Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa là một lĩnh vực phong phú và hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là văn hóa của các dân tộc thiểu số Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện, từ cái nhìn tổng thể đến các khía cạnh cụ thể, trong nhiều thời điểm khác nhau Đối với văn hóa của người Tày và Nùng, cũng đã có không ít nghiên cứu đáng chú ý được thực hiện.
Cuốn sách "Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" của các tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội năm 1968, cung cấp cái nhìn tổng quan về các làng bản và văn hóa truyền thống của người Tày, Nùng.
Cuốn sách “Văn hóa Tày – Nùng” do các tác giả Hà Văn Thư và Lã Văn Lô biên soạn, được xuất bản bởi Nxb Văn hóa vào năm 1984, nghiên cứu sâu sắc về văn hóa của người Tày – Nùng, đặc biệt là những tập tục cưới xin phong phú.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên, nghiên cứu này bao gồm các hoạt động như ma chay, sinh đẻ, cúng giỗ, ăn mừng sinh nhật, mừng thọ, làm nhà và ăn mừng nhà mới Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị cao, góp phần quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Năm 1992, Viện Dân tộc học đã cho ra mắt cuốn sách “Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam”, một nghiên cứu toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành tộc người, cũng như các hình thái kinh tế, văn hóa và tổ chức xã hội của người Tày, Nùng Cuốn sách còn đề cập đến các yếu tố văn hóa như nghi lễ đám cưới, đám tang, tục lệ sinh đẻ, làm nhà mới và tôn giáo, tín ngưỡng, tất cả được trình bày trong bối cảnh văn hóa truyền thống của làng bản.
Cuốn sách “Văn hóa dân gian Tày” của Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn và Vũ Anh Tuấn, được xuất bản bởi Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thái Nguyên năm 2002, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc cũng như văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày.
- Gần đây, năm 2009, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra mắt cuốn
Cuốn sách “Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng” của tác giả Nguyễn Thị Yên góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và giới thiệu các giá trị văn hóa tín ngưỡng của người Tày, Nùng Tác phẩm cung cấp cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng dân gian, đồng thời tổng hợp và phân loại các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu trong bối cảnh giao lưu văn hóa Cuốn sách đánh giá hiện trạng và vai trò của các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của người Tày, Nùng, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy giá trị văn hóa trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, tác phẩm cũng giới thiệu các nghi lễ truyền thống như tang ma, lễ cấp sắc, lễ mừng thọ và lễ đầy tháng của người Tày, Nùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, bài viết nghiên cứu về văn hoá dân tộc thiểu số như:
- Phan Hữu Dật với cuốn “Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999
Nguyễn Từ Chi đã đóng góp vào nghiên cứu văn hóa và tộc người qua cuốn sách "Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người", xuất bản năm 2003 bởi Nxb Văn hoá Dân tộc và tạp chí Văn hoá nghệ thuật Hà Nội.
Bài viết của tác giả Vi Thị Tỉnh, mang tên “Nghi lễ vòng đời của dân tộc Nùng thôn Đồng Thuỷ”, khám phá nét văn hoá truyền thống độc đáo của người Nùng tại thôn Đồng Thuỷ, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Văn hoá thể thao và du lịch Bắc Giang, số 3-2009, phản ánh sự phong phú và đa dạng trong các nghi lễ văn hoá của dân tộc Nùng.
Các nghiên cứu về văn hoá đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt là văn hoá dân tộc thiểu số, trong đó có văn hoá của người Tày - Nùng Những công trình này đã đóng góp vào việc nghiên cứu văn hoá của hai dân tộc này trên phạm vi quốc gia, bao gồm văn hoá vật chất, tinh thần và xã hội, cũng như từ góc độ hẹp ở cấp tỉnh, xã và thôn Sự giao lưu và tiếp biến văn hoá đã tạo nên một nền văn hoá phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, văn hoá của người dân tộc thiểu số ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là văn hoá của người Tày - Nùng, vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Những giá trị nghiên cứu của các thế hệ trước là cơ sở quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Mục đích, đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa của người Tày - Nùng tại huyện Sơn Động nhằm mục tiêu hệ thống hóa những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo từ xa xưa đến hiện tại Qua đó, bài viết đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa này, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc.
Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn, nhưng bài viết này sẽ tập trung vào những bản sắc văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của cư dân người Tày - Nùng Mục tiêu là làm rõ những đặc trưng văn hóa mang tính địa phương của cộng đồng này.
- Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu văn hóa bản của người Tày - Nùng tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986 giúp chúng ta nhận diện những giá trị văn hóa độc đáo và tốt đẹp cần được bảo tồn Qua thời gian, những truyền thống và phong tục tập quán của người Tày - Nùng đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa phong phú của cộng đồng này Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa này không chỉ giữ gìn di sản văn hóa mà còn góp phần phát triển bền vững cho vùng đất Sơn Động.
- Tìm hiểu về những biến đổi của văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguồn tư liệu chung cho nghiên cứu văn hóa của người Tày, Nùng bao gồm các sách nghiên cứu chuyên sâu, văn kiện Đảng có tính chỉ đạo trong lĩnh vực văn hóa, cùng với tài liệu liên quan đến dân tộc thiểu số, kiến trúc, văn hóa dân gian, văn hóa làng xã và tôn giáo.
Nguồn tư liệu địa phương bao gồm các tài liệu tập huấn và tuyên truyền về chính sách dân tộc thiểu số cùng với chính sách 135, áp dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Động Ngoài ra, lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động và lịch sử Đảng bộ các xã cũng là những tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu và hiểu rõ hơn về bối cảnh phát triển của khu vực này.
Nguồn tư liệu điền dã phong phú bao gồm hương ước bản làng và gia phả của một số gia đình người Tày, Nùng Bên cạnh đó, các tư liệu truyền miệng từ các cụ cao niên ở nhiều bản làng cũng đóng góp quan trọng, với thông tin về tổ chức làng bản, tổ chức dân dã, truyện dân gian, nghi lễ thờ cúng, tập tục và kinh nghiệm kỹ thuật nghề truyền thống.
Do nghiên cứu về lịch sử địa phương gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu thành văn, nên tài liệu thực địa và điền dã trở thành nguồn tư liệu phong phú và quan trọng, đóng vai trò thiết yếu trong việc hoàn thành luận văn này.
5 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lô gíc; phương pháp tổng hợp hoá, khái quát hoá; phương pháp phân tích, so sánh, điền dã; các phương pháp xử lý tư liệu và một số phương pháp cần thiết khác
6 Đóng góp của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về "Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (từ 1945 đến 2010)" là công trình đầu tiên cung cấp cái nhìn toàn diện và hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng tại địa phương này Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm tương đồng và vai trò quan trọng của văn hoá trong đời sống cộng đồng.
Văn hóa của người Tày - Nùng tại huyện Sơn Động, Việt Nam, thể hiện sự đa dạng trong cộng đồng dân tộc Những giá trị văn hóa tốt đẹp của người Tày, Nùng đã được gìn giữ từ xa xưa và cần được bảo tồn cho các thế hệ mai sau.
7 Cấu trúc của luận văn:
Phần chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương1 : Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Chương 2: Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986
Chương 3: Những biến đổi văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương1 Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Sơn Động là huyện miền núi cao nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Giang, có diện tích 844,32 km vuông, bằng 22,09 % diện tích tỉnh Bắc Giang [Hình 1.1]
Huyện Sơn Động nằm trong toạ độ:
Từ 106 0 41’11” đến 107 0 ,02’40”kinh độ đông
Từ 21 0 08’46” đến 21 0 30’28” vĩ độ bắc
Huyện có vị trí địa lý đặc biệt, phía bắc giáp huyện Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp các huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ và Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh Về phía đông, huyện giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, trong khi phía tây giáp huyện Lục Ngạn và Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.
Trung tâm huyện lỵ là thị trấn An Châu nằm trên ngã ba quốc lộ 31 và
279, cách thị xã Bắc Giang 80 km 2 về phía đông bắc
Ngày 13-2-1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập huyện Sơn Động gồm ba tổng cắt ra từ huyện Lục Ngạn:
Tổng Biển Động (được sáp nhập thêm xã Phúc Thắng thuộc tổng An Châu, tỉnh Quảng Yên)
Tổng Niên Sơn (được sáp nhập thêm toàn bộ đất đai đồn điến Schnaider nằm ven bờ sông Lục Nam tuộc tổng Trù Hựu)
Tổng Hả Bộ gồm bảy xã: Giá Sơn, Hả Bộ, Hộ Đáp, Hữu Bằng, Kỷ Công, Phúc Lập, Xuân Trí
Huyện lỵ đặt tại Biển Động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngày 11-5-1917, quyền Thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định bãi bỏ huyện Yên Bác ( Quảng Yên) Đất đai huyện Yên Bác sáp nhập vào huyện Sơn Động
Ngày 25-9-1919, huyện Sơn Động Đổi thành châu Sơn Động
Năm 1927, châu Sơn Động có 8 tổng ( Biển Động, Cấm Sơn, Đông Đoàn, Hả Bộ, Niên Sơn,Tây Đoàn, Tứ Trang, Vị Loại), 53 xã, 15.342 nhân khẩu
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ,
53 xã hợp nhất lại thành 41 xã
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vào tháng 7-1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu I đã quyết định sáp nhập huyện Sơn Động và 10 xã tả ngạn sông Lục Nam thuộc huyện Lục Ngạn với huyện Hải Chi để thành lập châu Lục Sơn Hải, trực thuộc tỉnh Quảng Hồng Đến tháng 12-1948, liên tỉnh Quảng Hồng được chia thành tỉnh Quảng Hồng và đặc khu Hòn Gai Đầu năm 1949, châu Lục Sơn Hải đã bị giải thể và huyện Sơn Động được chuyển về tỉnh Quảng Yên.
