1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quân đội nhân dân việt nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

174 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quân đội nhân dân việt nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả Hoàng Văn Phai
Người hướng dẫn PGS, TS Trần Đăng Bộ, PGS, TS Nguyễn Trọng Xuân
Trường học Học Viện Chính Trị
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình khoa học ở nước ngoài nghiên cứu về quân đội ở một số quốc gia trên thế giới và khu vực tham gia đào tạo NNL dân sự được đề cập ở những nội dung, phạm vi và mức độ khác

Trang 1

Học viện chính trị



Hoàng văn phai

Quân đội nhân dân việt nam tham gia

đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc

luận án tiến Sĩ kinh tế

Trang 2

Bộ quốc phòng

Học viện chính trị



Hoàng văn phai

Quân đội nhân dân việt nam tham gia

đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số : 62 31 01 02

luận án tiến Sĩ kinh tế

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:

1 PGS, TS Trần Đăng Bộ

2 PGS, TS Nguyễn Trọng Xuân

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

T«i cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ cã xuÊt

xø râ rµng!

Hoàng Văn Phai

Hoàng Văn Phai

Trang 4

Chương 1 QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THAM GIA ĐÀO TẠO

NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI

1.1 Nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực và quân đội tham

gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện

1.2 Những căn cứ của quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực

phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 35 1.3 Quân đội một số nước tham gia đào tạo nguồn nhân lực dân

sự và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 43

Chương 2 THỰC TRẠNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THAM GIA

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ,

2.1 Thành tựu và nguyên nhân trong tham gia đào tạo nguồn

nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.2 Hạn chế và nguyên nhân trong tham gia đào tạo nguồn nhân lực

phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của quân đội 85 2.3 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng quân đội tham gia đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 98

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THAM

GIA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG

3.1 Quan điểm chỉ đạo quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân

lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 107 3.2 Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tham gia đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

Trang 5

STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT

3 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH

4 Đảng uỷ quân sự Trung ương ĐUQSTW

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu

Sự nghiệp CNH,HĐH đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí của nhân dân lao động để tiếp cận và ứng dụng những khoa học kỹ thuật, công nghệ mới; chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại… Vì vậy, giáo dục phải trở thành nền tảng của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

Với điều kiện, khả năng, năng lực đào tạo hiện có của mình, quân đội đã

và đang tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; bước đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ, song quá trình tham gia vẫn còn những hạn chế, bất cập Để nâng cao hơn nữa hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ đất nước Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” để nghiên cứu Nghiên cứu sinh xác định nhiệm vụ nghiên cứu, luận giải và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn; đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Qua đó, khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước là đúng; từng bước hội nhập hệ thống nhà trường quân đội với hệ thống giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo NNL quân sự và tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

Bước đầu, nghiên cứu sinh đã có một số công trình khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành và một số tạp chí khác ở trong và ngoài quân đội cùng với

sự tích cực, chủ động tìm kiếm các nguồn tài liệu để nghiên cứu Đến nay, nghiên cứu sinh đã có gần 80 danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo, số liệu liên quan đến đề tài là cơ sở để nghiên cứu sinh triển khai nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Kết cấu luận án gồm: phần mở đầu, tổng quan; phần nội dung 3 chương,

8 tiết; phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

2 Lý do lựa chọn đề tài

Quá trình CNH,HĐH ở nước ta được tiến hành từ một nền kinh tế với trình độ phát triển thấp, đội ngũ lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao Trong khi đó, Đảng ta xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã đặt ra nhu cầu lớn về đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

Với những tiềm năng về nhân lực, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất

kỹ thuật phục vụ hoạt động đào tạo, nhất là kinh nghiệm đào tạo NNL quân sự, quân đội là một trong những nguồn lực quan trọng trong tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Trên thực tế, quân đội đã khẳng định được năng lực đào tạo và trực tiếp tham gia đào tạo NNL cho đất nước, kết quả bước đầu rất đáng tin cậy Sản phẩm đào tạo của quân đội đã được xã hội chấp nhận, ngày càng có uy tín, đáp ứng tốt yêu cầu về NNL phục vụ CNH,HĐH

Sau 10 năm tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH, quân đội thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cả về nội dung, chương trình, phương pháp, ngành nghề và lĩnh vực đào tạo Mặc dù kết quả tham gia đào tạo NNL phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH của quân đội rất đáng trân trọng, nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập như: chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; hiệu quả tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH thấp; chưa giải quyết tốt các mối quan hệ giữa nhiệm vụ đào tạo NNL quân sự và tham gia đào tạo NNL dân sự nên dẫn đến tình trạng quá tải ở một số CSĐT làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ đào tạo NNL quân sự; thực hiện liên kết, hợp tác đào tạo còn hạn chế; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu NNL của CNH,HĐH đất nước; công tác quản lý của Nhà nước về GDĐT ở các CSĐT quân đội còn chồng chéo

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước của Quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 8

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào

tạo NNL

- Phạm vi nghiên cứu: Quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ

CNH,HĐH đất nước được diễn ra dưới nhiều hình thức, nội dung; cả trực tiếp

và gián tiếp; song luận án chỉ tập trung nghiên cứu quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH trực tiếp ở hai cấp học và trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân là: giáo dục nghề nghiệp (có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); giáo dục đại học (đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ) Thời gian nghiên cứu: từ năm 2002 đến nay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Những đóng góp mới của luận án

- Luận án làm rõ quan niệm Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

- Đánh giá thực trạng hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước trong 10 năm qua

- Đề xuất hệ thống quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước của quân đội trong thời gian tới

* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Góp phần làm rõ cơ sở khoa học của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước của quân đội

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập, một số nội dung liên quan đến đào tạo NNL và quân đội tham gia đào tạo NNL

Trang 9

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án được các tác giả đề cập ở những khía cạnh, góc độ khác nhau và tập trung chủ yếu ở các quốc gia như Mỹ, Nga, Trung Quốc với những công trình tiêu biểu sau:

- “Hiệu quả của giáo dục kinh tế” của A.P Prô-khôm-xki (Nga) [53] Tác giả đã trình bày một số vấn đề về giáo dục ở Nga, sự cần thiết phải xây dựng hệ thống giáo dục sát thực tế; nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đại học, NNL chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu về NNL ở tất cả các lĩnh vực

- Human resources for national strength của Stanley L.Falk (Mỹ) [76]

Tác giả trình bày về vai trò của NNL đối với sức mạnh của quốc gia, về NNL

và đào tạo NNL; về GDĐT và mối quan hệ giữa GDĐT với sự phát triển của đất nước; mối quan hệ giữa lao động và công nghệ Cuốn sách cũng dành một phần trình bày tổng quát về NNL cho quốc phòng; yêu cầu về NNL cho quân đội và việc duy trì, đào tạo, sử dụng, triển vọng của NNL này; trường hợp sử dụng NNL khẩn cấp

- Classroms in the military của Harold F.Clack and Harold S.Loan (Mỹ)

[75] Cuốn sách trình bày về các lớp học trong quân đội với mục đích để đổi mới giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong các nhà trường của Quân đội Mỹ

- The National defense college ThaiLan, của Kamthon Sathirakul (Thái

Lan) [77] Cuốn sách trình bày khái quát về lịch sử, nhiệm vụ, chức năng, tổ chức, kế hoạch và chương trình giảng dạy của nhà trường

- “Một góc nhìn nhà trường, học viện quân sự” của Lý Thìn Quang (Trung Quốc) [54] Tác giả khái quát về vị trí, vai trò của nhà trường, học viện quân sự trong đào tạo NNL đáp ứng nhu cầu của quân đội và đất nước

