ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN i Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http //www lrc tnu edu vn ĐẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THANH LOAN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT UY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH
TỔNG QUAN
Nghiên cứu về phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi đã được thực hiện bởi nhiều tác giả, bao gồm Nguyễn Thế Chung với luận văn về biện pháp dạy học bài tập vật lý (2009), Đào Quang Thành với nghiên cứu về tổ chức kỹ năng giải bài tập vật lý (1997), và Nguyễn Thành Quê với việc xây dựng bài tập trong giảng dạy chương "Các định luật bảo toàn" (2011) Tuy nhiên, các luận văn này chủ yếu tập trung vào một mảng bài tập trắc nghiệm định tính hoặc định lượng mà chưa mở rộng ra những khía cạnh khác.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.Tính tích cực, tự lực trong hoạt động nhận thức của học sinh
Nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, giúp con người tư duy và tiến gần hơn đến sự hiểu biết về khách thể.
Theo phép tƣ duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người diễn ra từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và ngược lại Quá trình này trải qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng Người học, trước hiện thực khách quan và nhu cầu cá nhân, có xu hướng khám phá cái mới Tuy nhiên, cái mới mà họ tìm kiếm thường chỉ mang ý nghĩa mới mẻ đối với bản thân, dù có thể đã được biết đến từ lâu trong nhân loại.
Trong quá trình tiếp thu kiến thức, người học nhận được sự hướng dẫn từ nhà giáo dục, điều này giúp họ lĩnh hội và phát triển tri thức mới một cách hiệu quả hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Việc tiếp cận tri thức hiện nay trở nên dễ dàng và nhanh chóng, nhưng người học không chỉ tiếp thu một cách thụ động Họ cần có sự thẩm định và kiểm tra thường xuyên để lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm xã hội Mỗi cá nhân có cách tiếp cận độc đáo để nhận thức những kiến thức mới, và mặc dù giáo viên có vai trò hướng dẫn, nhưng điều đó chưa đủ để tạo ra sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện Để củng cố và kiểm nghiệm tri thức, người học cần tiến hành một quá trình tự giáo dục song song với quá trình giáo dục chính thức từ giáo viên.
Mặc dù sự tác động của nhà giáo dục rất lớn, nhưng tự giáo dục vẫn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức của người học Tự giáo dục không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tìm tòi kiến thức mới mà còn giúp người học dễ dàng tiếp thu và củng cố tri thức, tạo ra sự kiên định trong việc áp dụng những gì đã học.
Hoạt động nhận thức của người học là một hoạt động mang tính độc đáo riêng
Việc tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức của người học là rất quan trọng, trong đó vai trò của nhà giáo dục là thiết yếu Họ không chỉ truyền thụ tri thức mà còn hướng dẫn và định hướng cho quá trình nhận thức của học sinh.
2.1.2 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức
2.1.2.1 Tính tích cực là gì
Tính tích cực là sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt :
+ Sinh lí : Đòi hỏi chi phí nhiều năng lƣợng cơ bắp
+ Tâm lí : Tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng
+ Xã hội: Đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…
Theo T.S I.F Khalamốp, tính tích cực được hiểu là trạng thái hoạt động của các chủ thể, tức là những người hành động, và nó chỉ liên quan đến quá trình nhận thức trong bối cảnh mục đích trước mắt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tính tích cực trong nhận thức thể hiện nỗ lực của người học khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập và nghiên cứu Điều này cho thấy sự huy động cao các chức năng tâm lý như hứng thú, chú ý và ý chí, nhằm đạt được mục tiêu với chất lượng tốt nhất.
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện qua khát vọng học tập mạnh mẽ, sự nỗ lực trí tuệ và nghị lực cao trong việc tiếp thu kiến thức.
2.1.2.2 Đặc điểm của tính tích cực a.Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
Mặt tự phát là những yếu tố tiềm ẩn và bẩm sinh, thể hiện qua tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của học sinh với những mức độ khác nhau Việc nuôi dưỡng và phát triển những yếu tố tự phát này trong quá trình dạy học là vô cùng cần thiết.
Mặt tự giác là trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõ ràng, thể hiện qua óc quan sát, tính phê phán và trí tò mò khoa học Tính tự giác trong nhận thức không chỉ phát sinh từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ và nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của tính tự giác nhận thức là hoạt động tư duy cá nhân, được thúc đẩy bởi hệ thống nhu cầu đa dạng Mặc dù tính tự giác nhận thức và tính tự giác học tập liên quan chặt chẽ với nhau, chúng không hoàn toàn giống nhau; trong một số trường hợp, tính tự giác học tập có thể thể hiện qua hành động bên ngoài mà không phản ánh tư duy tự giác.
2.1.2.3 Biểu hiện của tính tích cực trong hoạt động nhận thức Để đánh giá tính tích cực của HS ta căn cứ vào một trong những tiêu chí, những dấu hiệu biểu hiện cụ thể sau đây:
+ Có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không? ( chú ý lắng nghe và thực hiện tốt các công việc mà giáo viên yêu cầu)
Tham gia tích cực vào mọi hình thức hoạt động học tập là rất quan trọng, bao gồm việc xây dựng bài, ghi chép, suy nghĩ, thảo luận nhóm và nhận xét bài của bạn bè Những hoạt động này không chỉ giúp củng cố kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Có đọc thêm, làm thêm bài tập khác không?
+ Có ghi nhớ và hiểu bài tốt không? (tái hiện kiến thức cũ, vận dụng trả lời những câu hỏi nhỏ của giáo viên…)
+ Có thường xuyên hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, tổ không ?
+ Có thể tự trình bày lại nội dung chính của bài theo ngôn ngữ riêng không? Tới mức độ nào?
+ Có hay lui tới thƣ viện, cửa hàng sách không?
+ Có hứng thú trong học tập không ? hay chỉ vì một ngoại lực nào đó ?
+ Có quyết tâm vƣợt khó thông qua việc có kiên trì hoàn thành các bài tập khó, không nản trước những tình huống phức tạp không?
+ Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
+ Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp,… năng lực tƣ duy nói chung không?
+ Có thể hiện sự sáng tạo trong học tập không?
+ Có hoàn thành nhiệm vụ học tập đƣợc giao không?
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
+ Có biết vận dụng và liên hệ kiến thức mới vào thực tế đƣợc không? Tới mức độ nào?
+ Có phát triển tính năng động, sáng tạo không ?
Kết quả kiểm tra và thi cử phản ánh mức độ học tập của học sinh, trong đó tính tích cực học tập có mối quan hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học.
- Tính tự giác: đó là sự tự nhận thức đƣợc nhu cầu học tập của mình và có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả
- Tính độc lập tƣ duy: Đó là sự tự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ nhận thức Đây là biểu hiện cao của TTC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tính chủ động trong quá trình nhận thức thể hiện qua việc người học làm chủ các hành động, từ việc xác định nhiệm vụ đến lập kế hoạch thực hiện, tự đọc thêm tài liệu, làm bài tập và kiểm tra Trong giai đoạn này, tính chủ động học tập (TTC) đóng vai trò quan trọng như một tiền đề cần thiết cho các hoạt động học tập của người học.