Ngày 17-2-1955, khu Hồng Quảng Thành lập, huyện Sơn Động trở lại tỉnh Bắc Giang
Ngày 21-7-1957, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 24/TTg chia hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam Đến nay huyện Sơn Động có 21 xã và 2 thị trấn: Thị trấn An Châu, thị trấn Thanh Sơn, xã An Châu, Tuấn Mậu, Thạch Sơn, Phúc Thắng, Quế Sơn, Chiên Sơn, Giáo Liêm, Cẩm Đàn, Yên Định, Tuấn Đạo, Bồng Am, Thanh Luận, An Bá, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, An Lập, Vĩnh Khương, Lệ Viễn, Vân Sơn, Hữu Sản
Châu Sơn Động, hay huyện Sơn Động, đã trải qua nhiều biến đổi trong lịch sử, với địa giới không giống như hiện tại Những thay đổi này phản ánh sự phát triển và biến động của vùng đất này theo thời gian.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên bao gồm các khu vực thuộc tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và huyện Lục Ngạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn, nhưng bài viết này sẽ tập trung vào những bản sắc văn hóa đặc sắc và điển hình của cư dân người Tày - Nùng Mục tiêu là làm rõ những đặc trưng văn hóa mang tính địa phương của cộng đồng này.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Văn hóa bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986 chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cần được bảo tồn Nghiên cứu về văn hóa này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về truyền thống và phong tục tập quán của cộng đồng Tày - Nùng, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gìn giữ những di sản văn hóa độc đáo trong bối cảnh hiện đại.
- Tìm hiểu về những biến đổi của văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguồn tư liệu chung cho việc nghiên cứu văn hóa của người Tày, Nùng bao gồm các sách nghiên cứu chuyên sâu, văn kiện Đảng có tính chỉ đạo trong lĩnh vực văn hóa, cùng với các tài liệu liên quan đến dân tộc thiểu số, kiến trúc, văn hóa dân gian, văn hóa làng xã và tôn giáo.
Nguồn tư liệu địa phương bao gồm các tài liệu tập huấn và tuyên truyền về chính sách dân tộc thiểu số cũng như chính sách 135 dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Động Bên cạnh đó, lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động và lịch sử Đảng bộ các xã cũng là những tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu và hiểu biết về chính sách và phát triển cộng đồng địa phương.
Nguồn tư liệu điền dã phong phú bao gồm hương ước bản làng và gia phả của một số gia đình người Tày, Nùng Bên cạnh đó, các tư liệu truyền miệng từ các cụ cao niên ở một số bản làng cung cấp thông tin về tổ chức làng bản, tổ chức dân dã, truyện dân gian, nghi lễ thờ cúng, tập tục và kinh nghiệm kỹ thuật nghề truyền thống.
Do tính chất nghiên cứu về lịch sử địa phương, nguồn tài liệu thành văn thường hạn chế Vì vậy, tài liệu thực địa và điền dã trở thành nguồn tư liệu phong phú và quan trọng mà tôi đặc biệt chú trọng trong quá trình hoàn thành luận văn này.
5 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lô gíc; phương pháp tổng hợp hoá, khái quát hoá; phương pháp phân tích, so sánh, điền dã; các phương pháp xử lý tư liệu và một số phương pháp cần thiết khác
6 Đóng góp của luận văn:
Luận văn nghiên cứu “Văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (từ 1945 đến 2010)” là công trình đầu tiên cung cấp cái nhìn toàn diện và hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng tại địa phương Nghiên cứu này làm nổi bật những đặc điểm tương đồng và vai trò quan trọng của văn hoá Tày - Nùng trong bối cảnh lịch sử và xã hội.
Văn hóa của người Tày - Nùng tại huyện Sơn Động, một phần của cộng đồng đa dân tộc ở Việt Nam, mang trong mình những giá trị tốt đẹp cần được gìn giữ và bảo tồn Những giá trị văn hóa này đã tồn tại từ xa xưa đến nay, thể hiện sự phong phú và đa dạng trong di sản văn hóa của địa phương.
7 Cấu trúc của luận văn:
Phần chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương1 : Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Chương 2: Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986
Chương 3: Những biến đổi văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương1 Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Sơn Động là huyện miền núi cao nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Giang, có diện tích 844,32 km vuông, bằng 22,09 % diện tích tỉnh Bắc Giang [Hình 1.1]
Huyện Sơn Động nằm trong toạ độ:
Từ 106 0 41’11” đến 107 0 ,02’40”kinh độ đông
Từ 21 0 08’46” đến 21 0 30’28” vĩ độ bắc
Huyện nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, phía bắc giáp huyện Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ, Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn và phía tây giáp huyện Lục Ngạn, Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.
Trung tâm huyện lỵ là thị trấn An Châu nằm trên ngã ba quốc lộ 31 và
279, cách thị xã Bắc Giang 80 km 2 về phía đông bắc
Ngày 13-2-1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập huyện Sơn Động gồm ba tổng cắt ra từ huyện Lục Ngạn:
Tổng Biển Động (được sáp nhập thêm xã Phúc Thắng thuộc tổng An Châu, tỉnh Quảng Yên)
Tổng Niên Sơn (được sáp nhập thêm toàn bộ đất đai đồn điến Schnaider nằm ven bờ sông Lục Nam tuộc tổng Trù Hựu)
Tổng Hả Bộ gồm bảy xã: Giá Sơn, Hả Bộ, Hộ Đáp, Hữu Bằng, Kỷ Công, Phúc Lập, Xuân Trí
Huyện lỵ đặt tại Biển Động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngày 11-5-1917, quyền Thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định bãi bỏ huyện Yên Bác ( Quảng Yên) Đất đai huyện Yên Bác sáp nhập vào huyện Sơn Động
Ngày 25-9-1919, huyện Sơn Động Đổi thành châu Sơn Động
Năm 1927, châu Sơn Động có 8 tổng ( Biển Động, Cấm Sơn, Đông Đoàn, Hả Bộ, Niên Sơn,Tây Đoàn, Tứ Trang, Vị Loại), 53 xã, 15.342 nhân khẩu
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ,
53 xã hợp nhất lại thành 41 xã
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vào tháng 7-1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu I đã quyết định sáp nhập huyện Sơn Động cùng 10 xã tả ngạn sông Lục Nam thuộc huyện Lục Ngạn với huyện Hải Chi (Hải Ninh) để thành lập châu Lục Sơn Hải, trực thuộc tỉnh Quảng Hồng Đến tháng 12-1948, liên tỉnh Quảng Hồng được chia thành tỉnh Quảng Hồng và đặc khu Hòn Gai Đầu năm 1949, châu Lục Sơn Hải bị giải thể và huyện Sơn Động được chuyển về tỉnh Quảng Yên.
Ngày 17-2-1955, khu Hồng Quảng Thành lập, huyện Sơn Động trở lại tỉnh Bắc Giang
Ngày 21-7-1957, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 24/TTg chia hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam Đến nay huyện Sơn Động có 21 xã và 2 thị trấn: Thị trấn An Châu, thị trấn Thanh Sơn, xã An Châu, Tuấn Mậu, Thạch Sơn, Phúc Thắng, Quế Sơn, Chiên Sơn, Giáo Liêm, Cẩm Đàn, Yên Định, Tuấn Đạo, Bồng Am, Thanh Luận, An Bá, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, An Lập, Vĩnh Khương, Lệ Viễn, Vân Sơn, Hữu Sản
Châu Sơn Động, hay huyện Sơn Động, đã trải qua nhiều biến đổi trong lịch sử về địa giới, không giống như hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên, hiện nay bao gồm một phần của tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và huyện Lục Ngạn.
Vị trí địa lý của huyện Sơn Động đóng vai trò chiến lược quan trọng trong lịch sử và tương lai, ảnh hưởng đến cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự Nơi đây giáp ranh với các tỉnh biên giới Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển về Hà Nội và sang Trung Quốc Hơn nữa, Sơn Động còn có nhiều trục đường thông thương dễ dàng với các tỉnh lân cận.
Sơn Động có địa hình núi non trùng điệp, với phần lớn diện tích là đồi núi, dốc từ đông bắc xuống tây nam với độ dốc trung bình trên 25 độ Độ cao trung bình của huyện là 450 m so với mực nước biển, trong đó đỉnh núi Yên Tử cao nhất đạt 1.068 m Khu vực này có những cánh đồng nhỏ hẹp nhưng thuận lợi cho việc trồng lúa nước Điều kiện tự nhiên này rất phù hợp với đặc điểm sinh sống và canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Tày và Nùng, tạo nên sự đa dạng văn hóa tại Sơn Động.
Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên