoạch, có mục tiêu do giáo viên tổ chức và chỉ đạo trong quá trình đào tạo Đào tạo thực hành nghề là một quá trình sư phạm giải quyết các nhiệm vụ

do giáo viên thực hành và học sinh học nghề tổ chức thực hiện một cách khoa học có mục đích nhằm tạo những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho người công nhân tương lai Như vậy, trong quá trình dạy học thì cả người dạy lẫn người học đều tham gia vào quá trình ấy, sự chỉ đạo của giáo viên được thể hiện ở những điểm sau:

- Xác định mục đích và nội dung của việc đào tạo

- Xác định nhiệm vụ của việc đào tạo

- Xác định tiến trình phương pháp và tổ chức đào tạo

- Xác định các phương tiện giảng đào tạo

Trang 38

Quá trình dạy thực hành nghề nói riêng là một hệ thống hoàn chỉnh các yếu tố sau:

- Mục tiêu đào tạo

- Nội dung đào tạo

- Phương pháp đào tạo

- Phương tiện đào tạo

- Các mối quan hệ (thuận, ngược, liên nhân cách)

* Quản lí đào tạo thực hành nghề:

Quá trình dạy học trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo nghề nói riêng thường được phân chia ra một cách tương đối thành hai quá trình bộ phận là dạy học lý thuyết và dạy học thực hành Dấu hiệu quan trọng của quá trình dạy học đặc biệt là dạy thực hành trong GDCN là dạy học không phải chủ yếu là truyền đạt, cung cấp thông tin mà chủ yếu là phải hình thành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo, phát triển khả năng tìm tòi, phát hiện, quản lí và xử lý thông tin thành sản phẩm có ý nghĩa đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp

Dạy lý thuyết nghề là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống tri thức chung và tri thức lý thuyết nghề nghiệp, trên cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ cũng như giáo dục cơ sở thế giới quan khoa học, hình hành những phẩm chất đạo đức cho học sinh Dạy học thực hành nghề có nhiệm vụ chủ yếu là truyền đạt và tiếp thu

kỹ năng, kỹ xảo, hình thành ý thức thái độ nghề nghiệp và những kinh nghiệm thực tiễn của xã hội Dạy thực hành là một quá trình giáo dục và giáo dưỡng được tổ chức có kế hoạch là một quá trình giảng dạy, học tập và lao động Quá trình ấy cùng với quá trình giảng lý thuyết và hoạt động ngoài giờ tạo nên một

Trang 39

thể thống nhất trong đào tạo nghề Rõ ràng là sự phân chia tương đối QTDH trong đào tạo nghề như vậy là dựa vào chức năng, nhiệm vụ của dạy lý thuyết

và dạy thực hành nghề Hai quá trình thường được bổ xung cho nhau, thống nhất với nhau, được tổ chức thực hiện xen kẽ, thay đổi và kế thừa nhau Hiện nay chúng ta đang áp dụng thực hiện thống nhất quá trình dạy lý thuyết chuyên môn nghề với quá trình dạy thực hành nghề Hình thức đào tạo theo Module mà chúng ta đang triển khai thực hiện chính là làm ranh giới tương đối giữa dạy lý thuyết nghề và dạy thực hành nghề gắn bó chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, sự khác nhau trong phương pháp lĩnh hội, nhận thức đối với các tri thức lý thuyết

và các kỹ năng, kỷ xảo nghề nghiệp vẫn tồn tại khách quan trong quá trình dạy học ở đào tạo nghề

Quản lí đào tạo nghề chính là quản lí dạy học trong khi thực hiện các

nhiệm vụ và hoạt động học tập của người học nhằm vào mục tiêu đào tạo nghề

là hình thành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo, phát triển khả năng vận dụng tương ứng với môn học, ngành học hoặc chuyên môn nghề nghiệp Nội dung quản lí đào tạo nghề cũng bao gồm những mặt sau:

- Quản lí kế hoạch hoạt động thực hành

- Quản lí nội dung, kế hoạch, chương trình thực hành

- Quản lí việc sử dụng phương pháp thực hành

- Quản lí hoạt động hướng dẫn thực hành của giáo viên

- Quản lí hoạt động học tập thực hành của HSSV

1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ 1.3.1 Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Cơ chế thị trường là tổng thể hữu cơ của những mối quan hệ tiêu biểu ở các yếu tố cung cầu, giá cả, chịu sự chi phối của “bàn tay vô hình”hay các quy luật kinh tế (quy luật giá trị, quy luật lưu thông thị trường, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu hàng hóa) vốn có của KTTT đảm bảo nền KTTT có thể tự vận động, tự điều chỉnh

Trang 40

Tất yếu khách quan: Phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở trao đổi, chẳng những không mất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự chuyên môn hoá và hợp tác lao động đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và ngày càng mang tính quốc tế Trong nền kinh tế đã và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Trình độ sản xuất giữa các ngành, giữa các xí nghiệp trong cùng một hình thức

sở hữu vẫn chưa đều nhau, trong điều kiện đó giữa các doanh nghiệp còn có sự tách biệt về kinh tế nhất định Việc hoạch toán kinh doanh phân phối và trao đổi còn cần thiết phải thông qua hình thái hàng hóa - tiền tệ để thực hiện