Trang 10

- “Tổng quan về năm trường đại học tổng hợp trong toàn quân” của Lăng Tường (Trung Quốc), [53] Tác giả khái quát về năm trường đại học tổng hợp của Quân đội Trung Quốc là: Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật quốc phòng, Trường Đại học Công trình Vật lí, Trường Đại học Công trình Thông tin, Trường Đại học Công trình Hải quân và Trường Đại học Công trình Không quân Các trường này ngoài nhiệm vụ đào tạo NNL quân sự còn tham gia đào tạo NNL cho đất nước, trên thực tế đã đào tạo, bồi dưỡng hơn mười vạn nhân tài kỹ thuật chuyên ngành các loại như học sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ và đội ngũ cán

bộ quản lí kỹ thuật

Những công trình khoa học ở nước ngoài nghiên cứu về quân đội ở một số quốc gia trên thế giới và khu vực tham gia đào tạo NNL dân sự được đề cập ở những nội dung, phạm vi và mức độ khác nhau; song tựu trung lại các công trình này đều khẳng định vai trò của NNL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong điều kiện thời bình, ngoài nhiệm vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng, phát triển NNL quân sự, quân đội còn tích cực tham gia đào NNL dân

sự cho đất nước - nhân tố có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững Một số công trình tập trung phân tích về vai trò của NNL đối với sự phát triển của đất nước và của quân đội, về trường hợp sử dụng NNL khẩn cấp nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến tranh Tuy nhiên, những công trình khoa học này chỉ đề cập riêng lẻ, độc lập từng vấn đề về quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự ở các góc độ khác nhau, các quốc gia khác nhau, với các thể chế chính trị khác nhau; chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách

hệ thống về cơ sở khoa học của quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự phù hợp với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta Song, đây là nguồn tài liệu, kinh nghiệm quý cho nghiên cứu sinh tiếp cận, nghiên cứu và làm rõ vấn đề nghiên cứu của luận án

Trang 11

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài

Tiêu biểu cho các công trình khoa học ở trong nước nghiên cứu liên quan đến đề tài: Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gồm:

* Nhóm các công trình khoa học bàn về nguồn lực và nguồn lực con người

- Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở

Việt Nam của Đoàn Văn Khái [34] Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận

về nguồn lực kinh tế; vai trò của nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế; kinh nghiệm huy động, sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của một số quốc gia và vùng lãnh thổ; đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp huy động, sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm nâng cao tốc

độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

- Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá của

Vũ Bá Thể [56] Tác giả tập trung làm rõ khái niệm NNL, và phát triển NNL;

về vai trò của NNL đối với tăng trưởng kinh tế và sự nghiệp CNH,HĐH ở Việt Nam; Đồng thời, đưa ra định hướng và những giải pháp cũng như dự báo nhu cầu phát triển NNL trong thời gian tới để nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển NNL

- “Tài nguyên chất xám, tài nguyên con người, nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong giai đoạn chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Lê Khả Phiêu [50] Theo tác giả, trong mọi điều kiện của nền kinh tế thì nguồn tài nguyên con người, tài nguyên chất xám là nhân tố quyết định sự phát triển, đặc biệt khi nguồn lực tài chính và vật chất ở nước ta hiện nay còn hạn hẹp

Những công trình khoa học này đã đưa ra khái niệm về nguồn lực, nguồn lực con người và nghiên cứu, phân tích làm rõ các loại nguồn lực Trong đó, các công trình khoa học đều nhấn mạnh đến vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Một số công trình đã tập

Trang 12

trung phân tích, đánh giá về thực trạng các loại nguồn lực và nguồn lực con người ở nước ta; kinh nghiệm huy động và sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển kinh tế ở một số nước trên thế giới Trên cơ sở đó, các công trình khoa học đã đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Tuy nhiên, những công trình khoa học trên mới chỉ dừng lại ở việc khái quát những vấn đề, luận điểm chung nhất về nguồn lực và nguồn lực con người mà chưa đề cập đến vai trò của quân đội đối với sự phát triển của đất nước, trong đó có hoạt động GDĐT

* Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực, đào tạo

và phát triển nguồn nhân lực

- Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý xã hội ở

Việt Nam trong tiến trình đổi mới - Những vấn đề lý luận; Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước hiện nay Những vấn đề đặt ra - giải pháp

của Nguyễn Ngọc Phú [51] Tác giả khái quát quan điểm, đường lối, chính

sách của Đảng và Nhà nước ta về NNL và nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nội dung và giải pháp phát triển NNL, nhân tài ở nước ta hiện nay

- Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước của Nguyễn Thanh [55] Tác giả đã luận giải và chỉ rõ, phát triển NNL

là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH,HĐH; tác giả cũng đưa ra khái niệm NNL; đánh giá thực trạng phát triển NNL và định hướng phát triển NNL cho CNH,HĐH đất nước

- Kinh tế nguồn nhân lực, của Trần Xuân Cầu [5] Cuốn sách trình bày

nhiều vấn đề về NNL ở góc độ kinh tế từ đối tượng, phương pháp, nội dung nghiên cứu và mối quan hệ giữa kinh tế NNL với các khoa học khác Cuốn sách tập trung giải quyết các nội dung cơ bản như: đào tạo và phát triển NNL, thị trường lao động, năng suất lao động, cung cầu lao động và các nhân tố ảnh hưởng, giải quyết việc làm, tiền lương và các chính sách xã hội khác liên quan

Trang 13

- “Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực” của

Nguyễn Minh Đường [24] Tác giả tập trung làm rõ các khái niệm về nguồn lực con người, NNL, phát triển NNL

Nhóm các công trình khoa học này đã đề cập và giải quyết nhiều vấn đề như: đưa ra khái niệm NNL, đào tạo và phát triển NNL; kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và bài học đối với Việt Nam về đào tạo và phát triển NNL Một số công trình đã tập trung luận giải cơ sở khoa học NNL, nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới; nhiều công trình đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển NNL ở nước ta; đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NNL ở nước ta hiện nay Song, các công trình khoa học này chưa bàn đến quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH và đây là khoảng trống khoa học để nghiên cứu sinh lựa chọn hướng nghiên cứu của mình

* Nhóm các công trình khoa học về đào tạo nguồn nhân lực quân sự và quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Tài liệu Hội nghị đổi mới và phát triển dạy nghề trong quân đội giai

đoạn 2012 - 2020, Cục Nhà trường [11] Tài liệu đã đánh giá thực trạng công

tác dạy nghề quân đội giai đoạn 2006 - 2012; phương hướng, mục tiêu và kế hoạch đổi mới phát triển dạy nghề trong quân đội giai đoạn 2012 - 2020; trên

cơ sở đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm đổi mới và phát triển dạy nghề trong quân đội giai đoạn 2012 - 2020

- “Nghiên cứu kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà

giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội”, Đổi mới công

tác giáo dục - đào tạo cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn mới, Vũ Việt [70] Tác giả đã

luận giải cơ sở lý luận về kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng ĐNNG,

Trang 14

cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội; đánh giá thực trạng và

đề xuất giải pháp kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội

- “Xây dựng Học viện Kỹ thuật quân sự xứng đáng là trường trọng điểm quốc gia” của Nguyễn Công Định [21] Tác giả trình bày khái quát về nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, chuyên ngành đào tạo của học viện, trong đó có nhiệm vụ đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

