1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết Hợp Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Lý Luận Với Năng Lực Thực Tiễn Của Chính Trị Viên Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay.pdf

168 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Hậu Tân
Người hướng dẫn GS, TS Nguyễn Văn Tài, PGS, TS Vũ Quang Tạo
Trường học Học viện Chính trị
Chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Thể loại Luận án tiến sĩ triết học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 900,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bé Quèc phßng Bé Quèc phßng Häc viÖn chÝnh trÞ  TrÇn hËu t©n KÕt hîp N©ng cao n¨ng lùc t­ duy lý luËn Víi n¨ng lùc thùc tiÔn cña chÝnh trÞ viªn trong Qu©n ®éi nh©n d©n ViÖt Nam HIÖN NAY luËn ¸n tiÕ[.]

Trang 1

luËn ¸n tiÕn sÜ triÕt häc

Hµ néi - 2013

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

Chuyªn ngµnh: Chñ nghÜa duy vËt biÖn chøng

vµ duy vËt lÞch sö M· sè: 62 22 03 02

luËn ¸n tiÕn sÜ triÕt häc

Ng-êi h-íng dÉn khoa häc

1 GS, TS NguyÔn V¨n Tµi

2 PGS, TS Vò Quang T¹o

Hµ néi - 2013

Trang 3

Lêi cam ®oan

T«i cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc, xuÊt xø râ rµng

T¸c gi¶ luËn ¸n

TrÇn HËu T©n

Trang 4

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP NÂNG

CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VỚI NĂNG LỰC THỰC TIỄN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN

1.1 Thực chất của việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận

với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân

1.2 Những nhân tố cơ bản quy định việc kết hợp nâng cao năng

lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU KẾT HỢP NÂNG CAO

NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VỚI NĂNG LỰC THỰC TIỄN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN

2.1 Thực trạng kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng

lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt

2.2 Yêu cầu kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng

lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam trước tác động của tình hình hiện nay 98

Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN KẾT HỢP NÂNG CAO NĂNG

LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VỚI NĂNG LỰC THỰC TIỄN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI

3.1 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm kết

hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn

3.2 Xây dựng môi trường hoạt động tạo điều kiện để chính trị

viên kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực

3.3 Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên trong kết

hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn 141

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

5

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực

thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay xuất

phát từ những yêu cầu mới về vai trò chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị của chính trị viên theo tinh thần Nghị quyết 51/NQ-

TW của Bộ Chính trị khoá IX, Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTƯ (nay là Quân uỷ Trung ương) Vì vậy, đề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, được tác giả ấp ủ nghiên cứu từ nhiều năm nay Việc làm rõ nội hàm của năng lực tư duy lý luận, năng lực thực tiễn, cũng như chỉ ra thực chất kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên, từ đó làm rõ những nhân tố cơ bản quy định việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn là việc làm cần thiết để khảo sát thực trạng, dự báo tình hình tác động và đề ra yêu cầu kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên Trên cơ sở đó, đưa ra giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên, giúp họ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Công trình được kết cấu gồm: phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Với kết cấu 3 chương (7 tiết) cho phép tác giả triển khai

và giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn mà luận án đề ra

2 Lý do lựa chọn đề tài

Người cán bộ chính trị dù ở cấp nào cũng cần phải có năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn, hai năng lực này tạo nên tài năng của họ Năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn trong người cán bộ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Người cán bộ muốn có trình độ khái quát tốt đòi hỏi phải có năng lực tư duy lý luận tốt Ngược lại, nếu có năng lực tư duy lý

Trang 6

6 luận mà không biết liên hệ với thực tiễn thì năng lực tư duy lý luận sẽ dần dần phai nhạt, dừng lại ở tư duy trừu tượng, chỉ là lý thuyết, xa rời thực tế Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [82, tr 496] Thực tế đó đòi hỏi người cán bộ chính trị cần phải có năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn tốt

Chính trị viên là người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở cấp phân đội; giữ vai trò chủ chốt trong việc xây dựng phân đội vững mạnh về chính trị, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của cách mạng Nhiệm

vụ đó đòi hỏi chính trị viên không những phải kiên định vững vàng, nhạy bén về chính trị, mà còn phải có năng lực quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết, chỉ thị của cấp trên phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị mình Vì vậy, cần kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Nhận thức được tầm quan trọng của năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn đối với chính trị viên, thời gian qua, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã luôn quan tâm đến việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên Theo đó, các học viện, nhà trường quân đội đã nhận thức và đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp trang bị tri thức lý luận khoa học và nâng cao khả năng vận dụng tri thức đó vào thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị theo cương vị, chức trách của chính trị viên Trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng đã chú trọng tri thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác đảng, công tác chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng và năng lực thực tiễn phù hợp với cương vị, chức trách của chính trị viên Các đơn vị trong quản lý, sử dụng chính trị viên cũng đặc biệt

Trang 7

7 quan tâm bồi dưỡng, nâng cao cả về năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn Nhận thức tầm quan trọng của việc nâng cao phẩm chất, năng lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, chính trị viên cũng thường xuyên tự

tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận và khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn công tác

Tuy nhiên, trong nhận thức và thực hiện việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên còn có không ít bất cập Hiện nay, một bộ phận chính trị viên còn hạn chế về năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn, làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của các chủ thể, cũng như sự đổi mới về nội dung và phương thức kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định

Vì vậy, kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Đây là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội ta vững mạnh toàn diện

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Góp phần làm tốt việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng

lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu thực chất và những nhân tố cơ bản

quy định kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu: kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với

năng lực thực tiễn của chính trị viên ở các đơn vị binh chủng hợp thành, số

liệu khảo sát từ năm 2006 đến nay

Trang 8

8

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Đóng góp mới của luận án: góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận,

thực tiễn về kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án: kết quả nghiên cứu của luận án

là cơ sở khoa học giúp các cơ quan chức năng nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng chính trị viên Quân đội ta hiện nay

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập và tiến hành kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng

lực thực tiễn của chính trị viên

Trang 9

9

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực tư duy, năng lực tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận của người cán bộ

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực tư duy và năng lực tư duy lý luận của người cán bộ

Ở nước ngoài có các công trình tiêu biểu: “Tư duy triết học về nghiên

cứu lý luận quân sự” của Lý Tiểu Quân và Vương Vĩnh Bình [95] Công trình khẳng định rằng, trong lĩnh vực quân sự, tư duy lý luận có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến tiến trình, thậm chí đến kết cục của chiến tranh Vì vậy, nắm vững lý luận là một trong những nguyên tắc cần chú trọng của những người chỉ đạo chiến tranh Trong thực tế, tư duy lý luận quân sự không ngừng phát triển, vì khoa học quân sự phát triển không ngừng Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong hệ thống tri thức quân sự, triết học, đặc biệt là triết học mác xít là phương pháp luận cao nhất

Nghiên cứu lý luận quân sự là một trong những lĩnh vực nghiên cứu rất phức tạp, nếu trong nghiên cứu chỉ giới hạn ở tư duy lôgíc trạng thái tĩnh thì hoàn toàn không đủ mà cần phải nhắm vào những nội dung cụ thể đang vận động, thay đổi của chiến tranh để khảo sát biện chứng Quá trình nghiên cứu đòi hỏi phải nắm được quá trình đi đến kết luận của các công trình, từ đó khẳng định lập trường, quan điểm và phương pháp quan sát, phân tích, giải quyết vấn đề quân sự của tiền nhân và lấy đó làm nền tảng để nâng cao khả năng nghiên cứu Do đó, cần kết hợp sự phát triển cách mạng quân sự thế giới với thực tiễn xây dựng quân đội, tạo ra lý luận mới phù hợp với thực tiễn, yêu cầu đó đòi hỏi phải có phương pháp nghiên cứu khoa học Vì phương pháp khoa học là công cụ và phương tiện của tư duy lý luận

Cuối cùng, công trình kết luận rằng: lối thoát có tính khoa học và đem lại hiệu quả trong nghiên cứu lý luận quân sự là phải nhằm thẳng vào sự khác

Trang 10

10 nhau của đối tượng nghiên cứu và mục đích nhận thức, sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học bao gồm cả phương pháp triết học mác xít, kết hợp cả

vĩ mô với cụ thể, định tính với định lượng, kết hợp sự phát triển của lý luận quân sự với sự vận động, biến hoá của chiến tranh; từ đó đạt được mục đích chỉ đạo chiến tranh một cách khoa học

Khi nghiên cứu về tư duy hoàn hảo và giúp mọi người tự học cách tư

duy của Edward De Bono [33] cho rằng, tư duy rất quan trọng và cần thiết,

nhưng điều đó chưa đủ, tác giả cho rằng, chúng ta chú ý nhiều đến quá trình

tư duy, tuy nhiên lại ít chú ý đến nguồn gốc của các yếu tố cấu thành nó và nó được lựa chọn như thế nào?

Edward De Bono chỉ ra rằng: các thành phần cho quá trình tư duy được hình thành từ nhận thức, nhận thức là cách chúng ta quan sát thế giới Theo tác giả cuốn sách thì việc mắc sai lầm là do chúng ta luôn tin rằng, lôgíc là bộ phận quan trọng nhất trong quá trình tư duy mà không chú ý đến nhận thức Edward

De Bono cho rằng, lôgíc là một hệ thống bên ngoài chỉ có thể hoạt động được với những gì có trong nó Quan niệm về sức mạnh của lôgíc là một trong những nhược điểm của phương pháp tư duy truyền thống Không thể phủ nhận, trong nhận thức lý tính, lôgíc có thể chỉ ra những nhược điểm về mặt nhận thức Nhưng trong nhận thức cảm tính, điều đó hoàn toàn không đúng Theo Edward

De Bono, việc tin nhận thức và quá trình hình thành nhận thức đều hoạt động theo hệ thống thông tin thụ động dẫn đến sự cần thiết phải có một bộ xử lý bề ngoài để tổ chức, sắp xếp và phân tích thông tin Theo ông thì ngày nay, chúng ta

đã biết, nhận thức diễn ra trong hệ thống thông tin tự tổ chức được điều khiển bởi mạng lưới dây thần kinh trong não Điều này có nghĩa là thông tin và bề mặt chứa thông tin có các hoạt động riêng và thông tin tự sắp xếp thành nhóm, chuỗi

Theo Edward De Bono, bộ ba nhà triết học Sôcrát, Platôn, Aristốt đã dựa trên việc phân tích, đánh giá; phương pháp đó đã giải quyết được nhiều

Trang 11

11 vấn đề, có những vấn đề không tìm được nguyên nhân và nếu tìm được thì cũng không thể giải quyết được Đối với những vấn đề ấy không cần phân tích thêm mà cần sáng tạo Theo đó, tác giả cuốn sách cho rằng, phương pháp

tư duy truyền thống rất thiếu tính xây dựng, ít sáng tạo, chỉ miêu tả và phân tích Điều đó là chưa đủ Để tìm ra chân lý, theo Edward De Bono việc suy đoán giữ một vai trò quan trọng trong tư duy

Edward De Bono đi đến kết luận: phương pháp tư duy truyền thống mặc dù rất tốt nhưng chưa đầy đủ Tuy nhiên, ông vẫn nhấn mạnh rằng, phương pháp tư duy truyền thống còn có giá trị và chỗ đứng nhất định Sai lầm ở chỗ chúng ta cho rằng, thế là đủ và để nó thống trị chúng ta Do đó, để giúp con người tự học cách tư duy và có một tư duy hoàn hảo, Edward De Bono nghiên cứu các phương pháp tư duy Theo đó, tác giả đưa ra năm phương pháp để mỗi người tự trả lời nó, giúp hoàn thiện phương pháp tư duy,

đó là: thứ nhất, tôi muốn đi đâu; thứ hai, bước thông tin; thứ ba, các khả năng gì; thứ tư, kết quả là gì; thứ năm, thực hiện phương pháp

Ở trong nước có các công trình tiêu biểu: Nghiên cứu về vấn đề năng lực

tư duy, tác giả Nguyễn Ngọc Long cho rằng, năng lực tư duy là tổng hợp những

phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người, bảo đảm cho hành động sáng tạo của mình [63, tr 48] Với quan niệm này, năng lực

tư duy chính là những phẩm chất trí tuệ, giúp chủ thể có thể giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đặt ra trong quá trình họ tham gia hoạt động thực tiễn, chính năng lực trí tuệ giúp chủ thể có thể hoạt động sáng tạo, đem lại hiệu quả cao trong công việc

Tiếp cận năng lực tư duy là sự biến đổi tri thức thành phương pháp, tác

giả Hồ Bá Thâm quan niệm: năng lực tư duy chính là khả năng biến tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và vận dụng đúng đắn quy luật đó

Trang 12

12 trong cuộc sống [107, tr 15] Cách tiếp cận này cho ta thấy, năng lực tư duy chính là khả năng biến tri thức thành phương pháp trong quá trình chủ thể sử dụng và tiếp tục vận dụng vào hoạt động để tiếp tục nhận thức, làm cho khả năng nhận thức của chủ thể không ngừng tăng lên bằng cách vận dụng đúng đắn vào cuộc sống Khả năng này được cụ thể: năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hoá, khái quát hoá, liên tưởng, luận giải và

xử lý trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn trên cơ sở quy luật khách quan và nó mang lại những kết quả nhất định Theo quan niệm này, thì năng lực tư duy chính là năng lực ghi nhớ, tái hiện những hình ảnh bằng ngôn ngữ, khái niệm, bằng hình ảnh, do nhận thức cảm tính đem lại; năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phân tích và tổng hợp; năng lực tưởng tượng, suy luận, liên tưởng để nhận biết, phát triển, lựa chọn xử lý trong nhận thức và hành động Cách hiểu này nhấn mạnh đến năng lực ghi nhớ, tái hiện, khả năng trừu tượng hoá, khái quát hoá

và khả năng suy luận, liên tưởng của chủ thể nhận thức

Cũng tiếp cận về năng lực tư duy, tác giả Trần Văn Phòng cho

rằng, năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ - (chẳng hạn như sự thông minh, khả năng suy luận, phán đoán, phân tích, năng khiếu nhạy cảm, v.v ) - của con người nhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức đúng đắn bản chất thế giới tự nhiên, xã hội, con người, bảo đảm cho hoạt động thực tiễn và hoạt động sáng tạo của con người phù hợp với quy luật, đạt hiệu quả [91] Năng lực tư duy theo tác giả là sự tổng hợp các phẩm chất trí tuệ, để thoả mãn nhu cầu nhận thức thế giới, xã hội con người của chủ thể, sự nhận thức đó đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn, nhờ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật nhận thức

Luận chứng về tư duy lý luận, tác giả Nguyễn Văn Dũng quan niệm:

“Tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các phương tiện là khái

Trang 13

13 niệm, phạm trù, quy luật, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan; từ đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người ngày càng có kết quả cao hơn” [10, tr 23]

Tư duy lý luận được nói đến ở đây là tư duy biện chứng duy vật triệt để là công cụ nhận thức sắc bén, giúp con người hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao Tư duy lý luận là loại hình tư duy có tính khái quát và trừu tượng cao,

tư duy bằng khái niệm, phạm trù, quy luật Tư duy lý luận luôn có sự thống nhất giữa nội dung tư duy và phương pháp tư duy Đó là sự vận dụng các khái niệm, phạm trù, quy luật theo một lôgíc khoa học

Về năng lực tư duy lý luận, tác giả Dương Minh Đức đưa ra quan

niệm: “Năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn đối với hiện thực ở trình độ lý luận, nhờ vậy có những đề xuất cụ thể sắc bén, sáng tạo, thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người” [12, tr 18] Ở quan niệm này, tác giả nhấn mạnh đến tổng thể các phẩm chất thuộc về chủ thể tư duy và những phẩm chất này giúp cho chủ thể có được những đề xuất cũng như quyết định đúng đắn, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn

Theo tác giả Nguyễn Văn Dũng, “năng lực tư duy của một chủ thể nhất định là tổng hoà các yếu tố chủ quan của chủ thể trong quá trình tư duy phản ánh chân thực và nhạy bén hiện thực khách quan đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư duy, từ đó tạo ra khả năng đánh giá và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của chủ thể làm cho những hoạt động đó đạt hiệu quả cao” [10, tr 25] Theo cách hiểu này, năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các yếu tố thuộc về chủ thể, giúp chủ thể trong quá trình tư duy và phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra Trên cơ sở sự nhận thức phản ánh hợp quy luật, giúp chủ thể nhận thức đạt được kết quả cao Năng lực tư duy thuộc

Trang 14

14

về các yếu tố chủ quan mà chủ thể tích luỹ được, hai là các yếu tố thuộc về sự

nỗ lực của chủ thể trong quá trình nhận thức, quá trình hoạt động thực tiễn, giúp chủ thể tư duy đạt đến chân lý

1.1.2 Những công trình tiêu biểu liên quan đến nâng cao năng lực tư duy

lý luận của người cán bộ

Quan niệm về năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân

đội, tác giả Đào Văn Tiến [112] đã đưa ra khái niệm, cấu trúc năng lực tư duy

sáng tạo Theo tác giả, tư duy sáng tạo khác với tư duy nói chung ở việc tạo ra những khái niệm, phán đoán, suy lý mới Sự tạo ra những khái niệm, phán đoán, suy luận mới đó được dựa trên những tài liệu mà chủ thể nhận thức và ghi nhớ được trong quá trình học tập, công tác và các hoạt động thực tiễn Năng lực tư duy sáng tạo của con người có được không chỉ nhờ có sự nhanh nhạy của bộ óc, của cơ quan cảm giác mà còn là kết quả của quá trình khổ luyện học tập và rèn luyện trong thực tiễn

Trên cơ sở luận chứng về năng lực tư duy sáng tạo, công trình này đã đưa ra quan niệm về năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội; chỉ ra bản chất, đặc điểm vai trò của năng lực tư duy sáng tạo đối với hoạt động thực tiễn của sĩ quan trẻ

Khi nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó, tác giả

Nguyễn Đình Trãi cho rằng, năng lực tư duy lý luận được đặc trưng bởi sự tích luỹ về phương pháp tư duy Là khả năng lựa chọn, sắp xếp các thao tác tư duy theo một lôgíc nhất định nhằm đạt tới kết quả cụ thể; là khả năng xác định mục đích, các bước tiến hành các khâu chủ yếu trong quá trình phản ánh để lựa chọn các thao tác chính xác trong tư duy “Năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể có thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức (ở trình độ lý luận) nhanh, nhạy, đúng đắn và sáng tạo đối với hiện thực, nhờ vậy, có những đề xuất sắc bén, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực

Trang 15

15 tiễn của con người” [121, tr 28] Năng lực tư duy lý luận là khả năng tích luỹ tri thức và nghệ thuật sử dụng tri thức, xử lý thông tin một cách khoa học, hiệu quả;

là “nghệ thuật vận dụng các khái niệm” Năng lực tư duy lý luận giữ vai trò quan trọng trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy của người giảng viên

Khi bàn về việc phát triển năng lực tư duy lý luận của chính uỷ trung

đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Dũng [10] cho rằng, năng lực tư duy lý luận của một chủ thể là tổng thể các yếu tố thuộc về chủ quan của chủ thể và những yếu tố đó được chủ thể áp dụng vào việc phát hiện, nhận thức đúng để từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn, nhằm giải quyết hiệu quả công việc

Năng lực tư duy lý luận của người chính uỷ trung đoàn là những yếu tố thuộc về chủ quan của họ và những yếu tố đó trực tiếp giúp họ nhận thức những vấn đề lý luận và thực tiễn quân sự diễn ra trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ Năng lực tư duy lý luận giúp người chính uỷ trung đoàn kịp thời đưa

ra những giải pháp lãnh đạo nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao

Tác giả Nguyễn Bá Dương trong cuốn sách Sĩ quan trẻ với tư duy về

nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập WTO [13] cho rằng, tư duy biện

chứng duy vật không chỉ là “tài sản vô giá” mà còn là “chìa khoá” mở đường, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của sĩ quan trẻ; là hành trang cần thiết của sĩ quan trẻ để họ vững tin hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao

Tư duy biện chứng duy vật giúp sĩ quan trẻ không những nhận thức đúng tình hình, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu mà còn tìm ra những giải pháp phù hợp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, luôn tiến bộ, trưởng thành Cách luận chứng này cho chúng ta thấy, tư duy biện chứng duy vật phản ánh đúng đắn sự vận động, phát triển không ngừng của hiện thực và có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn

Trang 16

16

Tư duy biện chứng duy vật của sĩ quan trẻ trong nhận thức nhiệm vụ bảo

vệ Tổ quốc được luận chứng là quá trình suy nghĩ, nhận định, quản lý phân đội, phản ánh hoạt động quân sự trong quá trình xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Đó là quá trình phản ánh gián tiếp của sĩ quan phân đội về hoạt động quân

sự, trên cơ sở của sự năng động, sáng tạo, giúp chủ thể vạch ra cái bản chất, tất yếu, giúp họ vận dụng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu cao

Tác giả công trình khẳng định rằng, quá trình phát triển tư duy biện

chứng duy vật trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của sĩ quan trẻ vừa

chịu sự quy định của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan vừa có sự nỗ lực không ngừng của chủ thể trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn

1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực thực tiễn và nâng cao năng lực thực tiễn của người cán bộ

1.2.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực thực tiễn, năng lực thực tiễn của người cán bộ

Ở nước ngoài, trong cuộc hội thảo về chủ đề thực tiễn luận với hệ thống triết học mác xít [111], những người tham dự hội thảo đã nhấn mạnh

một số nội dung: cách tiếp cận triết học lấy thực tiễn con người, đời sống loài người làm cơ sở, cái mà C.Mác cần nói rõ là phương hướng, mục tiêu, cơ sở hình thành, phát triển thế giới cùng với sự cải tạo hơn nữa; phương thức tư duy dùng quan điểm thực tiễn để tìm hiểu con người, tìm hiểu bản chất con người, tìm hiểu quan hệ con người với thế giới; chức năng của triết học là không chỉ nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới; nội hàm bản thể luận, triết học mác xít là khoa học về tồn tại nói chung, khoa học của quy luật nói chung cả thế giới Đó là thế giới quan hoặc vũ trụ quan khoa học; vấn đề cơ bản của nội dung lý luận, thực tiễn luận mác xít Nhìn chung, quan điểm của các học giả là khác nhau Nhưng tựu chung các nhà khoa học thừa nhận tiêu

Trang 17

17 chuẩn của thực tiễn, thực tiễn là nguồn gốc của tư duy, tinh thần thực tiễn cách mạng phê phán; về phương pháp nghiên cứu thực tiễn luận mác xít: các

nhà khoa học cho rằng, thứ nhất, nguyên tắc có tính tổng thể; vấn đề thực tiễn

là vấn đề tính tổng thể trong triết học mác xít; thứ hai, nguyên tắc có tính kết

cấu; hoạt động thực tiễn nhiều mặt, nhiều tầng lớp, phải nắm vững chính xác kết cấu của nó, nhấn mạnh ý nghĩa cơ bản nhất thực tiễn sản xuất và phát triển

sức sản xuất của xã hội; thứ ba, nguyên tắc tính lịch sử, cụ thể

Ở trong nước, khi bàn đến vấn đề năng lực và năng lực thực tiễn có

nhiều công trình khoa học đã đi sâu nghiên cứu luận chứng về mặt năng lực cũng như khả năng hoạt động thực tiễn của con người nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Các công trình khoa học luận chứng một cách khoa học về sự gắn liền giữa năng lực của con người với hoạt động thực tiễn mà trực tiếp là lao động sản xuất

Bàn về năng lực thực tiễn của người cán bộ, tác giả Vũ Quang Tạo quan

niệm: “Năng lực thực tiễn của cán bộ có thể được hiểu là tổng thể những thuộc tính hợp thành khả năng giúp người cán bộ hoạt động thực tiễn có hiệu quả, theo yêu cầu nhiệm vụ chức trách của mình” [101, tr 67] Nâng cao năng lực thực tiễn cho đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cấp bách hiện nay Theo cách tiếp cận năng lực thực tiễn là tổng thể những thuộc tính hợp thành khả năng của cán bộ, giúp họ thực hiện có hiệu quả các hoạt động thực tiễn Năng lực thực tiễn của người cán bộ được tạo bởi khả năng xác định đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp về mục đích, phương pháp, cách thức, lực lượng, động lực… của hoạt động thực tiễn Chủ thể có xác định đúng, giữ vững mục đích của quá trình hoạt động thì họ mới có kết quả, vì không cảnh giác, con người càng hoạt động càng xa mục đích của mình Năng lực thực tiễn của người cán bộ được quan niệm là sự khơi dậy, quy tụ, sử dụng có hiệu quả các lực lượng, phương tiện để thực hiện mục đích hoạt động; thể hiện ở việc kiểm tra,

Trang 18

18 đánh giá kết quả, xác định đúng nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình tham gia hoạt động thực tiễn, giúp người cán bộ nâng cao năng lực hoạt động của mình

Các công trình khoa học liên quan đến năng lực thực tiễn của người cán

bộ đã luận chứng về những thuộc tính, những yếu tố cần có để có thể giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Trong đó, nhấn mạnh biện pháp tiến hành bồi dưỡng, rèn luyện người cán bộ, cần công phu, chủ động, tích cực và thường xuyên, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng và công tác tổ chức, phát huy trách nhiệm của các lực lượng vào nhiệm vụ bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho họ

1.2.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nâng cao năng lực thực tiễn của ngươi cán bộ

Khi nghiên cứu về việc bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công

tác chính trị của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự trong giai đoạn hiện nay, tác giả Nguyễn Chính Lý [67] cho rằng, bồi dưỡng

năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội là bộ phận cơ bản của hoạt động giáo dục, đào tạo, gồm tổng thể những tác động có chủ định và hệ thống của lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý cùng với sự nỗ lực học tập, rèn luyện của học viên để trang bị, củng cố, mở rộng tri thức và hình thành, phát triển kỹ xảo, kỹ năng cho người học Năng lực công tác đảng, công tác chính trị hợp thành năng lực của người cán bộ chính trị cấp phân đội và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn

Năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị là trình độ thực tế vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được trang bị để giải quyết những nhiệm

vụ cụ thể, công việc cụ thể công tác tư tưởng, công tác tổ chức trong thực tiễn theo chức trách, nhiệm vụ được phân công của người cán bộ chính trị Trên

cơ sở đó, công trình đã luận chứng những vấn đề có tính nguyên tắc trong

Trang 19

19 việc nâng cao năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị Khảo sát thực trạng, đưa ra hệ thống giải pháp để nâng cao năng lực của người học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội

Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực thực tiễn của đội ngũ cán

bộ, tác giả Vũ Quang Tạo đã luận chứng về năng lực thực tiễn và cho rằng:

“năng lực thực tiễn của người cán bộ do nhiều yếu tố hợp thành…, khả năng xác định mục đích, khơi dậy, quy tụ, sử dụng các lực lượng phương tiện và phát hiện, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn bất cập trong hoạt động thực tiễn là những thuộc tính cơ bản quan trọng nhất” [101, tr 69] Trên cơ

sở luận chứng những yếu tố cơ bản hợp thành năng lực thực tiễn của người cán bộ, công trình đã đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm phát huy cả yếu

tố khách quan và nhân tố chủ quan trong việc nâng cao năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ hiện nay

Nghiên cứu hệ thống động lực và giải pháp để phát triển toàn diện con

người nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của người cán bộ, tác giả

Nguyễn Văn Tài đã tiếp cận con người, từ “con người hiện thực” - con người hoạt động, mà cơ sở là hoạt động thực tiễn lấy đó làm “tiền đề xuất phát” [99] Phương pháp tiếp cận này tuân theo yêu cầu hoạt động - giá trị - nhân cách Tiếp cận từ hoạt động vì đó là phương thức quan hệ giữa con người với thế giới là phương thức tác động lẫn nhau giữa người với người, là cơ sở hình thành nhân cách, là hình thức tồn tại và biểu hiện của nhân tố con người trong hiện thực

Tích cực hoá nhân tố con người là quá trình phát hiện, bồi dưỡng kích thích phát triển đối với con người, tác giả cho rằng, nhân tố con người chính là

sự thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động với phẩm chất và năng lực chính là động lực bên trong thúc đẩy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người phát triển Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ là quá trình làm chuyển biến, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ cả về phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Quá

Trang 20

20 trình đó là sự phát huy, sử dụng đúng đắn, có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ cán bộ Hay nói cách khác, đó là quá trình xây dựng, phát triển, hoàn thiện các phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ hiện nay

1.3 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến chính trị viên, kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Quang Phát [90] đã trình bày có hệ thống tư tưởng

Hồ Chí Minh về chất lượng cán bộ chính trị phân đội, làm rõ khái niệm chất lượng cán bộ chính trị phân đội và mô hình người cán bộ này theo tư tưởng của Người Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đội ngũ chính trị viên đã được tác giả đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, “trong đó vai trò nổi bật và xuyên suốt là giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, làm cho các phân đội vũ trang “đi đúng con đường chính trị, tư giác tuân theo kỷ luật của cách mạng” [90, tr 22] Vì vậy, người cán bộ chính trị phân đội cần có phẩm chất đạo đức, năng lực lý luận cũng như năng lực thực tiễn tương xứng

để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Công trình đã phân tích và rút ra những điểm cơ bản về hình mẫu người chính trị viên của Quân đội nhân dân Việt Nam là: thật sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng; có năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy mọi mặt ở đơn vị cơ sở; mẫu mực về phong cách, tác phong công tác, lời nói đi đôi với việc làm Trên cơ sở đó, công trình đã chỉ ra sự cần thiết phải làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội, để họ vừa có phẩm chất tốt vừa có năng lực tốt

Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong quân đội ta hiện nay

[138], tập thể tác giả của công trình đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản

về năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên, chỉ ra

Trang 21

21 đặc trưng, vị trí, vai trò của đội ngũ chính trị viên trong sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị

Các tác giả của công trình này cho rằng: “năng lực công tác đảng, công tác chính trị của chính trị viên ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu là trình độ thực tế và khả năng tổ chức, tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách, nhiệm vụ của người chủ trì về chính trị, người đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở phân đội” [138, tr 35]

Năng lực công tác đảng, công tác chính trị của người chính trị viên bao gồm năng lực quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên, biết xem xét, đánh giá tình hình của đơn vị; là năng lực quy tụ, phát huy trí tuệ và sức mạnh đoàn kết của tập thể cấp uỷ và chi bộ để xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; phản ánh năng lực, trình độ nghiệp vụ, cũng như xây dựng các tổ chức ở đơn vị vững mạnh toàn diện, triển khai thực hiện công tác kiểm tra… Năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị còn được thể hiện ở năng lực tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong từng hoàn cảnh và nhiệm vụ cụ thể ở phân đội

Nghiên cứu về phẩm chất, năng lực của chính trị viên, tác giả Phạm Đình Nhịn quan niệm: “chính trị viên phải có phẩm chất và năng lực toàn diện, cả đức và tài, nhưng trước hết phải có phẩm chất tinh thần, đạo đức của người đảng viên cộng sản ưu tú, đặc biệt là sự kiên định, lòng trung thành, ý chí, trách nhiệm và năng lực hiểu thấu đáo công việc, năng lực thực hiện nhiệm vụ với hiệu suất, chất lượng cao” [86, tr 44] Người chính trị viên phải

có “đức” và “tài” mới có thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được phân công Do đó, chính trị viên cần không ngừng học tập, rèn luyện để có kiến thức nhiều mặt, kinh nghiệm phong phú, kỹ năng hoạt động vững vàng, bảo

Trang 22

22 đảm chất lượng, hiệu quả trong mọi công việc, mọi nhiệm vụ Chính trị viên giữ vững vai trò lãnh đạo không phải bằng uy quyền, mà bằng uy tín, bằng nghị lực, bằng kinh nghiệm phong phú hơn, bằng kiến thức về nhiều mặt và bằng tài năng của mình Theo đó, người chính trị viên vừa cần phải có năng lực tư duy lý luận phát triển vừa phải có năng lực thực tiễn cao để hoàn thành ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao “chính trị viên phải tích cực học tập một cách toàn diện cả chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật…, phải rèn luyện cả ý chí quyết tâm, bản lĩnh chiến đấu, cả thể lực, sức khoẻ và các phẩm chất tâm lý cần thiết; phải học tập, rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi, học trong sách vở, trong thực tiễn và học ở quần chúng, học lẫn nhau để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thực sự xứng đáng là "linh hồn" là "đại biểu của Đảng" trong đơn vị” [86, tr 46]

Để đào tạo được đội ngũ cán bộ chính trị có năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn cao cần có bước đột phá trong các khâu dạy và học Do đó, tác giả Lê Xuân Lựu đặt vấn đề “Liên hệ lý luận với thực tiễn trong dạy và học” [66] Công trình đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn, từ đó, đặt vấn đề trong dạy và học phải quán triệt tốt phương châm lý luận liên hệ với thực tiễn Việc nắm thực chất lý luận và vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận vào thực tiễn là những nội dung mấu chốt của phương châm liên hệ

lý luận với thực tiễn trong dạy và học Vì khi quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ đem lại kết quả cao trong dạy và học, nhờ đó giúp người học sau khi ra trường

có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Hoạt động dạy phải gắn lý luận với thực tiễn, tri thức khoa học với kinh nghiệm Trong hoạt động học, người học phải là chủ thể tiếp nhận tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp và rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong công tác; quá trình dạy học ở nhà trường phải hình thành ở người học khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn Quá trình

vận dụng lý luận vào thực tiễn cần chú trọng hai vấn đề mấu chốt: thứ nhất,

Trang 23

23 phương châm liên hệ lý luận với thực tiễn phải thường xuyên chỉ đạo cả hoạt động dạy và hoạt động học để nâng cao năng lực và phẩm chất của ngươi học;

thứ hai, phương châm liên hệ lý luận với thực tiễn phải đạt mục đích hình

thành ở người học khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn Vì “phương pháp luận Mác - Lênin dạy người học phải luôn luôn lấy hiện thực khách quan làm

cơ sở cho tư duy của mình mỗi khi xác định nhiệm vụ và kế hoạch hành động

Việc xem xét, phân tích hiện thực khách quan phải theo quan điểm lịch sử, cụ

thể, toàn diện và phát triển để nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng và xây

dựng luận cứ khoa học giải quyết đúng đắn và sáng tạo hiện thực khách quan phục vụ cho lợi ích con người” [66, tr 47]

Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [96], tập thể tác giả của công

trình đã phân tích, chỉ ra những phẩm chất, năng lực cần có của người chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam Yêu cầu về phẩm chất chính trị của chính uỷ, chính trị viên là có nhận thức chính trị cao, có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trách nhiệm chính trị cao trước nhiệm vụ, trước đơn vị, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, gương mẫu thống nhất trong lời nói và việc làm Về phẩm chất đạo đức, chính uỷ, chính trị viên phải là người trung thực, khiêm tốn, giản dị, liêm khiết, lối sống trung thực, trong sáng, đoàn kết, yêu thương con người, sống bao dung và độ lượng Yêu cầu về năng lực chính uỷ, chính trị viên phải là người có trình độ lý luận, có kiến thức chuyên sâu về xây dựng đảng, công tác đảng, công tác chính trị và có kiến thức quân sự vững chắc, có năng lực lãnh đạo, chỉ đạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, biết chỉ huy đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, có năng lực quản lý và có kiến thức toàn diện, ngang tầm chức trách là người chủ trì về chính trị ở đơn vị Yêu cầu về phương pháp, tác phong công tác chính uỷ, chính trị

Trang 24

24

viên là người có phương pháp, tác phong công tác của người lãnh đạo, chủ động, sáng tạo, quyết đoán, mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn có phong cách làm việc dân chủ, biết phát huy trí tuệ, trách nhiệm của mọi người

Tiếp cận từ vấn đề phẩm chất, năng lực, công trình đã đưa ra quan niệm nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên trong quân đội và chỉ ra chủ thể, nội dung, phương thức nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên Từ đó, công trình đã đánh giá thực trạng, khái quát một số kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ chính uỷ, chính trị viên hiện nay

2 Những vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục giải quyết

Một là, các công trình bàn về phẩm chất, năng lực của chính trị viên

được thể hiện chủ yếu dưới dạng bài báo khoa học hay đề tài khoa học nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học về kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Vấn đề đặt ra cho luận án là tiếp tục kế thừa, bổ sung, làm sâu sắc hơn khái niệm: năng lực tư duy lý luận của chính trị viên, năng lực thực tiễn của chính trị viên; thực chất kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên Trên cơ sở đó, chỉ ra những nhân tố cơ bản quy định việc kết hợp nâng cao hai năng lực này ở chính trị viên

Hai là, từ khi thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị

(khoá IX) “về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đại đa số chính trị viên đã thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ, một bộ phận chính trị viên đã bộc lộ những hạn chế về năng

Trang 25

25 lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn trong giải quyết các nhiệm vụ của đơn

vị, điều đó tác động rất lớn đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của họ Trong các công trình đã công bố, các tác giả đã cố gắng phân tích, làm rõ thực trạng của từng năng lực riêng rẽ của chính trị viên Nhưng chưa có công trình nào luận chứng một cách toàn diện, hệ thống dưới góc độ triết học về thực trạng kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên hiện nay

Ba là, các công trình của các nhà khoa học đã công bố, đã luận

chứng và đưa ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của chính trị viên nói chung, hay hệ thống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong tình hình mới Hệ thống giải pháp đưa ra sâu sắc và toàn diện, mang tính khả thi, tập trung nâng cao phẩm chất, năng lực công tác, rèn luyện tay nghề của chính trị viên hiện nay Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung luận chứng toàn diện, hệ thống giải pháp kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên Đây là cơ sở để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu, phân tích, phát triển làm sâu sắc hơn hệ thống giải pháp trong luận án của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đề xuất giải pháp kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên hiện nay

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

- Đưa ra quan niệm về năng lực tư duy lý luận, nâng cao năng lực tư duy lý luận, năng lực thực tiễn, nâng cao năng lực thực tiễn của chính trị viên

và quan niệm kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên

Trang 26

26

- Chỉ ra những nhân tố cơ bản quy định việc kết hợp nâng cao năng lực

tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên

- Đánh giá thực trạng, dự báo tình hình tác động và xác định yêu cầu của việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên

- Đề xuất giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, luận án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp, hệ thống - cấu trúc, trừu tượng hoá và khái quát hoá, lịch sử và lôgíc, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia…

Trang 27

27

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP NÂNG CAO NĂNG LỰC

TƯ DUY LÝ LUẬN VỚI NĂNG LỰC THỰC TIỄN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN

TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1 Thực chất của việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam

1.1.1 Quan niệm về nâng cao năng lực tư duy lý luận, nâng cao năng lực thực tiễn của chính trị viên

Theo Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (Khoá IX), Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW (nay là Quân uỷ Trung ương), trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, chính trị viên là cán bộ chính trị được biên chế ở đơn vị cấp phân đội (đại đội, tiểu đoàn và đơn vị tương đương) Chính trị viên là người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị của đơn vị cấp phân đội, “hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp

uỷ, cơ quan chính trị, chính uỷ (chính trị viên) cấp trên và sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ cùng cấp” [118, tr 67]

Chính trị viên vừa là người cán bộ quân đội, vừa là nhà tâm lý, nhà giáo dục, đồng thời là người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp phân đội Chính trị viên

và người chỉ huy là hai người có trách nhiệm cao nhất đối với mọi hoạt động của đơn vị Trách nhiệm trước hết đối với chính trị viên là giữ vững định hướng

về chính trị của đơn vị trên tất cả các nhiệm vụ, các hoạt động, các lĩnh vực, cả tổ chức và con người, đảm bảo cho đơn vị thực hiện đúng đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng; là người chịu trách nhiệm chủ yếu, đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, trực tiếp

là của cấp uỷ, tổ chức đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng

và tổ chức; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở mỗi quân nhân, giữ vững trận địa chính trị -

tư tưởng của đơn vị, giáo dục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền chấp hành tốt đường

Trang 28

28 lối, chính sách của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; là người triển khai, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi chỉ thị, nghị quyết của cấp trên

và nghị quyết của cấp mình; giữ vai trò trung tâm trong tập hợp, đoàn kết cán bộ, chiến sĩ; quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi cán bộ chiến

sĩ thuộc quyền “Chính uỷ, chính trị viên là người chịu trách nhiệm trước cấp trên

và cấp uỷ cấp mình về toàn bộ các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong đơn vị; có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức tiến hành các nội dung công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách, nhiệm vụ; tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các kế hoạch công tác chung của đơn vị” [118, tr 12 - 13] Chính trị viên không những là người trực tiếp tham gia các hoạt động diễn ra ở đơn vị mà còn

là người vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội vào xây dựng, tổ chức, thực hiện thắng lợi nghị quyết lãnh đạo của cấp mình

Hiện nay, chính trị viên ở các đơn vị binh chủng hợp thành (phân biệt với chính trị viên ở các đơn vị quân, binh chủng khác) chủ yếu là những người được

bổ nhiệm từ đội ngũ phó chỉ huy về chinh trị cấp phân đội của cơ chế cũ (Nghị quyết 27/NQ-TW của bộ Chính trị, từ năm 1985 đến 2005 ở cấp đại đội và tiểu đoàn biên chế chức danh phó đại đội trưởng về chính trị, phó tiểu đoàn trưởng về chính trị) và một số chính trị viên được đào tạo chính quy theo cơ chế mới (Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị) ở nhà trường Đồng thời, có cả những chính trị viên được đào tạo chuyển loại từ cán bộ quân sự, cán bộ chuyên môn kỹ thuật Do đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực thực tiễn của họ không đồng đều và có hạn chế nhất định Đây là cơ sở để nghiên cứu việc kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên

Quan niệm về nâng cao năng lực tư duy lý luận của chính trị viên

Với cách tiếp cận chung, năng lực của con người do hai yếu tố cơ bản tạo thành đó là yếu tố tự nhiên (sinh học) và yếu tố xã hội, trong đó yếu tố xã hội là cơ

Trang 29

29 bản có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực Yếu tố tự nhiên tạo thành năng lực của mỗi con người, đó là những cái thuộc về bẩm sinh, gen di truyền, nhất là hoạt động của hệ thần kinh cấp cao…, đây là những yếu tố mang tính tiền đề, cơ sở của năng lực, vì những tư chất thuộc về yếu tố bẩm sinh của mỗi cá nhân chỉ được phát triển và phát huy thông qua nhân tố xã hội Nhờ quá trình giáo dục, tự giáo dục, tự phấn đấu và rèn luyện mà năng lực của mỗi người được hình thành, phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác,

do tập luyện mà có” [74, tr 280] Vì bất kỳ sự sáng tạo nào cũng cần có tài năng nhất định và phải được giáo dục kỹ lưỡng Như vậy, năng lực của con người không chỉ đơn thuần là yếu tố bẩm sinh mà đó còn là quá trình hoạt động rèn luyện tích lũy lâu dài thông qua học tập và hoạt động thực tiễn

Năng lực là khả năng nhận thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người ở các lĩnh vực hoạt động tương ứng mà họ tham gia Có thể hiểu

năng lực là tổng hoà khả năng của chủ thể trong những điều kiện nhất định được biểu hiện ra trong hoạt động giúp chủ thể nhận thức và giải quyết có hiệu quả công việc trong những lĩnh vực cụ thể Năng lực luôn gắn liền với

mỗi cá nhân, một tập thể, một nhóm xã hội, do đó xã hội có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì ở con người cũng có bấy nhiêu năng lực tương ứng Trong

đó, năng lực tư duy và năng lực thực tiễn là những năng lực cơ bản của con người, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau

Năng lực tư duy là khả năng sử dụng thành thạo nội dung, hình thức, phương pháp tư duy để nhận thức và giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề

lý luận, thực tiễn đặt ra đối với chủ thể Khi tư duy, bao giờ chủ thể cũng phải

sử dụng hệ thống tri thức tồn tại dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy luận về những đối tượng xác định, các hình thức tư duy đó có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Xuất phát từ lý do này, nên năng lực tư duy của chủ thể bao giờ

Trang 30

30 cũng được thể hiện ở năng lực lựa chọn cách thức (phương pháp tư duy) để liên kết các hình thức tư duy nhằm tìm ra kết luận chính xác Năng lực tư duy phản ánh khả năng lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp tư duy, cũng như việc

sử dụng thành thạo nội dung, hình thức và phương pháp tư duy một cách khoa học để thu được kết quả trong quá trình tư duy

Xuất phát từ yêu cầu ngày càng cao của hoạt động thực tiễn, tư duy của con người không dừng lại ở việc phản ánh cái bên ngoài mà ngày càng

đi sâu phản ánh bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Tư duy lý luận là loại hình tư duy phát triển ở trình độ cao nhất của

tư duy con người, là sự vận dụng khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận vào nhận thức và hoạt động nhằm tìm ra bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Nếu tư duy kinh nghiệm mới chỉ ra một mặt, một thuộc tính nào đó của sự vật, hiện tượng thì tư duy lý luận lại chỉ ra bản chất, quy luật vận động của sự

vật, hiện tượng Nhờ đó con người có thể trả lời được những câu hỏi: Bản chất

sự vật là gì? Quy luật vận động của nó như thế nào? Hoạt động như thế nào để đạt hiệu quả? Trả lời được những câu hỏi này sẽ giúp con người hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn và biết cách “đối nhân xử thế” hợp tình, hợp lý hơn

Từ những phân tích trên có thể quan niệm, năng lực tư duy lý luận là

khả năng sử dụng linh hoạt, tối ưu nội dung, hình thức, phương pháp tư duy ở trình độ lý luận để nhận thức và giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với chủ thể

Như vậy, năng lực tư duy lý luận được thể hiện bởi những nội dung cơ bản của nó như: những yếu tố về phẩm chất tâm sinh lý, quy định về năng khiếu thông minh, trí nhớ, khả năng trực giác cũng như sự nhạy cảm của mỗi chủ thể;

vốn tri thức mà họ lĩnh hội được cũng như những tri thức kinh nghiệm của họ;

khả năng tổ chức liên kết những tri thức thành những khái niệm, phán đoán, suy

Trang 31

31 luận, thể hiện ở khả năng kế thừa, bảo vệ, phát triển những vấn đề lý luận; khả năng vận dụng tri thức lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Nhờ có năng lực tư duy lý luận mà chủ thể có khả năng phát hiện, nắm bắt nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như xem xét các vấn đề thực tiễn của công việc một cách khoa học; trên cơ sở đó đúc rút, chọn lọc và biết kế thừa, bảo vệ, phát triển làm sâu sắc những vấn đề lý luận phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra; biết vận dụng lý luận vào thực tiễn, chỉ đạo có hiệu quả các hoạt động thực tiễn của công việc Năng lực tư duy lý luận có vai trò rất quan trọng và đặc biệt cần thiết với người cán bộ, trong đó có cán bộ chính trị viên trong quân đội

Năng lực tư duy lý luận của chính trị viên là khả năng sử dụng linh hoạt, tối ưu nội dung, hình thức, phương pháp tư duy ở trình độ lý luận để nhận thức

và giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị Năng lực tư duy

lý luận của chính trị viên được thể hiện ở các khả năng cụ thể sau:

Khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình chủ trì về chính trị và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị Năng lực tư duy lý luận giúp chính trị viên phát hiện, nhận thức, đánh giá

những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh từ các hoạt động diễn ra ở đơn vị Trên cương vị, chức trách được giao, chính trị viên thường xuyên gặp phải những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn, nên họ cần có khả năng nhận thức và giải quyết những vấn đề đó một cách hiệu quả nhất Thể hiện ở việc nắm vững, hiểu thực chất các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức nền tảng về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, tri thức quân sự và khoa học chuyên ngành xây dựng Đảng Trên cơ

sở nắm vững những tri thức khoa học, hình thành phương pháp nhận thức, phương pháp hoạt động thực tiễn của họ; hình thành, phát triển bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ chính trị, để đấu tranh có hiệu quả

Trang 32

32 với những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng

Năng lực nhận thức lý luận giúp chính trị viên nhận thức đúng những vấn đề lý luận khoa học, nghệ thuật quân sự và tri thức công tác đảng, công tác chính trị, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao Sự hiểu biết đó giúp chính trị viên quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của cấp trên

và khái quát nhanh những vấn đề thực tiễn

Năng lực nhận thức những vấn đề thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị của chính trị viên là năng lực nắm bắt những vấn đề thực tiễn nảy sinh trong quá trình tiến hành công tác tư tưởng, công tác tổ chức; khả năng phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh, vấn đề cần giải quyết trong quá trình tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, quy tụ sức mạnh tập thể vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị và thực hiện các mặt công tác đảng, công tác chính trị ở phân đội

Như vậy, nhờ biết phát hiện, nắm bắt và đánh giá được những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn trong quá trình hoạt động mà chính trị viên luôn tự tin, chủ động, sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò là người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị

ở phân đội

Khả năng quán triệt, kế thừa, bảo vệ, phát triển những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, những vấn đề lý luận công tác đảng, công tác chính trị…Năng lực tư

duy lý luận của chính trị viên thể hiện ở việc biết chọn lọc thông tin và biết phân biệt đúng, sai khi tiếp xúc với những luồng thông tin khác nhau, nhất là các luận điệu xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Đồng thời, biết thu thập những thông tin

có liên quan và xử lý những thông tin đó, kịp thời bổ sung và điều chỉnh các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với thực tiễn hoạt động của đơn vị; biết tiếp thu

Trang 33

33 những kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị Thực tiễn hoạt động công tác đảng, công tác chính trị lại cung cấp những dữ liệu mới cho chính trị viên củng cố và phát triển lý luận, nâng cao hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị

Thực tiễn hoạt động quân sự rất đa dạng, phong phú; trong đó, các hoạt động chiến đấu, xây dựng đơn vị, huấn luyện… là những hình thức thực tiễn quân sự cơ bản Hoạt động quân sự diễn ra trong thời gian mau lẹ và chứa đựng những yếu tố bất ngờ Bởi vậy, năng lực tư duy lý luận giúp chính trị viên biết cách xem xét, cũng như biết tổng kết những hoạt động thực tiễn liên quan đến chức trách, nhiệm vụ ở trình độ lý luận Năng lực tổng kết thực tiễn quân sự một cách có lý luận của chính trị viên phản ánh năng lực tư duy lý luận của mỗi người, nên muốn hoạt động lãnh đạo, chỉ huy đạt hiểu quả cao đòi hỏi chính trị viên phải có năng lực tổng kết thực tiễn quân sự tương ứng

Muốn làm tốt công tác giáo dục, thuyết phục, đoàn kết cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị, chính trị viên không những cần phải có đạo đức cách mạng, gương mẫu, nói đi đôi với làm mà còn phải có năng lực thuyết phục, tuyên truyền, giác ngộ mọi người tin theo và chấp hành nghiêm mệnh lệnh chỉ huy Người chính trị viên có năng lực

tư duy lý luận sẽ hiểu đúng chủ trương, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên và biết cách giải thích đúng cho cấp dưới Từ đó, biến chủ trương, đường lối thành hiện

thực, tập hợp, đoàn kết đơn vị thành một khối thống nhất, sẵn sàng nhận và hoàn

thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao

Khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn chủ trì về chính trị và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở trình độ lý luận Xuất phát từ chức trách,

nhiệm vụ của chính trị viên ở phân đội là trực tiếp lãnh đạo, quản lý, chỉ huy phân đội và trực tiếp cụ thể hoá những đường lối, chủ trương, mệnh lệnh của cấp trên và nghị quyết của đơn vị vào thực tế đơn vị mình Năng lực tư duy lý luận giúp chính trị viên có điều kiện thâm nhập vào những vấn đề thực tiễn nảy sinh ở

Trang 34

34 đơn vị, tìm ra được bản chất, tính quy luật, cũng như kịp thời phát hiện những mâu thuẫn cần giải quyết, giúp họ nhận biết những thuận lợi, khó khăn, tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị

Năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy ở đơn vị có tầm quan trọng đặc biệt, biểu hiện ở việc cụ thể hoá chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết của cấp trên, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đơn vị Nhờ đó, chính trị viên biết nắm bắt những vấn đề nảy sinh ở đơn vị, luôn khách quan, toàn diện, nhận thức được

xu thế phát triển tất yếu của tình hình thực tế, từ đó xây dựng quyết tâm, cụ thể hoá các đường lối, chủ trương một cách phù hợp; khơi dậy, phát huy trí tuệ tập thể nâng cao chất lượng lãnh đạo của chi bộ Năng lực tư duy lý luận giúp chính trị viên nâng cao tính nhạy bén trong công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công việc, nâng cao sức lãnh đạo của bản thân đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, nâng cao sức chiến đấu của đơn vị

Năng lực tư duy lý luận của chính trị viên luôn vận động, phát triển, cùng với quá trình đào tạo, bồi dưỡng và trưởng thành thông qua hoạt động

thực tiễn của họ Nâng cao năng lực tư duy lý luận của chính trị viên là quá

trình tác động tích cực, tự giác của các chủ thể làm cho khả năng nhận thức

và giải quyết những vấn đề chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở trình độ lý luận của chính trị viên từng bước được bổ sung, phát triển hoàn thiện

Nâng cao năng lực tư duy lý luận của chính trị viên gắn liền với quá trình trang bị tri thức của nhà trường, bồi dưỡng ở đơn vị và quá trình tự rèn luyện của chính trị viên Đó là cơ sở để chính trị viên hoàn thiện nhân cách, trong đó có năng lực thực tiễn của họ Quá trình nâng cao năng lực tư duy lý luận của chính trị viên dựa trên động lực trực tiếp là nhu cầu hoàn thiện phẩm chất, năng lực để có thể đáp ứng được yêu cầu của người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở phân đội

Trang 35

35

Năng lực tư duy lý luận của chính trị viên dần dần được nâng cao nhờ

việc tiếp thu, tích lũy các kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, kiến thức quân sự và khoa học chuyên ngành xây dựng đảng, vốn tri thức đó có được thông qua quá trình đào tạo và hoạt động bồi dưỡng của đơn

vị Đó là nguồn tri thức căn bản giúp chính trị viên củng cố và phát triển bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, khả năng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch Sự tích lũy tri thức làm cho chính trị viên dần đạt đến trình

độ tư duy khái niệm, phạm trù, quy luật, hình thành nên thế giới quan khoa học

Đó là quá trình phát triển trình độ, phương pháp và khả năng tư duy của chính trị viên ngày càng hoàn thiện

Năng lực tư duy lý luận của chính trị viên phát triển trên cơ sở kế thừa,

bổ sung, cập nhật, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình và vốn tri thức kinh nghiệm đã có để “chế biến” khái quát lên một trình độ mới cao hơn, tri thức lý luận Mặt khác, năng lực tư duy lý luận được nâng cao góp phần quan trọng củng cố những cơ sở khoa học cho tri thức kinh nghiệm Quá trình đó làm cho năng lực tư duy lý luận của họ ngày càng phát triển, đạt tầm khái quát hoá, trừu tượng hoá cao, năng động, nhạy bén và có tính phổ quát rộng lớn hơn, thực sự trở thành hệ thống lý luận giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình

Theo đó, nhờ có năng lực tư duy lý luận mà chính trị viên có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, hệ thống hoá, cụ thể hoá những vấn đề thực tiễn công việc đặt ra Cũng nhờ có năng lực tư duy

lý luận mà chính trị viên có phương pháp trình bày, diễn đạt sự hiểu biết của mình một cách khoa học trước tập thể, đảm bảo tính hệ thống, nhất quán, lôgíc Từ đó, vận dụng sáng tạo, khoa học lý luận công tác đảng, công tác chính trị vào hoạt động công tác tư tưởng, công tác tổ chức , giúp họ thực hiện tốt vai trò chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính

Trang 36

36 trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện Tư duy có vai trò to lớn trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, V.I.Lênin đã khẳng định:

“ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan” [58, tr 228] Điều này cho thấy, thông qua các thao tác

tư duy con người nhận thức đầy đủ hơn về thế giới khách quan Đồng thời, thông qua hoạt động thức tiễn, được chỉ đạo bởi tri thức đúng đắn giúp con người cải tạo hiện thực khách quan phục vụ lợi ích của mình

Nâng cao năng lực tư duy lý luận của chính trị viên được tiến hành bằng

những biện pháp cụ thể trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ Đó

là phát huy tốt vai trò của các chủ thể trong đào tạo, bồi dưỡng chính trị viên, gắn đào tạo với tự đào tạo, tự bồi dưỡng Bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên thông qua hoạt động thực tiễn và coi trọng hoạt động thực tiễn của họ ở đơn vị Vì vấn

đề tính chân lý của tri thức lý luận, của năng lực tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn với hoạt động cải tạo cách mạng của con người

Chính trị viên là người trực tiếp xây dựng các tổ chức đảng và cấp uỷ trong sạch vững mạnh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị làm cho công tác đảng, công tác chính trị trở thành “linh hồn”, “mạch sống” trong phát huy nhân tố chính trị - tinh thần, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội Do đó, chính trị viên phải là người ưu tú, có phẩm chất đạo đức tốt, có tác phong của người cán bộ chuyên trách công tác tư tưởng, công tác tổ chức của Đảng có tính nguyên tắc và tính kỷ luật cao, luôn thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm túc, công bằng, vô tư, độ lượng, chu đáo, luôn coi trọng công tác thuyết phục, nêu gương trong công việc

Quan niệm về nâng cao năng lực thực tiễn của chính trị viên

Năng lực thực tiễn được biểu hiện và gắn với hoạt động của một chủ thể xác định Thực tiễn là hoạt động vật chất tác động vào thế giới khách quan, cải biến thế giới khách quan theo mục đích của chủ thể và diễn ra trong

Trang 37

37 một không gian, thời gian xác định Năng lực thực tiễn là khả năng của chủ thể sử dụng lực lượng vật chất tác động vào thế giới khách quan nhằm cải tạo

tự nhiên, xã hội đáp ứng nhu cầu của họ trong những điều kiện hoàn cảnh, thời gian cụ thể

Từ đó, có thể quan niệm, năng lực thực tiễn là khả năng hoạt động vật

chất của chủ thể giúp họ hoàn thành tốt công việc của mình Năng lực thực tiễn

được cấu thành từ nhiều yếu tố, ở đây, năng lực thực tiễn được tiếp cận ở

những yếu tố cơ bản: khả năng xác định, duy trì mục đích hoạt động trong thực hiện các nhiệm vụ; khả năng khơi dậy, quy tụ và sử dụng lực lượng có hiệu quả

để thực hiện mục đích đã đề ra; khả năng chủ trì, tổ chức, giải quyết những

mâu thuẫn phát sinh trong công việc; khả năng rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh mục đích, cách thức khơi dậy sử dụng lực lượng, phương pháp, hình thức phát hiện giải quyết mâu thuẫn trong quá trình hoạt động vật chất

Chính trị viên là người trực tiếp triển khai công việc đến cán bộ, chiến sĩ nên họ hiểu rõ ý định của cấp trên và thành thạo những công việc ở cấp mình, hoạt động của họ diễn ra trong môi trường đặc thù của hoạt động quân sự, mang tính giai cấp và tính mục đích chính trị sâu sắc Do đó, muốn xây dựng mục tiêu, lý tưởng, củng cố niềm tin cho bộ đội, đòi hỏi chính trị viên phải tiến hành tốt các hoạt động thực tiễn trên cương vị chức trách của mình, cụ thể là tiến hành xây dựng Đảng ở phân đội mình phụ trách; tiến hành tuyên truyền vận động, giáo dục thuyết phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền và tổ chức tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các hoàn cảnh và nhiệm vụ của phân đội Yêu cầu đó đòi hỏi chính trị viên không những phải có bản lĩnh, trí tuệ, mô phạm về đạo đức, hành động; lời nói gắn với việc làm mà còn phải biết tổ chức hài hoà các hoạt động ở đơn vị, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi quân nhân Chỉ có như vậy, chính trị viên mới thực sự là “linh hồn”, “mạch sống” của đơn vị, cảm hoá, chuyển hoá nhận thức, hành động của bộ đội