Trên con đường đi lên của lịch sử phát triển nền kinh tế hàng hoá ở các nước XHCN đã xuất hiện mô hình “kinh tế chỉ huy” hay mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp Mô hình này xét về mặt thực chất là sự xóa bỏ các thành phần kinh tế với tư cách là cơ sỏ kinh tế của sự tồn tại và phát triển KTHH và trong mô hình đó quan hệ hàng hóa - tiền tệ hầu như bị hình thức hóa, nếu không muốn nói là bị phủ nhận Mô hình trên đã phải trả giá, buộc phải thay đổi mô hình, buộc phải chấn hưng và thừa nhận vai trò to lớn của KTTT, ở các nước phát triển trên thế giới đã sớm nhận ra điều này và đã vận dụng KTTT vào nền kinh tế, do đó KTTT trở thành phổ biến, là cái chung để các nước có nền kinh tế chậm phát triển áp dụng

Văn kiện Đại hội IX đã nêu: Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN, đặc biệt quan tâm đến các loại thị trường: Thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ (KH-CN) Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ để phát huy vai trò nòng cốt, định hướng và điều tiết của nền kinh tế nhà nước trên thị trường Đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước cả ở nông thôn và thành thị, chú ý các vùng có nhiều khó khăn Mỏ thêm thị trường mới ở nước ngoài Xác định thời hạn bảo

Ngày đăng: 18/10/2023, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao Động Thương Binh & Xã hội (2006), Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề
Tác giả: Bộ Lao Động Thương Binh & Xã hội
Năm: 2006
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2002). Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. Bộ Lao động TB&XH (2006), Quyết định số 76/2006/QĐ-BLĐTBXH Phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường CĐN, trường TCN, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 76/2006/QĐ-BLĐTBXH Phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường CĐN, trường TCN, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”
Tác giả: Bộ Lao động TB&XH
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
4. Chính Phủ (2002), Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg Về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2002-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg Về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2002-2010
Tác giả: Chính Phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
5. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
6. Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề
Năm: 2006
7. Quyết định số 58/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 09/6/2008 Về việc ban hành Quy định chương trình khung trình độ trung cấp nghề, chương trình khung đào tạo cao đẳng nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 58/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 09/6/2008 Về việc ban hành Quy định chương trình khung trình độ trung cấp nghề, chương trình khung đào tạo cao đẳng nghề
Năm: 2008
8. Tổng cục dạy nghề (1985), Một số vấn đề về tổ chức và lãnh đạo quá trình dạy học trong trường dạy nghề, NXB Công nhân kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tổ chức và lãnh đạo quá trình dạy học trong trường dạy nghề
Tác giả: Tổng cục dạy nghề
Nhà XB: NXB Công nhân kỹ thuật
Năm: 1985
9. Học viện hành chính Quốc gia (1992), Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước; Hà Nội.B. CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1992
10. Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2004
11. Nguyễn Bá Dương (1999), Tâm lí học cho người lãnh đạo. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học cho người lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
12. Phạm Minh Hạc (2007), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
13. Nguyễn Văn Hộ - Đặng Quốc Bảo (1997), Khái lược về Khoa học quản lí. Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái lược về Khoa học quản lí
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên
Năm: 1997
14. Nguyễn Thanh Hà (2007), “Chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy các môn học thực hành chuyên môn nghề”, Tạp chí Giáo dục (169) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy các môn học thực hành chuyên môn nghề
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2007
16. Nguyễn Hùng chủ biên (2008), Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
18. Trần Kiểm (1990): Quản lý giáo dục và quản lý trường học; Viện khoa học giáo dục; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục
Năm: 1990
19. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lí giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lí giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
20. Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục. Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2008
21. Phan Văn Kha (2007), Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
22. Mai Hữu Khuê (1982), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí. Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí
Tác giả: Mai Hữu Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ logic của khái niệm quản lí - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Hình 1.1. Sơ đồ logic của khái niệm quản lí (Trang 23)
Hình 1.2: Sơ đồ quá trình quản lí - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình quản lí (Trang 25)
Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng giảng viên từ năm 2009 – 2012 - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng giảng viên từ năm 2009 – 2012 (Trang 78)
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của trường - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của trường (Trang 80)
Bảng 2.3. Đối tượng và qui mô khảo sát - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.3. Đối tượng và qui mô khảo sát (Trang 85)
Bảng 2.4. Chất lượng cán bộ giáo viên - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.4. Chất lượng cán bộ giáo viên (Trang 86)
Bảng 2.6. Sự cần thiết và mức độ thực hiện kế hoạch, chương trình đào tạo qua đánh - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.6. Sự cần thiết và mức độ thực hiện kế hoạch, chương trình đào tạo qua đánh (Trang 89)
Bảng 2.7. Thực trạng quản lí thực hiện phương pháp dạy học - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.7. Thực trạng quản lí thực hiện phương pháp dạy học (Trang 91)
Bảng 2.8. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo nghề - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.8. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo nghề (Trang 92)
Bảng 2.9. Thực trạng quản lí hoạt động học tập - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.9. Thực trạng quản lí hoạt động học tập (Trang 94)
Bảng 2.10. Thực trạng quản lí đào tạo nghề - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.10. Thực trạng quản lí đào tạo nghề (Trang 95)
Bảng 2.11. Thực trạng quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật dạy học - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 2.11. Thực trạng quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật dạy học (Trang 96)
Bảng 3.2. Tính khả thi theo đánh giá của CBQL và GV - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 3.2. Tính khả thi theo đánh giá của CBQL và GV (Trang 129)
Bảng 3.3. Tính khả thi theo đánh giá của nhóm học sinh - Quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật thái nguyên
Bảng 3.3. Tính khả thi theo đánh giá của nhóm học sinh (Trang 130)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm