1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp sông công tỉnh thái nguyên

122 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp sông công tỉnh thái nguyên
Tác giả Nguyễn Hải Hạnh
Người hướng dẫn TS. Hoàng Thị Thu
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sỹ kinh tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế “Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên ” đã được triển khai nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN HẢI HẠNH

QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Thu

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế “Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên ” đã được triển khai nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên là công trình nghiên cứu độc lập; số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ cho bất cứ một học vị nào Ngoài ra nguồn

số liệu điều tra thực tế ở địa bàn nghiên cứu đã được xử lý

Tác giả đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc viết luận văn, các nguồn thông tin đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp

đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cảm ơn./

Thái nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều đơn vị, tổ chức và cá nhân Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thị Thu – Trưởng khoa Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi trân trọng cảm ơn phòng Quản lý Đào tạo sau đại học, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên; Các thầy cô giáo bộ môn trong các khoa của Nhà trường; Các thầy cô giáo trong Hội đồng bảo vệ đề cương luận văn, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của các đơn vị, cơ quan trên địa bàn thị xã Sông Công, Ban quản lý Khu công nghiệp Sông Công và các doanh nghiệp tại KCN Sông Công đã giúp tôi thực hiện thành công luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu đồ và hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp mới của luận văn 3

5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 5

1.1 Vốn kinh doanh trong DN 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Đặc trưng của Vốn kinh doanh 6

1.1.3 Vai trò của Vốn kinh doanh đối với DN 7

1.1.4 Phân loại vốn kinh doanh trong DN 8

1.2 Vốn lưu động trong DN 10

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động 10

1.2.2 Phân loại vốn lưu động 11

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động trong DN 13

1.2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp 14

1.3 Quản lý Vốn lưu động 19

1.3.1 Khái niệm quản lý và quản lý vốn lưu động 19

1.3.2 Nội dung cơ bản của quản lý vốn lưu động 20

1.4 Thực tiễn quản lý vốn lưu động đối với các doanh nghiệp 29

Trang 5

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính của Vodaphone 29

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính của các DN vừa và nhỏ Việt Nam 31

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DN TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG 34

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 34

2.2 Mô hình nghiên cứu giả định 34

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và tài liệu sơ cấp 36

2.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 38

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 39

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40

2.4.1 Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động 40

2.4.2 Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển 41

2.4.3 Mức doanh lợi vốn lưu động 41

2.4.4 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp 41

2.4.4.2 Phương pháp gián tiếp 42

2.4.5 Quản trị tồn kho dự trữ 42

2.4.6 Quản trị các khoản phải thu 43

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG 44

3.1 Tổng quan chung về các DN hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 44

3.1.1.Một số nét về Tỉnh Thái Nguyên 44

3.1.2 Sự phát triển của các DN trên địa bàn tỉnh TN 44

3.2 Đặc điểm về các DN tại khu công nghiệp Sông Công 48

3.2.1 Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển khu CN Sông Công 48

3.2.2 Giới thiệu khái quát tình hình triển khai hoạt động và kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công 50

3.2.3 Phân tích SWOT đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công 56

Trang 6

3.3 Thực trạng Công tác quản lý vốn lưu động của các DN tại khu công nghiệp

Sông Công 61

3.3.1 Vốn lưu động của các DN 61

3.3.2 Quản lý vốn lưu động của các DN tại khu công nghiệp Sông Công 66

3.3.3 Những khó khăn và hạn chế về quản lý vốn lưu động mà các DN tại khu công nghiệp Sông Công 77

3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn lưu động của các DN thuộc khu công nghiệp Sông Công 79

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG 97

4.1 Quan điểm định hướng 97

4.1.1 Mục tiêu tổng quát nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn lưu động của các DN tại khu công nghiệp Công Công 97

4.1.2 Mục tiêu cụ thể 98

4.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn lưu động của các DN tại khu công nghiệp Sông Công 99

4.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho 99

4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn bằng tiền 99

4.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các khoản phải thu 101

4.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đối với vốn lưu động khác 103

4.2.5 Hệ thống giải pháp chung cho các DN tại khu công nghiệp Sông Công 103

4.3 Kiến nghị 103

4.3.1 Kiến nghị đối với Nhà Nước 103

4.3.2 Kiến nghị đối với Tỉnh Thái Nguyên 104

4.3.3 Kiến nghị đối với Ban quản lý Khu Công nghiệp 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân phối tần số người trả lời 37

Bảng 2.2 Thang đo đánh giá 39

Bảng 2.3 Phương pháp thống kê 39

Bảng 3.1 Thống kê số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 48

Bảng 3.2 Thống kê diện tích đất sử dụng theo loại hình doanh nghiệp 51

Bảng 3.3 Thống kê lực lượng lao động tại các doanh nghiệp 52

Bảng 3.4 Thống kê lực lượng lao động trong các doanh nghiệp 53

Bảng 3.5 Thống kê lượng vốn đầu tư tại các doanh nghiệp 53

Bảng 3.6 Thống kê vốn đầu tư phân theo loại hình doanh nghiệp 54

Bảng 3.7 Thống kê doanh thu phân chia theo loại hình doanh nghiệp 55

Bảng 3.8 Thống kê lợi nhuận phân theo loại hình doanh nghiệp 56

Bảng 3.9 Vốn lưu động phân theo loại hình doanh nghiệp 62

Bảng 3.10 Cơ cấu vốn lưu động của các doanh nghiệp 63

Bảng 3.11 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 65

Bảng 3.12 Nhu cầu vốn lưu động trong kỳ sản xuất 66

Bảng 3.13 Thống kê chỉ tiêu thời hạn thu hồi nợ bình quân 73

Bảng 3.14 Thống kê chỉ tiêu kỳ thu hồi nợ bình quân 74

Bảng 3.15 Thống kê trình độ của lao động theo chức vụ 80

Bảng 3.16 Thống kê thâm niên công tác theo chức vụ 80

Bảng 3.17 Thống kê đánh giá mức độ của chính sách vốn lưu động 83

Bảng 3.18 Thống kê đánh giá mức độ quản lý tiền và tương đương tiền 85

Bảng 3.19 Thống kê đánh giá mức độ khoản phải thu 88

Bảng 3.20 Thống kê mức độ đánh giá quản lý hàng tồn kho 90

Bảng 3.21 Thống kê đánh giá mức độ công tác quản lý vốn lưu động khác 91

Bảng 3.22 Thống kê đánh giá mức độ quản lý tiền và tương đương tiền 92

Trang 9

Bảng 3.23 Thống kê đánh giá mức độ quản lý khoản phải thu 94 Bảng 3.24 Thống kê đánh giá mức độ thuận lợi và khó khăn trong quản lý vốn tồn kho 95 Bảng 3.25 Thống kê mức độ khó khăn và thuận lợi trong quản lý vốn lưu động khác 96

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 3.1 Số vòng quay hàng tồn kho 67

Biểu đồ 3.2 Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho 68

Biểu đồ 3.3 Thống kê vốn bằng tiền theo loại hình doanh nghiệp 72

Biểu đồ 3.4 Thống kê tỉ lệ khoản phải thu trong tổng nguồn vốn lưu động 75

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ phần trăm của các khoản vốn lưu động khác 76

so với tổng vốn lưu động 76

Hình 2.1 Mô hình đánh giá công tác quản lý vốn lưu độngcủa các DN thuộc khu công nghiệp Sông Công……… 35

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, là nơi tổ chức kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tạo nguồn tích luỹ cho xã hội phát triển

Trong nền cơ chế thị trường đầy cạnh tranh mỗi doanh nghiệp để tồn tại và đứng vững trên thị trường thì cần phải xác định đúng mục tiêu hướng đi của mình sao cho có hiệu quả cao nhất, trước đòi hỏi của cơ chế hạch toán kinh doanh về vốn mỗi doanh nghiệp cần phải tính toán chi tiết và tường tận mọi yếu tố về vốn để có thể nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang trở thành mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp

Để hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt thì ngay từ đầu quá trình sản xuất doanh nghiệp cần phải có vốn để đầu tư và sử dụng số vốn đó sao cho hiệu quả nhất, hợp

lý và có thể tiết kiệm được vốn mà hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn cao, khi đầu tư

có hiệu quả doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh và có thể tiếp tục quay vòng vốn, số vòng quay vốn càng nhiều thì càng có lợi cho doanh nghiệp và có thể chiến thắng đối thủ trong cạnh tranh

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu với các thách thức mới trong việc đẩy mạnh hoạt động cạnh tranh trên thị trường với các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý các nguồn vốn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu sản xuất kinh doanh ngày càng cao của các doanh nghiệp trong việc đổi mới máy móc công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn kinh doanh một cách hợp lý đang là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp, hệ quả của việc sử dụng không hợp lý nguồn vốn kinh doanh là doanh nghiệp phải đối đầu với chất lượng sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trường, giá thành sản phẩm cao, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh hấp dẫn, nguy cơ bị đào thải khỏi thị trường rất cao

Trang 12

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, vốn lưu động là một chỉ số đánh giá lượng tiền mà một doanh nghiệp cần duy trì để hoạt động thường xuyên, hay nói cách cụ thể đó là lượng tiền cần thiết để duy trì ổn định và phát triển doanh nghiệp Vốn lưu động là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và tiềm lực của một doanh nghiệp

Trong các doanh nghiệp, vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng là tiền đề của hoạt động sản xuất kinh doanh, song việc sử dụng vốn kinh doanh cũng như vốn lưu động như thế nào để có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định sự tăng trưởng của doanh nghiệp Vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào khi sử dụng vốn đều quan tâm và đánh giá hiệu quả cũng như vai trò của vốn lưu động Do vị trí then chốt nên vốn lưu động được coi là một trọng điểm của công tác quản lý của mỗi doanh nghiệp

Khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên là một mô hình khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên, là vai trò đầu tầu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và khu vực thị xã Sông Công nói riêng nên khu công nghiệp Sông Công đang ngày càng được tỉnh Thái Nguyên cũng như Nhà nước đặc biệt quan tâm Năm 1997, Thủ tướng chính phủ đã quyết định đưa khu công nghiệp Sông Công vào danh mục các khu công nghiệp tập trung của cả nước, đây là bằng chứng xác thực cho vai trò của khu công nghiệp Sông Công với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và tỉnh Thái Nguyên Cùng với vị trí và vai trò đó các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công ngày càng khẳng định sự phát triển của mình trên địa bàn tỉnh cũng như trong cả nước Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn nhất định trong quá trình phát triển đặc biệt là trong hoạt động quản lý vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng

Xuất phát từ thực tế của các doanh nghiệp trong nước, trong tỉnh Thái Nguyên và đặc biệt là các doanh nghiệp tại Khu Công nghiệp Sông Công đối với

hoạt động sử dụng vốn kinh doanh, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý vốn lưu động tại

các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên”

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp KCN Sông Công; Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công

2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, hệ thống hóa lý luận về vốn kinh doanh và vốn lưu động; vai trò

của vốn kinh doanh và vốn lưu động đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn lưu động, hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng sử dụng nguồn vốn lưu động trong sản xuất

kinh doanh của các doanh nghiệp tại Khu Công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động tại các doanh nghiệp So sánh đối chứng hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động tại các doanh nghiệp

Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

của các doanh nghiệp thuộc Khu Công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công (gồm: doanh nghiệp 100% vốn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu tại Khu Công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên Số liệu thu thập trong 3 năm (2009 - 2011)

4 Đóng góp mới của luận văn

- Làm sáng tỏ cơ sở khoa học và lý luận của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

- Xác định các yếu tố cần thiết trong quá trình quản lý vốn lưu động và hiệu quả trong quá trình quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng của vốn lưu động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Lượng hóa sự ảnh hưởng của các yếu tố đến vốn lưu động và sự ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tại KCN Sông Công

Trang 14

- Hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại các doanh nghiệp

5 Kết cấu đề tài nghiên cứu

Chương I: Cơ sở lý luận, thực tiễn về vốn lưu động và quản lý vốn lưu động

trong doanh nghiệp

Chương II: Phương pháp nghiên cứu về quản lý vốn lưu động của các doanh

nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công

Chương III: Thực trạng công tác quản lý vốn lưu động của các doanh

nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công

Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn

lưu động của các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Sông Công

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN

LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Vốn kinh doanh trong DN

1.1.1 Khái niệm

Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề cũng như lĩnh vực kinh doanh Nền kinh tế đang chứng kiến

sự đa dạng về hình thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Song về bản chất tất cả các hoạt động đó đều tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi cơ bản của nền kinh tế đặt ra đó là: "sản xuất cái gì", "sản xuất như thế nào", và "sản xuất cho ai?"

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh DN tự xác định tính chất sản phẩm mà họ sẽ tạo ra, thương lượng về giá cả

mà họ sẽ trả hoặc nhận và tự xác định xem khách hàng của mình là ai Các doanh nghiệp luôn tự vạch ra các mục tiêu kết hợp với mục tiêu của toàn ngành do nhà nước hoạch định và phải có những biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu đó Có thể nói mọi hoạt động của doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào về bản chất đều nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của thị trường nhằm mưu cầu lợi nhuận

Để thực hiện được vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban đầu như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, trả lương, trả lãi tiền vay, nộp thuế Ngoài ra còn đầu tư thêm công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp Vậy vốn là gì?

Vốn là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong toàn xã hội Đối với mỗi doanh nghiệp, muốn tiến hành kinh doanh thì phải có vốn và trong nền kinh tế thị trường vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 16

Vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản, vốn gắn kiền với nền tảng sản xuất hàng hoá Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đấu và quá trình tiếp theo cho hoạt động kinh doanh Có thể hiểu: Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả giá trị tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là giá trị ứng ra ban đầu cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền [5], [6]

1.1.2 Đặc trưng của Vốn kinh doanh

Như ta đã biết vốn sản xuất kinh doanh là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền (công cụ sản xuất, đối tượng lao động, tiền mặt, các chứng

từ có giá trị khác ) gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vậy nên vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

- Vốn là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động

- Vốn có giá trị và giá trị sử dụng: tức là vốn có thể được mua, được bán, được trao đổi trên thị trường cũng như có thể được sử dụng vào một khâu hay toàn

bộ quá trình tái sản xuất Như vậy vốn cũng là một loại hàng hoá

- Vốn có khả năng sinh lời: hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

có hiệu quả sẽ làm cho đồng vốn của doanh nghiệp sinh sôi nảy nở

- Khi tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian Toàn bộ sự vận động của vốn khi tham gia quá trình sản xuất đợc thể hiện ở sơ đồ sau:

TLSX

SLĐ

Sự vận động của vốn trong doanh nghiệp thương mại có thể chỉ là: T -H- T’

và trong doanh nghiệp ngân hàng là: T - T’

Qua sơ đồ ta thấy: quá trình vận động của vốn trải qua ba giai đoạn chủ yếu sau đây:

Giai đoạn một: vốn hoạt động trong phạm vi lưu thông, lúc đầu là vốn tiền tệ (T) tích luỹ được đem ra thị trường (đó là thị trường các yếu tố đầu vào) mua hàng

Trang 17

hoá bao gồm TLSX và sức lao động Trong giai đoạn này vốn thay đổi từ hình thái vốn tiền sang vốn sản xuất

TLSX

T - H

SLĐ Giai đoạn hai: Vốn rời khỏi lĩnh vực lưu thông bước vào hoạt động trong khau sản xuất ở đây các yếu tố sản xuất hay còn gọi là các yếu tố hàng hoá dịch vụ được sản xuất ra trong đó có phần giá trị mới (do giá trị sức lao động con người tạo ra)

TLSX

H’

SLĐ Giai đoạn ba: Sau giai đoạn sản xuất tạo ra H’ thì vốn lại trở lại hoạt động trên lĩnh vực lưu thông dưới hình thái hàng hoá Kết thúc giai đoạn này (hàng hoá được tiêu thụ) thì vốn dưới hình thái hàng hoá chuyển thành hình thái vốn tiền tệ ban đầu nhưng về mặt số lượng có thể là khác nhau

H’ _ T’ (T’  T)

Từ sự phân tích sự vận động của vốn thông qua “vòng tuần hoàn vốn” ta thấy rằng: tiền có khả năng chuyển hoá thành vốn chỉ khi tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời mới được gọi là vốn Với tư cách đầu tư thì mục đích cuối cùng là tạo được T’ phải lớn hơn T [5], [7]

1.1.3 Vai trò của Vốn kinh doanh đối với DN

Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp cho xã hội Như vậy:

Vốn kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư

Trang 18

Vốn kinh doanh cho phép khả năng lựa chọn của doanh nghiệp trong sự phân tích nhu cầu thị trường là: quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? sao cho đạt hiệu quả cao nhất [5], [7]

1.1.4 Phân loại vốn kinh doanh trong DN

Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà quy mô của vốn kinh doanh, cơ cấu thành phần của chúng khác nhau Tuy nhiên nếu căn cứ vào công dụng kinh tế

và đặc điểm chu chuyển giá trị thì vốn kinh doanh bao gồm hai thành phần là: vốn

cố định và vốn lưu động [5], [7]

1.1.4.1 Vốn cố định của doanh nghiệp

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và

vô hình được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp Đó là số vốn đầu tư ứng trước vì

số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ của mình

Vì là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng ngược lại đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn

và chu chuyển của vốn cố định Ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:

Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này

do đặc điểm của tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định

Hai là: Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các

chu kỳ sản xuất, khi tham gia các chu kỳ sản xuất một bộ phận vốn cố định được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu

Trang 19

hao) tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định, một phần được cố định trong

nó Vốn cố định được tách thành hai bộ phận:

+ Bộ phận thứ nhất tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ Quỹ khấu hao dùng

để tái sản xuất tài sản cố định Trên thực tế khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố định các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình

+ Bộ phận thứ hai tức là phần còn lại của vốn tài sản cố định ngày càng giảm

đi trong những chu kỳ sản xuất tiếp theo

Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân

chuyển Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định lại dần giảm xuống cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó mới hoàn thành một vòng luân chuyển

Trong các doanh nghiệp công nghiệp vốn cố định là một bộ phận vốn quan trọng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung Quy mô của vốn cố định, trình độ quản lý và sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh Từ những đặc điểm trên của vốn cố định đòi hỏi trong việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định của doanh nghiệp Vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về vốn cố định như sau: Vốn

cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định

mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và

hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng

Trang 20

1.1.4.2 Vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn kinh doanh ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục

Trong các doanh nghiệp tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại: nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến Tài sản lưu động trong quá trình lưu thông bao gồm thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bắng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông luôn thay đổi cho nhau, vận động không ngừng nhằm làm cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục

Trong quá trình sản xuất, khác với tài sản cố định, tài sản lưu động của doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm Và giá trị của nó cũng được dịch chuyến một lần vào giá trị sản phẩm tiêu thụ Đặc điểm này quyết định sự vận động của vốn lưu động tức hình thái giá trị của tài sản lưu động là: khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá dự trữ Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo bán thành phẩm và thành phẩm Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi hàng hoá được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó

Các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau các chu kỳ sản xuất được lặp đi lặp lại Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất

Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất

1.2 Vốn lưu động trong DN

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động (TLLĐ) các doanh nghiệp cần có các đối tượng lao động (ĐTLĐ) Khác với TLLĐ, các ĐTLĐ

Trang 21

(nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất

và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm [5], [7]

Những TLLĐ nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động (TSLĐ), còn về hình thái giá trị gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm vận động của VLĐ luôn luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ Trong các doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ thành 2 loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông

- TSLĐ sản xuất gồm các tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…và các tài sản ở khâu sản xuất như sản phẩm dở dang đang chế tạo, bán thành phẩm, chi phí chờ phân bổ

- TSLĐ lưu thông của doanh nghiệp bao gồm các thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước…

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục

Trong nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ, để hình thành nên các TSLĐ sản xuất

và TSLĐ lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra số vốn đầu tư nhất định mà người

ta gọi là VLĐ Vì vậy “Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng để mua sắm, hình thành nên TSLĐ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh ở một thời điểm nhất định Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất ”

1.2.2 Phân loại vốn lưu động

Vốn lưu động được phân loại như sau [5], [7]:

a) Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn có thể chia vốn lưu động thành các loại:

- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

Trang 22

+ Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Tiền

là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định

+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện

số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch

vụ dưới hình thức bán trước trả sau

- Vốn vật tư, hàng hóa: Bao gồm 3 loại gọi chung là hàng tồn kho

+ Nguyên liệu, vật liệu, công cụ và dụng cụ

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, gồm các khoản:

+ Vốn nguyên liệu, vật liệu thay thế chính

+ Vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác

+ Vốn trong thanh toán: những khoản phải thu và tạm ứng

Trang 23

c) Theo nguồn hình thành

- Nguồn vốn pháp định: Nguồn vốn này có thể do Nhà nước cấp, do xã viên,

cổ đông đóng góp hoặc do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra

- Nguồn vốn tự bổ sung: Đây là nguồn vốn doanh nghiệp tự bổ sung chủ yếu một phần lấy từ lợi nhuận để lại

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết

- Nguồn vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu

- Nguồn vốn đi vay

Đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động thường xuyên trong kinh doanh Tuỳ theo điều kiện cụ thể

mà doanh nghiệp có thể vay vốn của ngân hàng các tổ chức tín dụng khác hoặc có thể vay vốn của tư nhân các đơn vị tổ chức trong và ngoài nước

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động trong DN

Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Trước tiên phải kể đến yếu tố chính sách kinh tế của Nhà nước Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng Vì tuỳ theo từng thời kỳ, tuỳ theo từng mục tiêu phát triển mà Nhà nước có những chính sách ưu đãi về vốn về thuế và lãi suất tiền vay đối với từng ngành nghề cụ thể, có chính sách khuyến khích đối với ngành nghề này nhưng lại hạn chế ngành nghề khác Bởi vậy khi tiến hành sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm và tuân thủ chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước

Thứ hai là ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát có thể dẫn tới sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn của các doanh nghiệp bị mất dần theo tốc

độ trượt giá của tiền tệ hay các nhân tố tác động đến cung cầu đối với hàng hóa của doanh nghiệp, nếu nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ làm cho hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, tồn đọng gây ứ đọng vốn và hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng bị giảm xuống

Trang 24

Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay nói cách khác là doanh thu và lợi nhuận Doanh thu và lợi nhuận cao hay thấp phản ánh vốn lưu động sử dụng hiệu quả hay không hiệu quả Do đó vấn đề mấu chốt đối với doanh nghiệp là phải tìm mọi cách để nâng cao doanh thu và lợi nhuận

Khi doanh nghiệp xác định một nhu cầu vốn lưu động không chính xác và một

cơ cấu vốn không hợp lý cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn Việc lựa chọn dự án và thời điểm đầu tư cũng có một vai trò quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp biết lựa chọn một dự án khả thi và thời điểm đầu tư đúng lúc thì sẽ tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng

Chất lượng công tác quản lý vốn lưu động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Bởi vì, công tác quản lý vốn lưu động sẽ giúp cho doanh nghiệp dự trữ được một lượng tiền mặt tốt vừa đảm bảo được khả năng thanh toán vừa tránh được tình trạng thiếu tiền mặt tạm thời hoặc lãng phí do giữ quá nhiều tiền mặt, đồng thời cũng xác định được một lượng dự trữ hợp lý giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục mà không bị dư thừa gây ứ đọng vốn Ngoài ra công tác quản lý vốn lưu động còn làm tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ chiếm lĩnh thị trường thông qua chính sách thương mại Một nhân tố khác ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là khả năng thanh toán Nếu đảm bảo tốt khả năng thanh toán doanh nghiệp

sẽ không bị mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán và không có nợ quá hạn [5], [7]

1.2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp

Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nên kinh tế thị trường hiện nay Do đó, việc chủ động xây dựng, huy động, sử dụng vốn lưu động là biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp Xây dựng kế hoạch và sử dụng vốn của doanh

Trang 25

nghiệp là hoạt động nhằm hình thành nên các dự định về tổ chức các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả [17]

Thứ nhất, Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần phải phân tích chính xác các chỉ tiêu tài chính của kỳ trước, những biến động chủ yếu trong vốn lưu động, mức chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện về nhu cầu vốn lưu động ở các kỳ trước; Dựa trên nhu cầu vốn lưu động

đã xác định, huy động kế hoạch huy động vốn: xác định khả năng tài chính hiện tại của doanh nghiệp, số vốn còn thiếu, so sánh chi phí huy động vốn từ các nguồn tài trợ để tài trợ để lựa chọn kênh huy động vốn phù hợp, kịp thời, tránh tình trạng thừa vốn, gây lãng phí hoặc thiếu vốn làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra; Khi lập kế hoạch vốn lưu động phải căn cứ vào kế hoạch vốn kinh doanh đảm bảo cho phù hợp với tình hình thực tế thông qua việc phân tích, tính toán các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của kỳ trước cùng với những dự đoán về tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tăng trưởng trong năm tới và những dự kiến về sự biến động của thị trường

Thứ hai, Chủ động khai thác và sử dụng nguồn vốn kinh doanh nói chung

và vốn lưu động nói riêng một cách hợp lý và linh hoạt Trong điều kiện doanh

nghiệp hoạt động được chủ yếu bằng các nguồn vốn huy động từ bên ngoài thì để giảm thiểu chi phí sư dụng vốn, doanh nghiệp nên linh hoạt tìm các nguồn tài trợ

với lãi suất phù hợp Một số nguồn doanh nghiệp có thể xem xét huy động như: Vay

ngân hàng: Trong những năm gần đây, đứng trước nhu cầu đòi hỏi về vốn thì đây là

một nguồn cung cấp vốn quan trọng Nguồn vốn tín dụng ngân hàng thực chất là vốn bổ sung chứ không phải nguồn vốn thường xuyên tham gia và hình thành nên vốn lưu động của doanh nghiệp Mặt khác, doanh nghiệp cũng nên huy động nguồn vốn trung và dài hạn vì việc sử dụng vốn vay cả ngắn, trung và dài hạn phù hợp sẽ góp phần làm giảm khó khăn tạm thời về vốn, giảm một phần chi phí và tăng lợi nhuận Tuy nhiên, để huy động được các nguồn vốn từ ngân hàng thì doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các phương án kinh doanh, các dự án đầu tư khả thi trình lên ngân hàng, đồng thời phải luôn luôn làm ăn có lãi, thanh toán các khoản nợ gốc

và lãi đúng hạn, xây dựng lòng tin ở các ngân hàng;

Trang 26

Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Đây là hình thức hợp tác mà qua đó các

doanh nghiệp không những tăng được vốn cho hoạt động kinh doanh mà còn học tập được kinh nghiệm quản lý, tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật va chuyển giao công nghệ;

Vốn chiếm dụng: Thực chất đây là các khoản phải trả người bán, người mua

trả tiền trước, các khoản phải trả khác Đây không thể được coi là nguồn vốn huy động chính nhưng khi sử dụng khoản vốn này doanh nghiệp không phải trả chi phí

sử dụng, nhưng không vì thế mà doanh nghiệp lạm dụng nó vì đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chỉ có thể chiếm dụng tạm thời

Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời và chủ động vốn trong kinh doanh, doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp sau: Xây dựng chiến lược huy động vốn phù hợp với thực trạng thị trường và môi trường kinh doanh của từng thời kỳ; Tạo niềm tin cho các nơi cung ứng vốn bằng cách nâng cao uy tin của doanh nghiệp: ổn định và hợp lý hóa các chỉ tiêu tài chính, thanh toán các khoản nợ đúng hạn ; Chứng minh được mục đích sử dụng vốn bằng cách đưa ra kết quả kinh doanh và hiệu quả vòng quay vốn trong năm qua và triển vọng năm tới; Đối với công tác sử dụng vốn: Khi thực hiện doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch huy động và sử dụng vốn kinh doanh đã lập làm cơ sở để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế tại doanh nghiệp; Nếu phát sinh nhu cầu bất thường, doanh nghiệp cần có kế hoạch chủ động cung ứng kịp thời đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, tránh tình trạng phải ngừng sản xuất do thiếu vốn kinh doanh; Nếu thừa vốn, doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý kịp thời nhằm đảm bảo phát huy thế mạnh, khả năng sinh lời của vốn

Để có kế hoạch huy động và sử dụng vốn sát với thực tế, nhất thiết phải dựa vào thực trạng sử dụng vốn trong kỳ và đánh giá điều kiện cũng như xu hướng thay đổi cung cầu trên thị trường