Trang 38

38

Theo đó, có thể quan niệm: năng lực thực tiễn của chính trị viên là khả

năng tiến hành các hoạt động chủ trì về chính trị, tổ chức tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị giúp họ giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ được giao Năng lực thực tiễn của chính trị viên gắn liền với bản

chất, nội dung công tác đảng, công tác chính trị và chức trách, nhiệm vụ của người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị Năng lực thực tiễn của chính trị viên được biểu hiện trên các khả năng hoạt động riêng của họ:

Khả năng xác định, giữ vững mục đích trong các hoạt động thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị trên cương vị, chức trách là người chủ trì về chính trị

ở phân đội Việc xác định đúng và giữ vững mục đích trong tiến hành các hoạt

động công tác đảng, công tác chính trị trên cương vị chức trách, nhiệm vụ được giao là nội dung cơ bản trước hết về năng lực thực tiễn của chính trị viên Người chính trị viên xác định được mục đích hoạt động, là điều tiên quyết giúp họ hành động đúng, biết hoạt động để làm gì, vì cái gì và làm như thế nào Đó là cơ sở tạo tiền đề vững chắc cho chính trị viên lập kế hoạch, điều tiết kế hoạch, định lượng công việc và triển khai thực hiện được kế hoạch đã đề ra Từ việc xác định đúng mục đích hoạt động, chính trị viên sẽ biết cách xây dựng quy trình, lộ trình thực hiện cũng như biết phân bổ thời gian, cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền vào quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao Xác định đúng mục đích, yêu cầu, nội dung trong tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị thể hiện sự quyết tâm, ý chí đấu tranh của chủ thể trong quá trình khắc phục các lực cản để thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, xác định đúng mục đích, giữ vững mục đích hoạt động trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ là một nội dung căn bản trong năng lực thực tiễn của chính trị viên

Khả năng khơi dậy, quy tụ, sử dụng cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị Trên cơ sở mục

đích đã xác định, chính trị viên căn cứ vào tình hình cụ thể để sử dụng có hiệu quả

Trang 39

39 các lực lượng, phương tiện nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị Biểu hiện ở khả năng tổ chức, bố trí sử dụng cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, lôi cuốn mọi người vào hoạt động sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, huấn luyện và xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật Bố trí và sử dụng đúng lực lượng sẽ phát huy hiệu quả sức mạnh của cá nhân và tập thể vào thực hiện nhiệm vụ chung của đơn vị Công việc thành công hay thất bại chính là nhờ vào năng lực này của chính trị viên Đây

là nhân tố cơ bản của năng lực thực tiễn, giúp chính trị viên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, để biết: “kết hợp tinh thần dân chủ sôi sục, tràn trề, tựa như nước lũ mùa xuân, của quần chúng lao động trong các cuộc mít-tinh với một kỷ

luật sắt trong lao động, với sự phục tùng tuyệt đối trong lao động, đối với ý chí của

một người duy nhất” [57, tr 249]

Kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn của đơn vị, nắm được bản chất mối quan hệ cần phải giải quyết, chính trị viên đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, công tác tổ chức Do đó, yêu cầu chính trị viên cần biết phân tích, nắm được dư luận xã hội

ở đơn vị nhất là khi chuẩn bị thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp đòi hỏi sự vất vả, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Việc nắm dư luận xã hội nhằm kịp thời điều chỉnh những diễn biến tâm lý của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, phục vụ cho quá trình lãnh đạo của chính trị viên và điều hành, quản lý, chỉ huy đơn vị của cán bộ đơn vị nói chung có ý nghĩa rất quan trọng

Khả năng chủ trì, tổ chức, giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình hoạt động thực tiễn thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Chính trị viên

có khả năng nắm bắt, phân tích tình hình hoạt động của đơn vị, dự báo tình hình, kịp thời có biện pháp giáo dục, lãnh đạo nâng cao hiệu quả công việc

Đó chính là khả năng nghiên cứu, phân tích, nhận định, đánh giá tình hình đơn vị, trên cơ sở đó kịp thời đưa ra biện pháp lãnh đạo phù hợp

Trang 40

40

Trên cương vị, chức trách của mình, chính trị viên luôn gặp mâu thuẫn, buộc họ phải biết cách giải quyết để nâng cao hiệu quả công việc Như việc tiến hành công tác tư tưởng trong điều kiện khó khăn ác liệt hoặc những mâu thuẫn phát sinh trong đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, những tình huống phức tạp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dân vận… Để tháo gỡ được những vấn đề

đó, đòi hỏi chính trị viên phải nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết lãnh đạo của cấp trên cũng như nghị quyết lãnh đạo của đơn vị và kiến thức công tác đảng, công tác chính trị hay nói cách khác, phải có năng lực tư duy lý luận cao Cùng với nó, chính trị viên cần sâu sát, bám nắm mọi hoạt động của đơn vị, từng con người cụ thể, biết quyết đoán trong từng công việc cụ thể, gần gũi cán bộ, chiến sĩ, được họ tin yêu, giúp đỡ thì mới đem lại hiệu quả trong công việc

Khả năng kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ trên cương vị chức trách và kịp thời điều chỉnh mục tiêu, lực lượng, cơ sở vật chất của hoạt động thực tiễn Khi đã xác định được mục đích, nội dung hoạt động thì

công tác lãnh đạo, quản lý của chính trị viên biểu hiện ở công tác, giám sát, kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn đơn vị thực hiện quyết định đã đề ra Quá trình giám sát, kiểm tra, đánh giá, đồng thời, là quá trình tự nhận thức lại những hoạt động của bản thân Nội dung này luôn yêu cầu sự nghiêm túc, phương pháp khoa học, thể hiện ý chí quyết tâm, tự kiểm tra, đánh giá, tự so sánh đối chiếu những vấn đề đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ so với mục đích đặt ra Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một

cách, là khéo kiểm soát” [74, tr 287] Trên cơ sở so sánh đối chiếu đó, để tự điều

chỉnh, rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo, chỉ huy ở những lần triển khai thực hiện nhiệm vụ tiếp theo Vì thông qua kiểm tra, giúp chính trị viên nâng cao hiệu quả lãnh đạo, biết được những thuận lợi, khó khăn, đối chiếu

Ngày đăng: 18/10/2023, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1873 - 1883), “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập (t.) 20, Nhà xuất bản (Nxb) Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, trang (tr.) 451 - 826 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1873 - 1883
2. Ph.Ăngghen (1876 - 1878), “Chống Đuyrinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, t. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 9 - 450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1876 - 1878
5. Bộ tự lệnh Quân đoàn 4, Báo cáo tình hình đội ngũ cán bộ chính trị Quân đoàn, Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 6 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình đội ngũ cán bộ chính trị Quân đoàn
Tác giả: Bộ tự lệnh Quân đoàn 4
Nhà XB: Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
6. Bộ Quốc phòng, Chương trình khung giáo dục đại học khối ngành khoa học quân sự, Trình độ đào tạo: đại học, ngành đào tạo: xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, (Ban hành kèm theo Thông tư số: 105/2011/TT-BQP ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình khung giáo dục đại học khối ngành khoa học quân sự
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
9. Nguyễn Thị Thanh Dung (2010), Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Nguyễn Văn Dũng (2012), “Phát triển năng lực tư duy lý luận của chính uỷ trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tư duy lý luận của chính uỷ trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2012
12. Dương Minh Đức (2006), “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Tác giả: Dương Minh Đức
Năm: 2006
13. Nguyễn Bá Dương (2008), Sĩ quan trẻ với tư duy về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập WTO, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sĩ quan trẻ với tư duy về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập WTO
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2008
15. Đảng bộ Học viện Chính trị quân sự (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Học viện Chính trị quân sự, lần thứ XIII, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Học viện Chính trị quân sự, lần thứ XIII
Tác giả: Đảng bộ Học viện Chính trị quân sự
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
22. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1998), Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới, số: 94/NQ - ĐUQSTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 1998
24. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (2006), Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ VIII
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 2006
25. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (2007), Nghị quyết về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới, số 86/NQ - ĐUQSTƯ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2007
26. Đảng uỷ Quân đoàn 4, Nghị quyết về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 6 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân đoàn 4
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
28. Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị (2009), Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
Tác giả: Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w