Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại các huyện, thị xã thuộc tỉnh Cao Bằng
- Khảo sát sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe và trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng
- Giám định đặc tính sinh vật hóa học, yếu tố gây bệnh và serotype kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được
Đánh giá mức độ tương đồng giữa kháng nguyên trong vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò và kháng nguyên vi khuẩn Pasteurella được phân lập từ thực địa là một nghiên cứu quan trọng Việc so sánh này giúp xác định hiệu quả của vắc xin trong việc phòng ngừa bệnh, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết cho việc cải thiện quy trình sản xuất vắc xin Nghiên cứu này không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe đàn gia súc mà còn hỗ trợ trong việc quản lý dịch bệnh hiệu quả hơn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Bài viết này cung cấp thông tin về kết quả phân lập và giám định đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn, cũng như các yếu tố độc lực và kết quả xác định serotype kháng nguyên Những dữ liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về tính chất và hành vi của vi khuẩn, từ đó hỗ trợ cho công tác nghiên cứu và ứng dụng trong y học.
Pasteurella multocida phân lập được bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
- Cung cấp tư liệu thực tế về serotype kháng nguyên vi khuẩn
Pasteurella multocida trên thực địa tại Cao Bằng
- Cơ sở để lựa chọn vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò có khả năng bảo hộ cao
- Góp phần khống chế bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò Cao Bằng và trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc
* Những điểm mới của đề tài
- Bổ sung một số đặc điểm dịch tễ về sự lưu hành của vi khuẩn
Pasteurella ở trâu, bò khỏe; xây dựng bản đồ dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ những trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng, so sánh tự tương đồng về kháng nguyên với trâu bò khỏe mang trùng
- Xác định tình trạng miễn dịch chủ động tự nhiên đối với kháng nguyên vi khuẩn Pasteurella multocida của trâu, bò trong ổ dịch
Đánh giá sự an toàn và khả năng đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng là rất quan trọng Nghiên cứu này tập trung vào các loại vắc xin đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam Kết quả sẽ giúp xác định hiệu quả của vắc xin trong việc bảo vệ sức khỏe trâu, bò và từ đó nâng cao chất lượng chăn nuôi Việc đảm bảo an toàn cho vật nuôi không chỉ góp phần bảo vệ đàn gia súc mà còn ảnh hưởng tích cực đến ngành nông nghiệp.
4 Đối tƣợng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trâu, bò ở mọi lứa tuổi, vi khuẩn Pasteurella multocida
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, thuộc Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Viện KHSS - Đại học Thái Nguyên, phối hợp với Viện Thú y quốc gia và Trung tâm chẩn đoán thú y - Cục thú y Việt Nam.
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc
Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm
Năm 1878, bệnh tụ huyết trùng lần đầu tiên được phát hiện tại Munich, Đức, và sau đó lan rộng ra khắp thế giới, ảnh hưởng đến nhiều loài gia súc và gia cầm Đến năm 1885, nhà khoa học Kitt đã thành công trong việc phân lập vi khuẩn gây bệnh Qua nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy vi khuẩn tụ huyết trùng có nhiều điểm tương đồng về tính chất gây bệnh và kháng nguyên, nhưng lại khác nhau về mức độ gây bệnh cho từng loài động vật.
Năm 1887, Trevisan đã đề xuất đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella để vinh danh Louis Pasteur, người đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và phát hiện ra loại vi khuẩn này (De Alwis, 1992).
Vi khuẩn pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên tên của chúng được gắn với tên của loài vật mà chúng gây bệnh:
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò
Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu
Pasteurella aviseptica là tác nhân gây bệnh ở gà Năm 1939, Rosenbush và Merchant đã đề xuất đặt tên vi khuẩn này là Pasteurella multocida, phản ánh khả năng gây bệnh cho nhiều loài động vật Tên gọi này đã được công nhận chính thức và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay.
Bệnh tụ huyết trùng, theo Lignieres (1900), đã được ghi nhận ở ít nhất 6 loài vật nuôi khác nhau Hai thuật ngữ Haemorrhagic septicaemia và Pasteurellosis thường được coi là đồng nghĩa Tuy nhiên, theo quy ước của FAO (FAO/WHO/CIF, 1970), hai thuật ngữ này được phân biệt trong tài liệu quốc tế về súc sản: Haemorrhagic septicaemia chỉ bệnh do P multocida serotype I Roberts gây ra, trong khi Pasteurellosis chỉ bệnh do vi khuẩn Pasteurella Tại Châu Á, bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò do P multocida gây ra thường xuất hiện dưới hai thể chính: nhiễm trùng máu và xuất huyết.
- HS) và viêm phổi ở bò (Bovine pneumonic pasteurellosis)
Hơn một thế kỷ sau khi được phát hiện, P multocida vẫn là tác nhân chính gây bệnh tụ huyết trùng ở nhiều loài gia súc và gia cầm Mặc dù có khả năng thích nghi để gây bệnh trên nhiều loài động vật khác nhau, nhưng bệnh này vẫn tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của chúng.
P multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau
Bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam lần đầu tiên được phát hiện vào cuối thế kỷ 19, bắt đầu với thông báo của Cudamie về bệnh ở trâu tại tỉnh Bà Rịa và Long Thành vào năm 1868 Tiếp theo, Gemain phát hiện bệnh ở Gò Công vào năm 1869, và Yersin ghi nhận bệnh ở các tỉnh miền Trung từ năm 1889 đến 1895 Đến năm 1901, Shein đã xác nhận ổ dịch ở trâu và bò tại Tây Ninh do vi khuẩn P multocida thông qua phương pháp phân lập và tiêm truyền qua động vật thí nghiệm (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958).
Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987)[31], tại Việt Nam bệnh thường xảy ra ở Nam bộ và đặc biệt ở miền tây Nam bộ, vào những năm 1910, 1919, 1920,
Trong các năm 1933 và 1935, dịch bệnh tụ huyết trùng đã bùng phát mạnh mẽ, gây thiệt hại nặng nề, đặc biệt ở những vùng đất trũng, thấp và có khí hậu ẩm ướt Theo Bùi Quý Huy (1998), bệnh này trước đây chủ yếu xảy ra ở các tỉnh phía Nam và chỉ lẻ tẻ ở phía Bắc Vào những năm 70, khoảng 80% ổ dịch và 84% thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng đều tập trung ở các tỉnh phía Nam Đến những năm 90, sự phân bố địa lý của bệnh đã có sự thay đổi đáng kể.
Bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò thường xảy ra đồng thời với các cơn mưa tại từng khu vực và kéo dài cho đến khi kết thúc mùa mưa, theo nhận định của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Ngã (1978), Nguyễn Thiên Thu (1996) và Nguyễn Thiên Thu (1996).
Nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn P multocida, cùng với các phương pháp chẩn đoán, phân lập và sản xuất vắc xin phòng bệnh hiệu quả.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007)[8] tiến hành nghiên cứu một số đặc tính của vi khuẩn P multocida phân lập từ trâu, bò, lợn
Phan Thanh Phượng (1986 - 1990) đã nghiên cứu và chế tạo vắc xin nhũ hoá bằng công nghệ lên men sục khí, mang lại hiệu quả cao hơn trong việc phòng chống bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò, lợn và gia cầm so với các loại vắc xin trước đây.
Dương Thế Long (1995)[18] đã phân lập được vi khuẩn P multocida gây bệnh cho các loài vật nuôi (trâu, bò, lợn và gà) tại tỉnh Sơn La
Nguyễn Ngã và Nguyễn Thiên Thu (1996) đã phân lập vi khuẩn P multocida từ trâu và bò mang trùng tại khu vực miền Trung, đồng thời xác định tính tương đồng kháng nguyên của các chủng vi khuẩn này với chủng vắc xin Iran.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò Bùi Văn Dũng (2000) đã khảo sát tình hình bệnh và vi khuẩn P multocida từ dịch ngoáy mũi của trâu, bò khỏe tại tỉnh Lai Châu Hoàng Đăng Huyến (2004) đã nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng ở Bắc Giang Nguyễn Đăng Minh (2005) cũng đã tìm hiểu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella trong đàn trâu, bò tại tỉnh Hà Tây.
(2007) [35] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định Type các chủng vi khuẩn
P multocida phân lập từ vật nuôi
1.2 Dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng
1.2.1 Nguồn bệnh và phương thức lây lan
Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị bệnh và mang trùng