Thứ ba, Tăng cường công tác quản lý các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng vốn bị chiếm dụng Với những khách hàng mua lẻ với khối lượng nhỏ,

doanh nghiệp tiếp tục thực hiện chính sách “mua đứt bán đoạn”, không để nợ hoặc

Trang 27

chỉ cung cấp chiết khấu ở mức thấp với những khách hàng nhỏ nhưng thường xuyên; Với những khách hàng lớn, trước khi ký hợp đồng, doanh nghiệp cần phân loại khách hàng, tìm hiểu kỹ về khả năng thanh toán của họ Hợp đồng luôn phải quy định chặt chẽ về thời gian, phương thức thanh toan và hình thức phạt khi vi phạm hợp đồng; Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ, tiến hành sắp xếp các khoản phải thu theo tuổi Như vậy, doanh nghiệp sẽ biết được một cách dễ dàng khoản nào sắp đến hạn để có thể có các biện pháp hối thúc khách hàng trả tiền Định kỳ doanh nghiệp cần tổng kết công tác tiêu thụ, kiểm tra các khách hàng đang nợ về số lượng và thời gian thanh toán, tránh tình trạng để các khoản thu rơi vào tình trạng

nợ khó đòi; Doanh nghiệp nên áp dụng biện pháp tài chính thúc đẩy tiêu thu sản phẩm và hạn chế vốn bị chiếm dụng như chiết khấu thanh toán và phạt vi phạm quá thời hạn thanh toán; Nếu khách hàng thanh toán chậm thì doanh nghiệp cần xem xét

cụ thể để đưa ra các chính sách phù hợp như thời gian hạn nợ, giảm nợ nhằm giữ gìn mối quan hệ sẵn có và chỉ nhờ có quan chức năng can thiệp nếu áp dụng các biện pháp trên không mạng lại kết quả; Khi mua hàng hoặc thanh toán trước, thanh toán đủ phải yêu cầu người lập các hợp đồng bảo hiểm tài sản mua nhằm tránh thất thoát, hỏng hóc hàng hóa dựa trên nguyên tắc “giao đủ, trả đủ” hay các chế tài áp dụng trong ký kết hợp đồng

Thứ tư, Có biện pháp sử dụng có hiệu quả vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi Tổ chức việc quản lý và sử dụng vốn bằng tiền có ý nghĩa quan trọng đối với

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng Cần có sự cân đối hợp lý giữa tỷ trọng vốn bằng tiền với các nguồn vốn khác

để tạo thêm cơ hội đầu tư tài chính cũng như cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ năm, Quản lý hàng tồn kho, giảm thiểu chi phí lưu kho Lập kế hoạch

cho hoạt động kinh doanh trên cơ sở tình hình năm báo cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng, quý Kiểm tra chất lượng số hàng hóa khi nhập về Nếu hàng kém phẩm chất thì phải đề nghị người bán đền bù tránh thiệt hại cho doanh nghiệp; Bảo quản tốt hàng tồn kho Hàng tháng, kế toán hàng hóa cần đối chiếu sổ sách, phát hiện số hàng tồn đọng để xử lý, tìm biện pháp để giải phóng số hàng hóa tồn đọng để nhanh

Trang 28

chóng thu hồi vốn; Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường hàng hóa

Từ đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc nhập khẩu và lượng hàng hóa trong kho trước sự biến động của thị trường Đây là biện pháp rất quan trọng để bảo toàn vốn của doanh nghiệp

Thứ sáu, Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động Xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ ở những thị trường đang có

nhu cầu Thông qua hệ thống tổ chức công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng Đây chính là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng Qua đó, doanh nghiệp có thể thu nhập thêm những thông tin cần thiết và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, củng cố niềm tin của khách hàng với doanh nghiệp; Thực hiện phương châm khách hàng là thượng đế, áp dụng chính sách ưu tiên về giá cả, điều kiện thanh toán và phương tiện vận chuyển với những đơn vị mua hàng nhiều, thường xuyên hay có khoảng cách vận chuyển xa; Tăng cường quan hệ hợp tác, mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường, nắm bắt thị hiếu của khách hàng đồng thời thiết lập hệ thống cửa hàng, đại lý phân phối tiêu thụ trên diện rộng; Doanh nghiệp nên tổ chức xây dựng đội ngũ phụ trách marketing phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường Đây

là nhu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp để xây dựng được chính sách giá cả, chính sách quảng bá chào hàng trên thị trường Đây là cơ sở cho doanh nghiệp đưa

ra mức giá cạnh tranh, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và thu được lợi nhuận cao hơn cũng như tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường khốc liệt hiện nay

Thứ bảy, Có biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra Khi đã

kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp luôn luôn phải nhận thức được rằng mình phải sẵn sàng đối phó với mọi sự thay đổi, biến động phức tạp có thể xảy ra bất kỳ lúc nào Những rủi ro bất thường trong kinh doanh như: nền kinh

tế lạm phát, giá cả thị trường tăng lên,… mà nhiều khi nhà quản lý không lường hết được Vì vậy, để hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy ra, doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa để khi vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng bị hao hụt, doanh nghiệp có thể có ngay nguồn bù đắp, đảm bảo

Trang 29

cho quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục Cụ thể, các biện pháp mà doanh nghiệp có thể áp dụng là: Mua bảo hiểm hàng hóa đối với những hàng hóa đang đi đường cũng như hàng hóa nằm trong kho; Trích lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng giảm giá hàng bán tồn kho; Việc doanh nghiệp tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững chắc, một tấm lá chắn tin cậy về kinh tế, giúp doanh nghiệp có điều kiện về tài chính để chống đỡ có hiệu quả mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến vốn lưu động; Cuối kỳ, doanh nghiệp cần kiểm tra, rà soát, đánh giá lại vật tư hàng hóa, vốn bằng tiền, đối chiếu

sổ sách kế toán để xử lý chênh lệch

1.3 Quản lý Vốn lưu động

1.3.1 Khái niệm quản lý và quản lý vốn lưu động

a Khái niệm quản lý

Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định [3]

b Khái niệm quản lý vốn lưu động

Thực chất của quản lý vốn lưu động là hoạt động quản lý tài chính trong các tổ chức, doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi nhà quản lý phải đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và

tổ chức thực hiện các quyết định một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanh nghiệp với tồn tại và phát triển trong nền kinh tế đầy biến động như hiện nay

Quản trị vốn lưu động là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Quản trị vốn lưu động có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ

vị trí quan trọng hàng đầu trong hoạt động quản lý Hầu hết mọi quyết định khác đều dựa trên những kết quả rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong quản lý doanh nghiệp [7]

Trang 30

1.3.2 Nội dung cơ bản của quản lý vốn lưu động

Quản lý VLĐ có nội dung đa dạng và phức tạp Xét theo các bộ phận cấu thành của VLĐ, nội dung chủ yếu của quản lý VLĐ bao gồm: Quản lý vốn bằng tiền, quản lý các khoản phải thu, quản lý hàng tồn kho và quản lý các khoản vốn lưu động khác [6], [7]

1.3.2.1 Quản lý vốn bằng tiền

a Lập kế hoạch vốn bằng tiền

Tiền là bộ phận tài sản lưu động không sinh lời hoặc tỷ lệ sinh lời rất thấp Hơn nữa, do sức mua của tiền tệ luôn có xu hướng giảm đi do ảnh hưởng của lạm phát, nên có thể nói tỷ lệ sinh lời thực của tiền là một số âm Bởi vậy việc duy trì mức tiền hợp lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu tiền là một vấn đề quan trọng liên quan đến hiệu quả kinh doanh chung của doanh nghiệp