- Quân đội nhân Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất

nước trong tình hình hiện nay của Vũ Thanh Chế [6]; Vai trò quân đội trong

quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, của Nguyễn Văn

lý [41] Các tác giả tập trung luận giải, phân tích và làm rõ nhiều vấn đề về vai trò của quân đội trong phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và vai trò của quân đội

trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của Nguyễn Minh

Khải [33] Tác giả đã luận giải nhiều vấn đề; trong đó có việc đề xuất giải pháp phát triển và sử dụng có hiệu quả NNL được thực hiện đồng bộ trên các mặt: GDĐT, sử dụng lao động và tạo việc làm

- “Vài nét về Hệ thống nhà trường quân sự Trung Quốc” của Quang Đức [22] Trong phạm vi bài viết này, tác giả đã làm nổi bật được vai trò của

Hệ thống nhà trường quân sự Trung Quốc ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là đào tạo đội ngũ cán bộ cho Quân đội Trung Quốc, còn tích cực tham gia có hiệu quả vào việc đào tạo, phát triển NNL cho đất nước Đối tượng đào tạo là cán bộ hành chính, cán bộ các địa phương … với các cấp học, bậc học khác nhau, nhất là NNL chất lượng cao

- “Trường Trung cấp Nghề số 2 - Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách xã hội”, của Nguyễn Ngọc Long [40] Tác giả làm rõ ý nghĩa đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách xã hội

Trang 15

Nhóm các công trình khoa học này tập trung giải quyết một số vấn đề về vai trò của quân đội đối với xây dựng và phát triển kinh tế đất nước; đối với CNH,HĐH; vai trò của quân đội trong chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và đưa ra khái niệm về các vấn đề đó Một số công trình khoa học đã bàn đến đào tạo NNL dân sự ở các CSĐT của quân đội Tác giả Nguyễn Công Định đã khái quát kết quả tham gia đào tạo NNL dân sự ở Học viện Kỹ thuật quân sự Tác giả Nguyễn Ngọc Long đã làm rõ vai trò của quân đội tham gia đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ, các đối tượng chính sách và nhân dân Tuy nhiên, những công trình này chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề liên quan đến đề tài; một số công trình khoa học nghiên cứu quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự ở những CSĐT cụ thể, với một số ngành nghề, trình độ đào tạo cụ thể Đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước một cách hệ thống

Như vậy, các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước đều khẳng định quân đội tham gia đào tạo NNL cho đất nước là quan điểm, chủ trương đúng, cần được mở rộng và phát huy hơn nữa trong thời gian tới Các công trình khoa học đã đề cập đến các góc độ, khía cạnh khác nhau như: khái niệm nguồn lực con người, NNL, phát triển NNL và đào tạo NNL; về kinh nghiệm GDĐT của các nước trên thế giới và sự vận dụng đối với Việt Nam; về việc huy động các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Nhiều công trình cũng bàn về vai trò của quân đội trong phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp CNH,HĐH đất nước; về những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH ở các nhà trường quân đội Tuy nhiên, các công trình khoa học này chỉ đề cập ở những khía cạnh, lĩnh vực khác nhau về đào tạo NNL; đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào

Trang 16

giải quyết một cách hệ thống cơ sở khoa học về Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Mặc dù vậy, tổng quan những công trình của các nhà khoa học nghiên cứu ở trong và ngoài nước trên đây đã giúp nghiên cứu sinh có cách nhìn nhận, đánh giá và phương pháp nghiên cứu vấn đề một cách khoa học

2 Những vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục tập trung giải quyết

2.1 Những vấn đề về lý luận

Luận án cần tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận về quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; đưa ra quan niệm về NNL, đào tạo NNL và quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; về cấp học, trình độ và lĩnh vực quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Nghiên cứu, phân tích, chứng minh và khẳng định những căn cứ khoa học của quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ đất nước Mặt khác, bám sát sự vận động của thực tiễn, để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị với các cơ quan chức năng bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề thực tiễn mới đặt ra đòi hỏi phải được tổng kết, đúc rút thành lý luận nhằm tiếp tục chỉ đạo, định hướng hoạt động GDĐT nói chung

và quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước nói riêng

2.2 Những vấn đề về thực tiễn

Một số vấn đề thực tiễn đòi hỏi nghiên cứu sinh cần tập trung giải quyết trong luận án là: nghiên cứu, đánh giá thực trạng Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; trong đó cần làm

rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Làm rõ một số vấn đề lý luận về Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; đánh giá thực trạng Quân đội

Trang 17

nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo

NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước trong thời gian tới

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục tiêu của đề tài, nội dung nghiên cứu sẽ tập trung vào một

số vấn đề chủ yếu sau:

- Phân tích, làm rõ quan niệm quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan của quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; nghiên cứu kinh nghiệm quân đội một số nước tham gia đào tạo NNL dân sự và rút ra bài học đối với Việt Nam

- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

- Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận án sử dụng các phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia Việc vận dụng các phương pháp này giúp nghiên cứu sinh

có cánh tiếp cận, nghiên cứu và phân tích các vấn đề trong mối liên hệ chung

và sự tác động lẫn nhau trong sự phát triển không ngừng; bảo đảm được cơ sở khoa học, khách quan của vấn đề nghiên cứu

Phương pháp đặc thù là phương pháp trừu tượng hoá khoa học Phương pháp này giúp nghiên cứu sinh gạt bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình nghiên cứu, tập trung đi sâu vào các mối liên hệ bản chất, bền vững để nghiên cứu

Trang 18

Theo Từ điển tiếng Việt: Nguồn là “Nơi bắt đầu cửa sông, suối Nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp” [66, tr.692]; Nhân lực là “Sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất” [66, tr.710] Trong đó, sức người dùng trong lao động sản xuất hay sức lao động được C Mác chỉ rõ: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [42, tr.251]

Từ góc độ kinh tế chính trị học, nhân lực là lực lượng và năng lực của những người lao động sản xuất được bao gồm cả thể lực và trí lực; là năng lực lao

Trang 19

động tồn tại trong cơ thể con người, do con người đảm nhận; người mà không

có khả năng lao động thì không nằm trong NNL như đã xác định

Nguồn nhân lực được tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, NNL “Là nhân khẩu có năng lực lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội” [13, tr.1064]; mà nhân khẩu là “người trong một gia đình, một địa phương” [66, tr.710] Tiến sĩ kinh tế Trần Thị Tuyết Mai đưa ra khái niệm NNL (theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoá được): “Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động” [44, tr.17] Theo nghĩa rộng, NNL được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, gồm tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Tiến sĩ Hà Quý Tình cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ sức lao động của những người trong độ tuổi lao động có khả năng huy động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội” [59, tr.6]

Theo tiến sĩ Nguyễn Thanh, Nguồn nhân lực, nguồn lực con người là tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự nỗ lực của bản thân, là tổng thể số lượng dân

và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lí tưởng, chất lượng văn hoá, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và

xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội [55, tr.75]

Nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Song, tuỳ theo cách tiếp cận mà khái niệm NNL có thể khác nhau Cụ thể, có một số cách tiếp cận nghiên cứu NNL sau:

Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người thì NNL được hiểu là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể

Trang 20

phát triển bình thường và có khả năng lao động Trong tính toán và dự báo NNL của quốc gia hoặc của địa phương gồm hai bộ phận là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế của con người thì NNL gồm toàn bộ những người đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội… Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động và giới hạn tuổi lao động thì NNL gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái

có việc làm hay không Với các tiếp cận dựa vào độ tuổi lao động và trạng thái không hoạt động kinh tế ta có khái niệm NNL dự trữ gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia lao động vì những lý do khác nhau; bao gồm những người làm công việc nhà cho chính gia đình mình, học sinh, sinh viên, người thất nghiệp, quân nhân xuất ngũ, lao động hợp tác với nước ngoài đã hết hạn hợp đồng về nước, người hưởng lợi tức

Với cách phân biệt khái niệm về NNL như trên giúp cho các nhà hoạch định chính sách có biện pháp khai thác và sử dụng hiệu quả NNL Đặc biệt, đối với Việt Nam, xuất phát từ những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức, truyền thống cũng như tính chất và đặc điểm của việc tổ chức và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân thì những người ở ngoài độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc họ vẫn tham gia hoạt động trong những lĩnh vực mà họ có khả năng; mặt khác, trong điều kiện chiến tranh, bộ phận dân cư được huy động vào quá trình sản xuất của xã hội hoặc các hoạt động phục vụ chiến tranh có thể ngoài tuổi lao động theo luật pháp hiện hành

Mặt khác, cần phân biệt rõ NNL với nguồn lao động, đội ngũ lao động… Trong đó, nguồn lao động được hiểu là tổng số nhân khẩu có khả năng lao động, bao gồm nhân khẩu ở độ tuổi lao động và nhân khẩu ngoài

Trang 21

độ tuổi lao động có thể tham gia lao động Phân biệt nguồn lao động với dân

số trong độ tuổi lao động Cả hai thuật ngữ trên đều giới hạn độ tuổi lao động theo luật định của mỗi nước, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động … Vì thế, quy mô dân

số trong độ tuổi lao động lớn hơn quy mô nguồn lao động Đội ngũ lao động

là NNL đang được sử dụng vào lao động Tình hình đội ngũ lao động ở nước

ta hiện nay rất phức tạp, thường chỉ thống kê được trong khu vực hành chính nhà nước, đội ngũ giáo viên, cán bộ y tế…

Nguồn nhân lực cần nghiên cứu một cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy

mô và tốc độ tăng của NNL Các chỉ tiêu về số lượng có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số; quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng về số lượng NNL càng lớn và ngư-

ợc lại Chất lượng NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, biểu hiện thông qua các tiêu thức như: sức khoẻ; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn lành nghề Chất lượng NNL

do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đầu tư phát triển NNL của quốc gia quyết định Chất lượng NNL đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra của cải cho xã hội, là điểm xuất phát và chỗ dựa của chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội Cơ cấu NNL thể hiện ở tỷ trọng lao động của từng ngành, thành phần kinh tế, vùng kinh tế trong tổng số lao động xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, khu vực và thế giới trong mỗi giai đoạn nhất định Ngày nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã làm biến đổi nhanh chóng cả về nội dung, tính chất cũng như cơ cấu NNL

Trang 22

1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực và mối quan hệ giữa đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân với đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực

Theo Từ điển tiếng Việt, giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách

có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra Vì lẽ đó, giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Đào tạo làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; là quá trình tác động đến một con người nhằm mục đích trang bị cho người học hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,

để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo tiền đề cho họ có thể bước vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả cao, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn về ngành nghề và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể để người học lĩnh hội, nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn, đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo… Theo đó, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra khái niệm “Đào tạo nguồn nhân lực là

Trang 23

quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm

vụ của mình” [5, tr.103]

Giáo dục và đào tạo có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau nhưng giữa chúng cũng có sự phân biệt nhất định; trong đó, khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục Tại Điều 4, Luật Giáo dục năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định rõ cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; trong đó, giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; giáo dục đại học có cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ Căn

cứ vào mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục ở các bậc học quy định tại Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì đào tạo NNL bao gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Giáo dục nghề nghiệp gồm: trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến

ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp, đối với trung cấp nghề nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc; đối với dạy nghề nhằm đào tạo NNL kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo Giáo dục đại học gồm các trình

độ đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học Trong đó, mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình

độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 24

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đào tạo NNL cho nền kinh tế quốc dân là một yêu cầu tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia dân tộc Đối với nước ta, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta

đã chỉ ra những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng non trẻ, một trong những nhiệm vụ đó là phải diệt giặc dốt Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, phong trào học tập, xoá nạn mù chữ, những lớp bình dân học vụ ra đời với sự vào cuộc của tất cả các lực lượng tham gia trong đó có quân đội đã nâng tỷ lệ biết chữ của người Việt Nam Tổng kết một năm, từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 đến ngày 8 tháng 9 năm 1946 đã có 2,5 triệu người biết chữ, tuy chưa đạt được mục tiêu đề ra nhưng con số ấy thực sự là một kỳ tích trong hoàn cảnh năm đầu tiên của đất nước mới độc lập đang đứng trước những thủ thách đầy cam go Những năm tiếp theo, đất nước trong tình trạng chiến tranh nhưng nền giáo dục nước nhà vẫn tiếp tục phát triển, các lớp học ngắn hạn, đào tạo nghề, đào tạo NNL với các trình độ tương ứng phục vụ sự nghiệp cách mạng cũng được tổ chức, bước đầu đáp ứng nhu cầu NNL cho nền kinh tế Sau khi kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa các quan hệ sản xuất (1955 - 1960), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng (9 - 1960) đã xác định: muốn cải biến tình trạng lạc hậu hiện nay ở nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên chế

độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở nước ta Đến đây, nhiệm

vụ GDĐT có sự phát triển mới nhằm đáp ứng yêu cầu NNL phục vụ công nghiệp hoá Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh CNH,HĐH và tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương

Trang 25

khoá VII (8 - 1994) đã chỉ rõ nội hàm khái niệm CNH,HĐH, đặt ra yêu cầu bức thiết về đào tạo NNL của thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước

Nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng của quá trình CNH,HĐH đất nước, là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quốc dân Lao động có kỹ thuật cao là chủ thể trong phát triển, ứng dụng, triển khai, áp dụng, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh… Khoa học và công nghệ luôn giữ vị trí trọng tâm của CNH,HĐH, là động động lực của quá trình CNH,HĐH Kinh nghiệm của các nước Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy chuyển giao công nghệ đem lại thành công khi năng lực nội sinh về công nghệ của đất nước phải đủ tầm để lựa chọn, tiếp nhận, ứng dụng, thích nghi

và phát triển với công nghệ đó Ngày nay, những công nghệ sản xuất hiện đại

có chứa hàm lượng trí tuệ, chất xám rất cao đang trở thành xu thế phổ biến

Do đó, muốn thực hiện thành công sự nghiệp CNH,HĐH đất nước phải phát triển mạnh GDĐT, phát huy nguồn lực con người, NNL, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Đào tạo NNL không những đáp ứng được đòi hỏi mới về phát triển khoa học và công nghệ thời kỳ CNH,HĐH mà còn đáp ứng yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động Một trong những nội dung cơ bản của CNH,HĐH là chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng Sự chuyển đổi này dẫn theo cấu trúc của lực lượng lao động trong xã hội chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Quá trình CNH,HĐH đòi hỏi lao động nước ta phải không ngừng nâng cao về mặt chất lượng để tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học mới vào sản xuất và đời sống Đồng thời, việc tăng cường đầu tư, sử dụng máy móc, công nghệ cao làm thay đổi cơ cấu lao động; lao động nông nghiệp không ngừng giảm, lao động công nghiệp và dịch vụ tăng, một bộ phận lao động nông thôn sẽ tham gia vào quá trình đô thị hoá

Trang 26

Sự thay đổi này là một quá trình mang tính quy luật Phân công lại lao động

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, con người giữ vai trò quyết định Vì vậy, đào tạo NNL là cơ sở, là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH đất nước cả về số lượng, chất lượng và

cơ cấu Số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL của thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH là số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL thực tế đang đặt ra tức NNL mà CNH,HĐH hiện đang cần như NNL chất lượng cao, lực lượng lao động lành nghề với các ngành về khoa học và công nghệ cao, y tế, nông lâm thuỷ sản Để đáp ứng nhu cầu lớn về đào tạo NNL cho đất nước, Đảng và Nhà nước cần huy động có hiệu quả các nguồn lực của xã hội để tham gia đào tạo NNL có chất lượng, cơ cấu hợp lý thông qua hệ thống cơ chế, chính sách để khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo NNL, nhất là hệ thống cơ chế, chính sách về kinh tế nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ các lực lượng, các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo NNL cho đất nước, tập trung vào các ngành nghề, lĩnh vực mà xã hội đang có nhu cầu

Bên cạnh đó, cần phải xây dựng Chiến lược phát triển NNL khoa học, phù hợp với sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới Các cơ quan chức năng liên quan cần phải phát huy vai trò trách nhiệm của mình trong xây dựng, tổ chức, triển khai thực hiện Chiến lược phát triển NNL như: xác định chỉ tiêu đào tạo, ngành nghề, lĩnh vực, trình độ đào tạo, dự báo nhu cầu NNL của đất nước cũng như của các ngành, lĩnh vực… để giao chỉ tiêu cho các CSĐT và định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong lựa chọn ngành, nghề đào tạo sát thực tế đáp ứng nhu cầu NNL cho CNH,HĐH đất nước

Như vậy, đào tạo NNL cho nền kinh tế quốc dân và đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước có mối quan hệ chặt chẽ, tác động, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Trong đó, đào tạo NNL cho nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn liền với sự tồn tại và phát triển của quốc gia, ở các thời kỳ

Trang 27

khác nhau còn đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước là ở một giai đoạn lịch sử đặc biệt gắn liền với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội trong nước, từ thực trạng nền giáo dục nước nhà, thực trạng NNL và yêu cầu cao về NNL phục vụ CNH,HĐH đã đặt

ra những thách thức mới, những mâu thuẫn mới nhằm tạo sự chuyển biến về chất NNL đáp ứng được những đòi hỏi về sự phát triển của khoa học và công nghệ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững

1.1.3 Quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tiêu chí đánh giá hiệu quả quá trình này

1.1.3.1 Quan niệm về Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Quán triệt quan điểm của Đảng về: phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước, của toàn dân, quân đội đã chủ động, tích cực tham gia các hoạt động GDĐT nhằm đáp ứng yêu cầu về NNL của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước Tuy nhiên, quân đội chỉ tham gia đào tạo NNL ở những lĩnh vực mà quân đội có điều kiện, khả năng thực hiện Phạm vi luận án tập trung giải quyết ở hai cấp học và trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân là: giáo dục nghề nghiệp (có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); giáo dục đại học (đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ)

Các CSĐT quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước được thực hiện theo đúng quy định của các bộ, ngành chức năng, đúng luật pháp và chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội bao gồm cả số lượng, chất lượng và cơ cấu đào tạo Từ những ngành nghề thuộc tiềm năng, thế mạnh của mình tức cái CSĐT có, các CSĐT đã chủ động, tích cực chuyển sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội tức cái xã hội cần nên bước đầu đã đáp

Trang 28

ứng được một phần sự thiếu hụt về NNL ở những lĩnh vực, ngành nghề này

Do đó, hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước được nâng cao Biểu hiện cụ thể: đối với CSĐT đã đào tạo được đúng, trúng

và phù hợp với sự vận động, phát triển của đất nước; đối với các tổ chức kinh

tế - xã hội đã có được NNL phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này phát triển có hiệu quả; đối với người lao động được đào tạo theo nhu cầu của xã hội, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo tăng cao; từng bước khắc phục được sự lãng phí do đào tạo không đúng ngành nghề và giảm chi phí đào tạo lại do phải chuyển đổi ngành nghề

Từ sự phân tích trên, nghiên cứu sinh quan niệm: Quân đội nhân dân Việt

Nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình sử dụng một phần năng lực đào tạo hiện có của quân đội

để đào tạo một bộ phận nguồn nhân lực mà nền kinh tế đang đòi hỏi đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chủ thể tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước là các CSĐT quân đội được Chính phủ, các Bộ có thẩm quyền giao nhiệm vụ, chỉ tiêu đào tạo dân sự Các CSĐT quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo đúng quy định của Nhà nước như về ĐNNG và cán bộ quản lý, về năng lực tổ chức hoạt động đào tạo, về nội dung, chương trình đào tạo, về cơ sở vật bảo đảm

Đối tượng đào tạo dân sự trong các CSĐT quân đội là thanh niên, học sinh, cán bộ và các đối tượng khác không phải là quân nhân tại ngũ và công nhân, viên chức quốc phòng, đạt đủ các điều kiện quy định, trúng tuyển qua các kỳ thi tuyển sinh theo Quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được các CSĐT quân đội đào tạo phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tổ chức hoạt động đào tạo dân sự ở các CSĐT quân đội phải thực hiện đồng thời hai loại quy định: quy định về tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH

Trang 29

của Bộ Quốc phòng và quy chế đào tạo đại học, cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đào tạo nghề của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Theo đó, các quy định về tuyển chọn đầu vào, quản lý ĐNNG, nội dung chương trình, quy trình đào tạo … đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định trên

Về hoạt động tài chính: nguồn kinh phí đào tạo dân sự được huy động từ các nguồn như: nguồn ngân sách Nhà nước cấp theo chỉ tiêu kế hoạch đào tạo; nguồn ngân sách huy động từ các tổ chức kinh tế xã hội; nguồn từ các khoản thu học phí, lệ phí của học viên theo quy định Tổ chức thu, mức thu, quản lý,

sử dụng học phí và các khoản lệ phí do CSĐT quy định căn cứ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Tài chính Cơ sở đào tạo thực hiện các chế độ về học bổng; miễn giảm học phí; trợ cấp xã hội; bảo hiểm y tế cho học viên dân sự theo các quy định hiện hành của Chính phủ

Việc sử dụng số học phí được thực hiện theo Quyết định số 178/2007/QĐ-BQP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định quản

lý tài chính các hoạt động có thu tại các đơn vị dự toán quân đội ban hành kèm theo Quyết định số 3365/2001/QĐ-BQP ngày 17 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định: Các CSĐT, học viện, nhà trường ngoài đào tạo nhiệm vụ quân sự được phép tận dụng cơ sở vật chất, năng lực

để thực hiện GDĐT (sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề) có thu học phí Mức thu học phí được thực hiện theo quy định của Nhà nước đối với các trường công lập Toàn bộ số học phí thu được dùng để chi cho các nội dung: 45% dùng để chi bảo đảm vật chất cho hoạt động đào tạo; 35% chi cho hoạt động chuyên môn phục vụ giảng dạy và học tập; 20% chi cho công tác quản lý, chi khen thưởng, phúc lợi và chi hỗ trợ cho các nhiệm

vụ khác của CSĐT Do đó, quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước vừa khai thác có hiệu quả năng lực đào tạo, có điều

Trang 30

kiện để đầu tư mới cơ sở vật chất của nhà trường vừa tham gia đào tạo được

số lượng lớn NNL cho đất nước góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặt khác, các CSĐT quân đội sử dụng một phần cơ sở vật chất (lớp học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị dạy học, xưởng trường, thư viện…) phục vụ đào tạo dân sự và phần cơ sở vật chất này được thanh toán khấu hao, bảo dưỡng, mua sắm bổ sung, xây dựng mới bằng nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho đào tạo dân sự và học phí thu của học viên nên đã nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất của CSĐT Hình thức quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước được thực hiện theo hình thức đào tạo tập trung Mục đích tham gia nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo NNL quân sự và tham gia đào tạo NNL cho đất nước cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng nhu cầu về NNL mà xã hội cần

Nội dung tham gia đào tạo bao gồm từ công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ quốc phòng và các cơ quan liên quan về quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự; về sử dụng các lực lượng của quân đội tham gia đào tạo NNL ở các nhà trường dân sự, phối hợp thực hiện các chương trình đào tạo NNL, thực hiện hỗ trợ một phần cơ sở vật chất ở một số nhà trường dân sự… Trong đó, nội dung chính là trực tiếp tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước ở hai bậc học: giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với những ngành nghề và lĩnh vực mà xã hội cần như NNL chất lượng cao, y

tế, đào tạo lao động lành nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn, quân nhân xuất ngũ và các đối tượng chính sách

Nhiệm vụ đào tạo NNL cho đất nước thuộc về Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; trong đó, quân đội chỉ là lực lượng tham gia đào tạo NNL ở một số lĩnh vực có thế mạnh phù hợp với điều kiện, khả năng của mình như: về khoa học xã hội và nhân văn; khoa học kỹ thuật; y

Trang 31

tế; kinh tế, quản lý và hành chính; dịch vụ; văn hoá nghệ thuật; giao thông vận tải; nông, lâm nghiệp; ngữ văn …

Hiện nay, Quân đội có 137 học viện, trường gồm: 10 học viện; 12 trường sĩ quan và trường đại học; 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp; 15 trường trung cấp chuyên nghiệp; 8 trường quân sự quân khu và trường quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; 4 trường quân sự quân đoàn; 2 trường thiếu sinh quân;

1 trường kỹ thuật, 1 trường hạ sĩ quan; 62 trường quân sự tỉnh (thành phố);

21 trường cao đẳng và trung cấp nghề; ngoài ra còn 1 trung tâm quản lý học viên và bồi dưỡng cán bộ, 4 viện nghiên cứu được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học Các nhà trường quân đội đang thực hiện đào tạo 81 chuyên ngành nghiên cứu sinh, 45 chuyên ngành cao học, 91 chuyên ngành đại học

và cao đẳng, 58 ngành nghề trung cấp chuyên nghiệp Lưu lượng học viên trung bình 66.275 học viên/năm [4, tr.2]

Bên cạnh đó, quân đội còn 08 trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Bộ Tư lệnh các quân, binh chủng, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, trường trung cấp kỹ thuật

và Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga Trong đó, nhiều chuyên ngành, ngành nghề

có tính lưỡng dụng cao đã được khai thác và sử dụng tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; nhiều CSĐT thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học như: Học viện Chính trị, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Quân y, Học viện Hậu cần, Viện 108, Viện Lịch sử quân sự, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Viện Y học cổ truyền quân đội…

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một là, đánh giá về sự tuân thủ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách và luật pháp của Nhà nước; quy định của Bộ Quốc phòng

và các cơ quan chức năng có liên quan của các CSĐT quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự trưởng thành, phát triển của quân đội ta; mọi hoạt động của quân đội

Trang 32

đều phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước

Nội dung tiêu chí: là đánh giá về sự tuân thủ, chấp hành quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách và luật pháp của Nhà nước; quy định của Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước

Thực hiện tốt tiêu chí này nhằm đảm bảo quân đội tham gia đào tạo NNL cho đất nước được đúng hướng, đạt được mục tiêu, mục đích đề ra đó là: vừa tham gia đào tạo một bộ phận NNL cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước vừa nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo NNL quân sự; khắc phục những quan điểm, nhận thức không đúng về mối quan hệ giữa nhiệm vụ tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước và nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo NNL quân sự Nếu quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước mà không chấp hành đúng đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo NNL quân sự, dân sự với những biểu hiện cụ thể như: mở rộng quy mô đào tạo vượt quá điều kiện, khả năng hiện có của CSĐT; duy trì tỷ lệ giảng viên, giáo viên trên học viên cao; điều chỉnh các lực lượng, cơ sở vật chất của CSĐT theo hướng ưu tiên cho đào tạo NNL dân sự; thực hiện không đúng các chính sách của Nhà nước về đào tạo NNL cho quân nhân xuất ngũ, cử tuyển và các đối tượng chính sách khác; buông lỏng công tác tổ chức, quản lý đào tạo NNL dân sự,

từ công tác tuyển sinh đến tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra và cấp văn bằng, chứng chỉ,… làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo NNL quân sự và dân sự Khi đó, hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước không những không đạt được mục tiêu, mục đích đặt ra mà còn phản tác dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo NNL quân sự, đến uy tín và vị thế của quân đội

Trang 33

Vì vậy, quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải theo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách và luật pháp của Nhà nước; quy định của Bộ Quốc phòng, của các cơ quan chức năng có liên quan Đây là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả tham gia đào tạo NNL dân sự của quân đội

Hai là, tiêu chí đánh giá về giải quyết mối quan hệ giữa tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước và thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, xây dựng cơ sở đào tạo vững mạnh toàn diện

Những năm qua, cơ chế và chính sách của Đảng, Nhà nước về GDĐT đã

có những thay đổi tạo điều kiện thuận lợi để quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước còn có những hạn chế nhất định, nhất là những hạn chế làm ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng hoàn thành các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các nhà trường quân đội; đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo NNL dân sự và hiệu quả tổng hợp của các hoạt động này Từ thực tế đó, để đánh giá hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải trên cơ sở kết quả giải quyết mối quan hệ giữa tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH và nhiệm vụ chính trị trung tâm, xây dựng CSĐT ở các nhà trường quân đội

Nội dung tiêu chí: đánh giá về giải quyết mối quan hệ giữa tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước và thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, xây dựng CSĐT vững mạnh toàn diện góp phần nâng cao hơn chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân sự Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong hoạt động GDĐT NNL dân sự Thường xuyên quan tâm, chăm lo, xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục vững mạnh, năng lực chuyên môn giỏi

Trang 34

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm, quá trình tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải góp phần xây dựng CSĐT vững mạnh toàn diện, tổ chức Đảng của CSĐT phải đạt trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục được xây dựng, kiện toàn và phát triển, đủ điều kiện và năng lực để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư, nâng cấp và đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo của CSĐT; chất lượng đào tạo NNL quân sự không ngừng nâng cao; giải quyết tốt các mối quan hệ về lợi ích giữa các lực lượng tham gia đào tạo NNL dân sự, nội bộ đoàn kết nhằm tạo sự đồng thuận, nhất trí

và quyết tâm cao của cả CSĐT trong thực hiện nhiệm vụ được giao

Ba là, tiêu chí đánh giá kết quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước đáp ứng một phần nhu cầu NNL mà nền kinh tế đang đòi hỏi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu

Sự nghiệp CNH,HĐH đất nước đã và đang đặt ra nhu cầu lớn về đào tạo NNL cho đất nước thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như NNL chất lượng cao phục vụ cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ mũi nhọn, một số ngành kinh tế trọng yếu và NNL đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới Do đó, quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải đáp ứng một phần nhu cầu về NNL

mà nền kinh tế đang đòi hỏi chứ không phải là NNL nói chung; không đào tạo những ngành nghề, lĩnh vực mà NNL đang thừa và tương lai nhu cầu sẽ ít Quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước vừa đáp ứng được một phần nhu cầu về NNL mà nền kinh tế đang đòi hỏi vừa là quá trình

để các nhà trường quân đội nâng cao năng lực đào tạo, khả năng thích ứng và hội nhập vào trong quá trình đổi mới hệ thống GDĐT của đất nước

Nội dung tiêu chí: đánh giá hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL dân

sự cho đất nước nhằm đáp ứng một phần nhu cầu thực tế NNL mà nền kinh tế

Trang 35

đang đòi hỏi được biểu hiện ở số lượng, chất lượng và cơ cấu góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

Về số lượng, tập trung đào tạo đáp ứng nhu cầu về NNL mà xã hội cần ở các lĩnh vực, ngành nghề và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và đất nước Quá trình này vừa góp phần đáp ứng trực tiếp nhu cầu NNL của đất nước vừa góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng lao động của xã hội mà Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra (đạt 55% vào năm 2015

và trên 70% vào năm 2020) Chất lượng đào tạo cũng là một trong những thước

đo đánh giá hiệu quả tham gia đào tạo NNL dân sự của quân đội; chất lượng đào tạo còn góp phần nâng cao vị thế và uy tín của quân đội Nhu cầu về NNL phục vụ CNH,HĐH ở nước ta hết sức đa dạng bao gồm cả NNL chất lượng cao

và đào tạo nghề; trong khi đó, cơ cấu trình độ đào tạo bất hợp lý đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động lành nghề cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và các tổ chức kinh tế - xã hội Vì vậy, các CSĐT phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu; đa dạng hoá cơ cấu đào tạo bao gồm cả trình độ đào tạo, giới tính, lứa tuổi, dân tộc góp phần đáp ứng một phần nhu cầu về NNL mà nền kinh tế đòi hỏi, từng bước khắc phục sự bất cập về NNL ở nước ta hiện nay

Thực hiện tốt tiêu chí này sẽ góp phần tiết kiệm cho cá nhân một khoản kinh phí do đào tạo không đúng ngành nghề mà nền kinh tế đòi hỏi; đối với xã hội góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội do NNL được đào tạo đúng nhu cầu phát triển của nền kinh tế và giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như việc làm, thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động

Bốn là, tiêu chí đánh giá hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực của

cơ sở đào tạo quân đội trong tham gia đào tạo nguồn nhân lực dân sự và giải quyết việc làm cho người học sau khi đào tạo

Hiệu quả của quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước phải đạt được toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã

Trang 36

hội, quốc phòng an ninh Đối với CSĐT phải góp phần khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực của cơ sở, bổ sung thêm nguồn kinh phí cho CSĐT

để tái đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của lực lượng tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước; tạo động lực thúc đẩy lực lượng này phấn đấu nâng cao hơn nữa phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của CSĐT Nội dung, chương trình, ngành nghề đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế NNL mà nền kinh tế đang đòi hỏi, nâng cao trách nhiệm của CSĐT trong tham gia giải quyết việc làm cho người học sau đào tạo, tập trung nhất là ở các trường nghề; những cơ sở tham gia đào tạo NNL dân sự cho các đối tượng chính sách

xã hội Điều đó, đòi hỏi các CSĐT phải nghiên cứu, nắm chắc nhu cầu thực tế

về NNL mà xã hội cần và dự báo được nhu cầu NNL trong tương lai để tập trung tham gia đào tạo Có như vậy, quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự mới sát với nhu cầu NNL của nền kinh tế đang đòi hỏi, góp phần nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL dân sự

Nội dung tiêu chí: đánh giá hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực của CSĐT trong đào tạo NNL dân sự như: cơ sở vật chất, ĐNNG và các lực lượng, yếu tố khác liên quan; nâng cao trách nhiệm của CSĐT trong giải quyết việc làm cho người học sau khi đào tạo

Thực nghiêm các quy định, hướng dẫn của trên trong triển khai và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL dân sự ở các CSĐT Trên cơ sở đó, mọi nguồn lực được CSĐT khai thác hợp lý, đem lại hiệu quả cao Thực hiện nghiêm các quy định về tài chính nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các lực lượng tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Giải quyết tốt vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợi ích về kinh tế là động lực để thúc đẩy các lực lượng này phấn đấu, trau đồi nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tạo điều kiện, môi trường thuận

Trang 37

lợi để các lực lượng tham gia đào tạo NNL dân sự nghiên cứu, làm việc và góp phần cải thiện đời sống

Quá trình tham gia đào tạo NNL dân sự ở các CSĐT quân đội phải góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH Do đó, sản phẩm đào tạo của các CSĐT phải được đảm bảo về chất lượng; gắn đào tạo với sử dụng, tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người học sau đào tạo thông qua các hình thức, biện pháp như: đẩy mạnh hợp tác liên kết giữa CSĐT với doanh nghiệp và các

tổ chức kinh tế - xã hội; tham gia đào tạo theo cơ chế đặt hàng; đào tạo các đối tượng chính sách xã hội phục vụ trực tiếp nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và thực hiện hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm

Quá trình tham gia đào tạo NNL với các đối tượng cử tuyển, đối tượng chính sách xã hội… phải được thực hiện công khai, minh bạch ở tất cả các khâu từ công tác tạo nguồn, tuyển sinh, đào tạo, ra trường và sử dụng sau đào tạo CSĐT phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tư vấn cho chính quyền, nhân dân địa phương và học viên về quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước để góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đào tạo của CSĐT Các CSĐT đứng chân ở những địa bàn chiến lược, nhất là các cơ sở dạy nghề, phải bám sát đặc điểm, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng của địa phương để tham mưu, đề xuất và tạo điều kiện thuận lợi để con em của địa phương được đào tạo nghề; thực hiện phối kết hợp giữa chính quyền địa phương, cơ sở và các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn cùng tham gia giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân Thực hiện tốt tiêu chí này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quân đội tham gia đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước một cách toàn diện

cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội; thực hiện tốt quan điểm của Đảng

về kết hợp kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc

Trang 38

1.2 Những căn cứ của quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2.1 Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi về chất lực lượng sản xuất xã hội Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1994), Đảng ta khẳng định: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quan điểm này, về cơ bản đã phản ánh được phạm vi rộng lớn, lâu dài, phức tạp cũng như chỉ ra cốt lõi của quá trình CNH,HĐH ở nước ta là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải có NNL chất lượng cao, một

sự chuyển biến cơ bản từ lượng sang chất trong nhu cầu NNL Nội dung cơ bản của quá trình CNH,HĐH là áp dụng ngày càng rộng rãi công nghệ sản xuất tiên tiến, các phương tiện sản xuất hiện đại vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ mà điều tất yếu kèm theo là việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong phạm vi cả nước Trên cả hai phương diện này, CNH,HĐH đang tác động mạnh mẽ đến mỗi người lao động và đặt ra nhu cầu bức thiết về đào tạo NNL cho đất nước Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, đào tạo NNL phải tuân thủ các quy luật

cơ bản của thị trường là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, đặc biệt là quy luật cung cầu Đào tạo NNL phải hướng tới việc đáp ứng cả về số lượng, chất lượng

và cơ cấu; phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, với nhu cầu của người học, với đặc điểm về dân tộc, tôn giáo, kinh tế - xã hội… của các vùng miền trong cả nước

Trang 39

Sau 26 năm đổi mới và 21 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới,

ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Về lĩnh vực GDĐT nhất là đào tạo NNL phục vụ CNH,HĐH đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, việc đào tạo NNL ở nước ta đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập; chất lượng thấp đang là điểm nghẽn cản trở sự phát triển nhanh và bền vững ở nước ta hiện nay Với tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, “năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc” [16, tr 153,154], dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao, nhất là thanh niên (7,62% trong nhóm tuổi 15 - 19 và 6,68% trong nhóm tuổi 20 - 24, cao gấp

ba lần tỷ lệ thất nghiệp chung của dân số 15 tuổi trở lên là 2,88%), sẽ nghiêm trọng hơn khi hàng năm có thêm khoảng 1,5 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động; mà phổ biến nhất là khu vực nông thôn Chính tình trạng thất nghiệp này, lại chủ yếu là thanh niên, đặc biệt là thanh niên ở vùng nông thôn sẽ vừa gây tổn thất về NNL trẻ do không được sử dụng, thiệt hại về kinh tế, vừa gây ra những hậu quả quả xấu về các mặt xã hội,

an ninh, chính trị và các hệ luỵ khác do thiếu việc làm và thất nghiệp gây nên Ngoài ra, lao động Việt Nam còn chưa thích nghi được với cường độ lao động cao, sức ép về công việc, tâm lý khi phải chuyển đổi nghề nghiệp, tính bền bỉ dẻo dai thấp, tác phong lao động và ý thức tổ chức kỷ luật không cao; nhiều tệ nạn xã hội trong người lao động tăng cao và tỷ lệ tai nạn lao động cũng tăng nhanh trong những năm gần đây Đánh giá chung

về nền kinh tế Việt Nam: “Tăng trưởng kinh tế những năm vừa qua chưa thúc đẩy được các nhân tố phát triển theo chiều sâu” [23, tr.122]

Vì vậy, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; theo đó, mục tiêu phấn đấu

Trang 40

nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng lao động của xã hội đến năm 2015

là 55% và trên 70% vào năm 2020 [16, tr.104, 105] đã và đang đặt ra nhu cầu lớn về đào tạo NNL cho đất nước

1.2.2 Quân đội tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là góp phần tăng năng lực cạnh tranh của các cơ sở đào tạo trong nước và hiện thực hoá chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng

Khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới và giáo dục là một trong 12 nhóm ngành dịch vụ của hiệp định chung nên giáo dục không thể nằm ngoài sự cạnh tranh thương mại Các CSĐT của các quốc gia nổi tiếng như: Anh, Mỹ, Úc, Singapore… đã có mặt trên thị trường GDĐT ở nước ta hiện nay Trong khi đó, thương hiệu của nền giáo dục Việt Nam đang được xây dựng ở một điểm xuất phát thấp; không có một trường đại học nào của Việt Nam có trong danh sách xếp hạng đại học trên thế giới

Do đó, việc xây dựng thương hiệu giáo dục Việt Nam là một thách thức lớn, không vượt qua được thách thức thì không thể nói đến chiến thắng trong cạnh tranh Sự cạnh tranh này sẽ càng gay gắt hơn khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư nhiều hơn về GDĐT Chúng ta thừa nhận sự tồn tại của một thị trường giáo dục, tuy là thị trường đặc biệt thì cũng phải nói đến yếu tố thị trường mà chất lượng đầu ra là quyết định Vì vậy, nếu không quan tâm và đầu tư thoả đáng cho GDĐT, không thực hiện các quan điểm của Đảng coi GDĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, thực hiện quan điểm xã hội hoá giáo dục nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước cho sự nghiệp giáo dục thì vừa lãng phí nguồn lực của đất nước vừa không cạnh tranh được với giáo dục của nước ngoài và hệ quả của vấn đề này là NNL được đào tạo sẽ lệch chuẩn và mang nặng dấu ấn của giáo dục nước ngoài mà thiếu đi cái chuẩn mực đạo đức, phẩm chất chính trị, tinh thần yêu nước và truyền thống văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam; ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Ngày đăng: 18/10/2023, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đại từ điển kinh tế thị trường (1998), Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển kinh tế thị trường
Nhà XB: Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nxb ST, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1993
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2012
18. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1994), Nghị quyết 93/ĐUQSTW về việc tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy, số 93/ĐUQSTW ngày 01/6/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 93/ĐUQSTW về việc tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 1994
19. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1998), Nghị quyết về xây đội ngũ cán bộ quân đội thời kỳ mới, số 94/ĐUQSTW ngày 29/ 4/ 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về xây đội ngũ cán bộ quân đội thời kỳ mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 1998
20. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (2007), Nghị quyết 86/ĐUQSTW về công tác GDĐT trong tình hình mới, số 86/ĐUQSTW ngày 29/ 3/ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 86/ĐUQSTW về công tác GDĐT trong tình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 2007
23. Võ Văn Đức (2009), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Đức
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
24. Nguyễn Minh Đường (2012), “Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số (76/01/2012), tr.3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Giáo dục
Năm: 2012
25. Hoàng Giang (2011), “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số (7/2011), Tr.28 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội
Tác giả: Hoàng Giang
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục lý luận
Năm: 2011
26. Phạm Minh Hạc (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Tập 1, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
27. Nguyễn Huy Hiệu (2011), “Đào tạo nguồn nhân lực của quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Tạp chí Nhà trường quân đội, số (2/2011), tr.3 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực của quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Huy Hiệu
Nhà XB: Tạp chí Nhà trường quân đội
Năm: 2011
28. Học viện Kỹ thuật quân sự (2009), Báo cáo Đánh giá kết quả lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, GDĐT, nghiên cứu khoa học giai đoạn 1990 - 2009, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đánh giá kết quả lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, GDĐT, nghiên cứu khoa học giai đoạn 1990 - 2009
Tác giả: Học viện Kỹ thuật quân sự
Năm: 2009
29. Học viện Kỹ thuật quân sự (2011), Hội thảo Tổng kết 45 năm công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Tổng kết 45 năm công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học
Tác giả: Học viện Kỹ thuật quân sự
Năm: 2011
30. Hội đồng lý luận Trung ương (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Tập 2, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Tập 2
Tác giả: Hội đồng lý luận Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
31. Lê Huy (2011), Quân đội Nga những bí mật bạn chưa biết, Nxb Quân đội nhân dân, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội Nga những bí mật bạn chưa biết
Tác giả: Lê Huy
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2011
33. Nguyễn Minh Khải (1996), CNH,HĐH ở Việt Nam và vai trò của quân đội trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH,HĐH ở Việt Nam và vai trò của quân đội trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước
Tác giả: Nguyễn Minh Khải
Nhà XB: Học viện Chính trị quân sự
Năm: 1996
34. Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Khái
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
35. Ngọc Khanh (2011), “Tham quan Trường Quân sự West Point”, Quân đội Mỹ những bí mật bạn chưa biết, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2011, tr.59 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội Mỹ những bí mật bạn chưa biết
Tác giả: Ngọc Khanh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1:  Trình độ học vấn của đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở dạy nghề quân đội - Quân đội nhân dân việt nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hình 2.1 Trình độ học vấn của đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở dạy nghề quân đội (Trang 68)
Hình 2.2 : Kết quả dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề quân đội năm 2011 - Quân đội nhân dân việt nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hình 2.2 Kết quả dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề quân đội năm 2011 (Trang 73)
Hình 2.4 : Kết quả tốt nghiệp của học viên dân sự ở Học viện Quân y từ năm 2008 - 2012 - Quân đội nhân dân việt nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hình 2.4 Kết quả tốt nghiệp của học viên dân sự ở Học viện Quân y từ năm 2008 - 2012 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w