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần giữ một lượng tiền nhất định bởi các lý do sau: Một là, để thực hiện các giao dịch: Động cơ chủ yếu của nắm giữ tiền trong doanh nghiệp là để làm thông suốt cá giao dịch kinh doanh Tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất Từ tiền doanh nghiệp có thể chuyển sang các hàng hóa khác Nếu doanh nghiệp không giữ tiền mà chỉ giữ các tài sản khác thì các chi phí giao dịch có thể rất cao, hơn nữa lại mất nhiều thời gian cho một giao dịch kinh doanh thông thường vì các tài sản khác có tính thanh khoản thấp hơn Từ tài sản đang nắm giữ doanh nghiệp phải chuyển nó thành tiền, sau đó mới dùng tiền để mua hàng hóa doanh nghiệp cần Động cơ này gọi là động cơ kinh doanh

Hai là, để đáp ứng nhu cầu chi trả và thanh toán: Ngoài nhu cầu sử dụng tiền

để mua tài sản, hàng ngày hàng giờ ở doanh nghiệp còn phải dùng tiền để thanh toán các món nợ, các khoản phải trả, phải nộp khác như: Trả lương công nhân, nộp thuế nhà nước Nếu không có tiền để thanh toán các khoản phải trả, phải nộp tất yếu cũng gây nên những khó khăn và bất lợi nhất định đối với doanh nghiệp

Ba là, để dự phòng và đầu cơ: Dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp đôi khi không thể dự đoán được Do vậy, doanh nghiệp cần phải giữ một lượng tiền nhất định để phục vụ cho các nhu cầ ngẫu nhiên, không xác định được trước Điều đó

Trang 31

doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán ổn định tình hình tài chính của doanh nghiệp ở mọi thời điểm Ngoài ra, tiền còn dùng để thỏa mãn lợi thế của doanh nghiệp khi có cơ hội kinh doanh Nguồn tiền này được gọi là ngân quỹ đầu cơ

b Xây dựng mô hình quản lý vốn bằng tiền

Quản lý tiền đề cập đến việc quản lý tiền mặt, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng Đối với doanh nghiệp, nội dung của quản lý tiền bao gồm: Tăng tốc độ thu hồi tiền, giảm tốc độ chi tiêu và lập ngân sách thu chi tiền tệ Tuy nhiên, cần lưu

ý rằng, việc thực hiện mục tiêu đẩy nhanh tốc độ thu tiền và giảm tốc độ chi tiêu có mối quan hệ trực tiếp với chính sách quản lý hàng tồn ho, chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và mục tiêu trên không phải lúc nào cũng thực hiện được Trên thực tế vẫn có những thời điểm hoặc thời ký doanh nghiệp phải tăng chi

và giảm tốc độ thu tiền

Tăng tốc độ thu hồi tiền: Một nguyên tắc đơn giản trong quản lý tiền là tăng tốc độ thu hồi tiền Nguyên tắc này giúp công ty ổn định tình hình tài chính, tình hình thanh toán và tăng khả năng sinh lời trên khối lượng tiền thu hồi sớm và do đó

có thể tăng vốn đầu tư

Giảm tốc độ chi tiêu: Cùng với việc tăng tốc độ thu hồi tiền, doanh nghiệp có thể thu lợi bằng cách giảm tốc độ chi tiêu để có thêm tiền đầu tư sinh lợi

Lập ngân sách thu chi tiền tệ: Việc tăng tốc độ thu hồi tiền và giảm tốc độ chi tiêu trong phạm vi những giới hạn và vị thế tín dụng của doanh nghiệp là những nội dung quan trọng của quản lý tiền Tuy nhiên điều đó không đủ hỗ trợ cho các nhà quản lý tài chính trong việc thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu và đầu tư sinh lợi bằng tiền quản lý của doanh nghiệp Bởi vậy, một nội dung quan trọng khác của quản lý tiền là việc hoạch định ngân sách (kế hoạch) thu chi tiền Để lập dược kế hoạch này doanh nghiệp phải dự báo được tổng thu và nhu cầu chi tiền trong kỳ Kế hoạch thu chi tiền tệ thường được xây dựng theo tháng, quý, tuần Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính xác thực của ngân sách thu chi tiền là những dự báo về doanh số bán hàng, mua hàng và tình hình thanh toán

Trang 32

Kết quả dự báo về tình hình thu chi tiền là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị tài chính có thể đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo ổn định tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Mô hình quản lý vốn bằng tiền được sử dụng là mô hình về mức tồn trữ tiền tối ưu Mô hình tồn trữ tiền tối ưu được nhà kinh tế học người Mỹ vWiliam J.Baumol đưa ra năm 1952 Mô hình này dựa trên giả định: Số tiền vượt quá mức tiêu chuẩn nhất định sẽ được đầu tư vào các chứng khoán; Lượng tiền dự trữ ổn định trong kỳ là xác định; Thời gian chuyển hoán chứng khoán thành tiền là không đáng kể; Chi phí để chuyển chứng khoán thành tiền có tính cố định không phụ thuộc vào độ lớn của kim ngạch chuyển hoán và người chịu trách nhiệm quản lý tiền của doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu tối thiểu hóa chi phí dự trữ tiền

Với những giả định trên, tổng chi phí liên quan đến việc dự trữ tiền bao gồm: Chi phí có tính cố định phát sinh khi chuyển hoán chứng khoán thành tiền; Chi phí của việc duy trì mức dự trữ tiền, tức là số lợi tức mất đi do không thể đầu tư số tiền này vào các chứng khoán có giá

Nếu ký hiệu:

T: Tổng kim ngạch (nhu cầu) chi tiền trong một thời kỳ nhất định

B: Chi phí mỗi lần chuyển các chứng khoán đang lưu giữ thành tiền

C: Kim ngạch chứng khoán mỗi lần chuyển hoán

i: Tỉ suất sinh lợi của chứng khoán (tỉ lệ sinh lời cơ hội do giữ tiền)

Ta có, số lần chuyển hoán trong một kỳ là T/C và tổng chi phí để chuyển hoán trong ỳ là (T/C)×B

Mặt khác chi phí để duy trì lượng tiền dự trữ được xác định căn cứ vào lượng tiền dự trữ bình quân (C/2) nhân với i, tức là (C/2)×i

Như vậy tổng chi phí liên quan đến việc lưu giữ tiền của doanh nghiệp trong một kỳ là:

Trang 33

Để tổng chi phí dự trữ tiền là nhỏ nhất, lấy vi phân của K theo C sau đó cho bằng không sẽ tìm được kim ngạch chuyển hóa tối ưu mỗi lần C* là:

1.3.2.2 Quản lý các khoản phải thu

a Các khoản phải thu

Trong thực tiễn kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải bán chịu hàng hóa của mình trong thời gian nhất định Trong khi chờ thu các khoản tiền này, doanh nghiệp vẫn tiếp tục bán hàng và do đó sẽ xuất hiện các khoản bán chịu mới Đồng thời doanh nghiệp cũng có các khoản mua chịu hàng hóa từ các doanh nghiệp khác Như vậy, việc mua chịu, bán chịu là công việc thường xuyên phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Độ lớn khoản phải thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tốc

độ thu hồi nợ cũ, tốc độ tạo ra nợ mới và sự tác động của các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp như chu ỳ suy thoái của nền kinh tế, khủng hoảng tiền

tệ Doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý tới các yếu tố mà mình có thể kiểm soát được nhằm tác động tới độ lớn và chất lượng của các khoản phải thu, trong đó đáng lưu ý

là chính sách tín dụng

Bán chịu hàng hóa là một hình thức doanh nghiệp cấp tín dụng cho các khách hàng của mình (tín dụng thương mại) và là nguyên nhân phát sinh các khoản phải thu Độ lớn và rủi ro của các khoản phải thu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong

đó chính sách tín dụng là một nhân tố quan trọng Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát các biến số sau:

Thứ nhất, tiêu chuẩn tín dụng, nguyên tắc chỉ đạo là phải xác định được tiêu chuẩn tín dụng tức là sức mạnh tài chính tối thiểu và uy tín hay vị thế tín dụng có thể chấp nhận được của các khách hàng mua chịu Nếu khách hàng có sức mạnh tài chính hay vị thế tín dụng thấp hơn những tiêu chuẩn đó thì sẽ bị từ chối cấp tín dụng theo hình thức bán chịu hàng hóa Tiêu chuẩn tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ, giá trị sản phẩm cao hay thấp

Trang 34

Thứ hai, chiết khấu thanh toán là biện pháp khuyến khích khách hàng trả tiền sớm bằng cách thực hiện việc giảm giá đối với các trường hợp mua hàng trả tiền trước thời hạn

Thứ ba, thời hạn bán chịu là quy định về độ dài thời gian của các khoản tín dụng Thứ tư, chính sách thu tiền bao gồm các quy định về cách thức thu tiền như thu 1 lần hay trả góp và biện pháp xử lý đối với các khoản tín dụng quá hạn

b Các nhân tố ảnh hưởng đến các khoản phải thu khách hàng

Điều kiện của doanh nghiệp: Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh và tiềm lực tài chính là những yếu tố tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có thời gian sử dụng lâu bền thường cho phép mở rộng chính sách tín dụng hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hỏng, mất phẩm chất, khó bảo quản Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính thời vụ, trong thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn

Điều kiện của khách hàng: Điều kiện của khách hàng được đánh giá dựa vào các phán đoán sau:

(1) Vốn hay sức mạnh tài chính: là thước đo về tình hình tài chính của một doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến rủi ro thanh toán Yếu tố này được xác định dựa vào quy mô vốn chủ sở hữu, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, khả năng sinh lợi

từ hoạt động kinh doanh

(2) Khả năng thanh toán được đánh giá qua các hệ số thanh toán chung, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán lãi vay của khách hàng

(3) Tư cách tín dụng: là thái độ tự giác đối với việc thanh toán nợ của hách hàng Yếu tố này được coi là rất quan trọng vì mỗi một giao dịch tín dụng được ngầm hiểu là một sự hứa hẹn thanh toán

(4) Vật thế chấp là tài sản khách hàng dùng đảm bảo cho món nợ của mình (5) Điều kiện kinh tế là sự phát triển của nền kinh tế nói chung và mức độ phát triển của từng vùng địa lý nói riêng có ảnh hưởng đến việc thanh toán của khách hàng với món nợ

Trang 35

Lợi ích kinh tế đạt được khi thực hiện chính sách tín dụng: Để đánh giá lợi ích kinh tế đạt được khi thực hiện chính sách tín dụng, doanh nghiệp cần dự báo, tính toán các thông số:

Số lượng và giá bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dự kiến tiêu thụ Thông thường, doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng lên khi các tiêu chuẩn tín dụng được nới lỏng, tỷ lệ chiết khấu tăng, thời gian bán chịu dài và phương thức thu tiền bớt gắt gao

(1) Các chi phí phát sinh do tăng các khoản nợ

(2) So sánh lợi nhuận gộp do doanh số bán tăng lên với những chi phí tăng thêm do sự thay đổi của chính sách tín dụng gây ra

c Quản lý các khoản phải thu khách hàng

Để quản lý các khoản phải thu khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện một

Nhóm 2, nợ loại B: thường bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn nợ Các khoản nợ này thường là những doanh nghiệp có tình hình tài chính khá tốt, khách nợ truyền thống, có độ tin cậy

Nhóm 3, nợ loại C: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày

và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn cơ cấu lại Các khách nợ này thường là doanh nghiệp có tình hình tài chính không ổn định, hiện tài có khó khăn nhưng có triển vọng phát triển hoặc cải thiện

Nhóm 4, nợ loại D: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời gian cơ cấu lại Các khoản nợ này thường là doanh nghiệp có tình hình tài chính xấu, không có triển vọng rõ ràng hoặc khách nợ cố ý không thanh toán

Trang 36

Nhóm 5, nợ loại E: bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời gian cơ cấu lại Các khoản nợ này thường là những doanh nghiệp phá sản hoặc chuẩn bị phá sản không có khả năng trả nợ hoặc không tồn tại

Ngoài ra, để theo dõi khoản phải thu, có thể sử dụng các công cụ: Kỳ thu tiền bình quân; Phân tích “tuổi” của các khoản phải thu và mô hình số dư khoản phải thu Đồng thời với đó, doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá phòng ngừa rủi ro và

xử lý với khoản thu khó đòi

1.3.2.3 Quản lý hàng tồn kho

a Khái niệm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến hàng tồn kho

Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản doanh nghiệp lưu trữ để sản xuất hoặc bán ra sau này Trong các doanh nghiệp, tồn kho thường bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ Tùy theo ngành nghề mà tỷ trọng các loại tài sản trên có khác nhau Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên liệu, nhiên liệu dự trữ thường chiếm tỉ trọng lượng Trong các doanh nghiệp thương mại, tồn kho chủ yếu là hàng hóa chờ tiêu thụ

Việc quản trị tồn kho trong doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản của doanh nghiệp Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn trong kinh doanh, không bị thiếu sản phẩm hàng hóa

để bán, đồng thời giúp doanh nghiệp sử dụng vốn tiết kiệm, giảm chi phí tồn kho

Mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp nhiều hay ít thường phụ thuộc vào một

số yếu tố có bản sau:

Thứ nhất, quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu, hàng hóa của doanh nghiệp thường bao gồm: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ thời vụ

Thứ hai, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường; thời gian vận chuyển hàng từ nhà cung cấp đến doanh nghiệp; xu hướng biến động giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu

Trang 37

Thứ ba, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm; trình độ tổ chức sản xuất

và khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

b Quản lý hàng tồn kho

Quản trị tồn kho bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt động nhằm vào nguồn nguyên vật liệu, hàng hóa đi vào, đi ra của doanh nghiệp Quản trị hàng tồn kho phải trả lời được hai câu hỏi: Lượng đặt hàng là bao nhiêu để chi phí tồn kho là nhỏ nhất? Vào thời điểm nào thì bắt đầu đặt hàng?

Trong các doanh nghiệp, việc quản lý tồn kho thường áp dụng phương pháp: mô hình đặt hàng hiệu quả; xác định thời điểm đặt hàng lại và dự trữ an toàn

Mô hình đặt hàng hiệu quả (EOQ) là mô hình quản lý hàng tồn kho mang

tính định lượng, có thể sử dụng để tìm mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp Yếu tố quyết định trong quản trị hàng tồn kho là dự báo chính xác khối lượng các loại hàng hóa cần dự trữ trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm) Những doanh nghiệp có nhu cầu dự trữ hàng hóa mang tính thời vụ có thể chọn kỳ dự báo phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình

Sau khi đã có số liệu dự báo chính xác về mức dự trữ hàng năm, doanh nghiệp có thể xác định số lần đặt hàng trong năm và khối lượng hàng hóa trong mỗi lần đặt hàng Mục đích của những tính toán này là tìm được cơ cấu tồn kho có tổng chi phí năm ở mức tối thiểu

Giữa chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản hàng tồn kho có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch Khi số lần đặt hàng nhiều, hối lượng hàng hóa tồn kho bình quân thấp, dẫn tới số lần đặt hàng giảm đi thì khối lượng hàng trong mỗi lần đặt hàng cao, lượng tồn kho lớn hơn, do đó chi phì tồn trữ hàng hóa cao và chi phí đặt hàng giảm

Như vậy, vấn đề quan trọng đầu tiên của việc quản lý hàng tồn kho là quyết định cần đặt mua bao nhiêu đối với một loại hàng nhất định Mô hình đặt hàng hiệu qủa xác định số lượng hàng mua tối ưu trong mỗi lần đặt hàng để dự trữ Mô hình này giả thiết rằng:

Trang 38

- Lượng hàng mua trong mỗi lần đặt hàng là như nhau

- Nhu cầu, chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản là xác định Thời gian mua hàng - thời gian từ khi đặt một đơn hàng tới khi nhận được hàng cũng là xác định

- Chi phí mua của mỗi đơn vị không bị ảnh hưởng bởi số lượng hàng được đặt Giả thiết này làm cho chi phí mua hàng sẽ không ảnh hưởng đến mô hình EOQ bởi vì chi phí mua hàng của tất cả các hàng hóa mua sẽ như nhau bất kể quy mô đơn hàng với số lượng đặt hàng là bao nhiêu

- Không xảy ra hiện tượng hết hàng: một lý do biện hộ cho giả thiết này là ở chỗ chi phí cho một lần hết hàng là quá đắt Chúng ta phải luôn duy trì một lượng tồn kho thích hợp để đảm bảo hiện tượng hết hàng không xảy ra

Với giả thiết này, phân tích EOQ bỏ qua các chi phí cơ hội như chi phí giảm doanh thu do hết hàng, chi phí mất uy tín với khách hàng, chi phí gián đoạn sản xuất

Để xác định EOQ, chúng ta phải tối thiếu hóa chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản

Tổng chi phí tồn kho = Tổng chi phí đặt hàng + Tổng chi phí bảo quản

Như vậy, theo lý thuyết mô hình số lượng hàng đặt có hiệu quả thì:

Trong đó:

EOQ: Số lượng đặt hàng hiệu quả

D: Tổng nhu cầu số lượng 1 loại sản phẩm cho một khoảng thời gian nhất định P: Chi phí cho mỗi lần đặt hàng

C: Chi phí bảo quản trên một đơn vị hàng tồn kho

Xác định thời điểm đặt hàng lại: Quyết định quan trọng thứ hai liên quan

đến quản trị tồn ho là vấn đề khi nào thì đặt hàng Điểm tái đặt hàng là chỉ tiêu phản ánh mức hàng tối thiểu còn lại trong kho để khởi phát một yêu cầu đặt hàng mới Điểm tái đặt hàng được tính toán đơn giản nhất khi cả nhu cầu và thời gian mua hàng là xác định

Trang 39

Điểm tái đặt hàng = Số lượng hàng bán trong

một đơn vị thời gian *

Thời gian mua hàng

Lượng dự trữ an toàn: Giả thiết rằng nhu cầu và thời gian đặt hàng là xác

định Khi cửa hàng bán lẻ không có sự ổn định về nhu cầu và thời gian mua hàng hoặc số lượng hàng mà người cung cấp có thể đáp ứng, họ thường phải duy trì một mức dự trữ an toàn Dự trữ an toàn là mức tồn kho được dự trữ ở mọi thời điểm ngay cả hi lượng tồn kho đã được xác định theo mô hình EOQ Nó được sử dụng như là một lớp đệm chống lại sự tăng bất thường của nhu cầu, hay thời gian mua hàng, hoặc tình trạng không sẵn sàng cung cấp của các nhà cung cấp

1.4 Thực tiễn quản lý vốn lưu động đối với các doanh nghiệp

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính của Vodaphone

Khi nhắc đến Vodafone (hãng viễn thông nước Anh), nhiều chuyên gia thường nhắc đến một câu nói phổ biến từ thời nước Anh thực dân: “Mặt trời không bao giờ lặn đối với Vodafone” Ra đời tại Newbury, Berkshire nước Anh từ năm 1982 sau khi liên doanh giữa hãng điện tử Racal Electronics và hãng truyền thông Racal Strategic Radio thắng thầu để giành được một trong 2 giấy phép xây dựng mạng điện thoại vô tuyến của nước Anh Ngày 1/9/1988, Vodafone được tách ra và đổi tên thành Racal Telecom nhưng đến ngày 16/9/1991, Racal Telecom lại được sáp nhập trở lại Racal Electronics và trở thành tập đoàn viễn thông di động Vodafone Group Để có được thành công như ngày nay, không thể phủ nhận hoạt động quản lý tài chính, đặc biệt là quản lý nguồn vốn của Vodaphone Quản

lý tài chính của Vodaphone được tách rời đối với công tác kế toán thống kê Tại Vodaphone, quản lý tài chính là hoạt động tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về tài chính và đưa ra những quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn của công ty

Bộ phận tài chính của Vodaphone hàng ngày dựa vào báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự và tiền lương do bộ phận tài chính, kế toán quản trị, thống kê cung cấp, kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của Vodaphone với

Trang 40

các tập đoàn lớn khác trong lĩnh vực điện thoại di động Bằng sự nhạy bén cần thiết,

bộ phận quản trị tài chính có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của Vodaphone trong từng thời kỳ hoạt động

Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ, mở rộng thị trường và giải quyết những thác thức ngắn hạn, Vodaphone đã đặt ra một số nội dung trong điểm trong công tác quản lý tài chính nhằm đảm bảo kết quả tốt nhất:

Thứ nhất, luôn tìm hiểu rõ tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính, các số liệu thu - chi, thực trạng hoạt động của công ty lành mạnh hay không lành mạnh để từ đó nhìn thấy tình hình thực tế ẩn giấu bên trong hoặc từ việc phân tích mà thấy rõ cơ hội kinh doanh mới đưa công ty đến thành công

Thứ hai, chú trọng cơ chế quản lý nguồn vốn của công ty Cơ chế quản lý điều hành nguồn vốn và các chi phí sản xuất kinh doanh cần được tăng cường theo hướng điều chỉnh cơ cấu thu chi phù hợp với việc cắt giảm các chi phí đầu vào Cơ chế quản lý chi của công ty phải đảm bảo kế hoạch chi hợp lý, hiệu quả, đảm bảo kiểm soát được bội chi, tiến tới cân bằng vốn và doanh thu Hệ thống quản lý tài chính, chi tiêu từng bước thực hiện vi tính hoá, đẩy mạnh phân cấp quản lý tài chính trong công ty và tăng tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị trực thuộc của công ty Cân đối tỷ lệ chi và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh trong từng thời kỳ

và đảm bảo an toàn tài chính công ty

Thứ ba, tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính Công ty chủ động tiếp cận và tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tài chính và coi chi phí đầu tư về vốn là một phần của hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh

Thứ tư, đẩy nhanh tiến trình nâng cao năng lực của bộ máy quản lý tài chính trong công ty Đặc biệt đã hình thành đội ngũ chuyên gia quản lý tài chính có năng lực, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh doanh

Thứ năm, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của công ty luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý tài chính tại Vodaphone là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất [16]

Ngày đăng: 18/10/2023, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w