BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ®inh thÞ h¶i hËu HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ luËn ¸n tiÕn sÜ k[.]
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu của tác giả trong nước về HĐVĐT cho phát triển NNLDL Việt Nam được phân loại thành ba nhóm chính.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Sơn Hải năm 2012 với đề tài
Luận án "Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên" nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực du lịch tại 10 tỉnh khu vực này thông qua phương pháp luận liên ngành Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước tập trung phát triển vùng kinh tế trọng điểm, việc kết hợp giữa phát triển ngành và phát triển vùng là rất quan trọng cho chiến lược quản lý hành chính công Luận án làm rõ các khái niệm, đặc điểm và cơ cấu lao động ngành du lịch, cùng với nội dung quản lý nhà nước liên quan Tác giả đã tiến hành khảo sát xã hội học để cung cấp bằng chứng cho các nhận định và đánh giá, từ đó tăng cường cơ sở pháp lý và giá trị thực tiễn Đồng thời, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và kiến nghị cụ thể cho các bên liên quan nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tại khu vực này.
Bài viết nhấn mạnh sự hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh để triển khai các giải pháp khả thi, nhằm đạt được hiệu quả mong muốn trong lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào phát triển du lịch bền vững tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, mà chưa mở rộng đến phát triển du lịch bền vững cho toàn quốc Việt Nam.
Luận án tiến sĩ kinh tế của Đỗ Thị Thanh Vân, hoàn thành vào năm 2010, tập trung vào đề tài “Giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam.” Nghiên cứu này nhằm đề xuất các phương án hiệu quả để tăng cường nguồn vốn cho lĩnh vực đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.
Luận án đã tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề và vai trò của nguồn vốn đầu tư, trong đó khẳng định nguồn NSNN là chủ đạo Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư cho phát triển đào tạo nghề và tổng kết bài học kinh nghiệm huy động vốn từ một số quốc gia trên thế giới Tác giả đã thu thập dữ liệu và phân tích thực trạng hoạt động đầu tư cho phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2008, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư cho đào tạo nghề tại Việt Nam Tuy nhiên, luận án chưa đề cập đến huy động vốn cho phát triển nguồn nhân lực địa phương ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Chu Văn Yêm năm 2004 với đề tài
“Các giải pháp tài chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010”
Đề tài nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý luận về du lịch và thực trạng phát triển du lịch Việt Nam từ năm 1996 đến 2002, đánh giá những thành tựu đạt được cũng như chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của sự phát triển du lịch Tác giả đã chỉ ra rằng các giải pháp tài chính mà ngành Du lịch Việt Nam áp dụng chưa đạt hiệu quả cao Dựa trên thực trạng này, một số giải pháp tài chính đã được đề xuất nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, bao gồm tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và các giải pháp về tín dụng, bảo hiểm Tuy nhiên, luận án chủ yếu tập trung vào giải pháp tài chính cho du lịch nói chung mà chưa đi sâu vào hoạt động văn hóa, dịch vụ du lịch cụ thể.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bằng năm 1996 với đề tài
“Những giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành Du lịch
Việt Nam” [3] Luận án đã đề cập đến cơ sở lý luận về vốn đầu tư, các kênh
HĐVĐT và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho phát triển du lịch là những vấn đề quan trọng Tác giả đã phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư cho du lịch trước năm 1996, đồng thời đề xuất các giải pháp cho giai đoạn đến năm 2005 Tuy nhiên, nội dung luận án chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước 2005 và chưa đề cập đến HĐVĐT cho phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Hệ thống chính sách đầu tư, tài chính ngành
VHTTDL và gia đình hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, yêu cầu những giải pháp hiệu quả để phát triển bền vững Nghiên cứu của Hồ Việt Hà cùng nhóm tác giả vào năm 2013 đã chỉ ra thực trạng và những vấn đề cần giải quyết trong mối quan hệ giữa văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình Việc nâng cao nhận thức và xây dựng các chương trình hỗ trợ là cần thiết để cải thiện tình hình hiện tại.
Bài viết phân tích vai trò của chính sách đầu tư và tài chính trong sự phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) và gia đình hiện nay Nó giới thiệu các tiêu chí đánh giá quy định pháp lý về đầu tư và tài chính trong ngành này, đồng thời tổng quan kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng và thực thi chính sách đầu tư, tài chính để quản lý và phát triển VHTTDL và gia đình, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Bài viết cũng rà soát và đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, tài chính trong lĩnh vực VHTTDL và gia đình, phân tích những ưu điểm và hạn chế của chính sách hiện tại, cùng nguyên nhân của những bất cập đó Đặc biệt, nó đánh giá tình hình đầu tư và tài chính của ngành VHTTDL và gia đình giai đoạn 2006 – 2013, tập trung vào nguồn ngân sách nhà nước và các hình thức đầu tư xã hội hóa Cuối cùng, bài viết đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách đầu tư, tài chính cho ngành VHTTDL và gia đình, nhưng chưa đề cập đến chính sách đầu tư cho ngành nghệ thuật dân tộc.
Đề tài khoa học cấp Bộ "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch" được thực hiện vào năm 2006, nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả cho việc đầu tư và phát triển khu du lịch Nội dung chính của đề tài tập trung vào việc phân tích tình hình hiện tại và đề xuất các chiến lược phù hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Bài viết trình bày ba chương về lý luận và thực tiễn đầu tư phát triển khu du lịch, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng quản lý và đầu tư du lịch tại Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp thu hút đầu tư Trước năm 2006, đầu tư du lịch chỉ tập trung vào một số khu vực có tài nguyên hấp dẫn và hạ tầng phát triển, do thiếu cơ chế khuyến khích đầu tư Để khắc phục tình trạng mất cân đối trong đầu tư, các tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp khuyến khích đầu tư ban đầu nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng thời gian lưu trú và giảm tính mùa vụ Đề tài cũng đưa ra định hướng phát triển các chỉ tiêu du lịch chủ yếu và phát triển các trọng điểm du lịch cùng các khu du lịch tại Việt Nam.
Nhóm giải pháp khuyến khích và thu hút đầu tư xây dựng các khu du lịch ở Việt Nam bao gồm: tổ chức và quản lý các khu du lịch; xây dựng, quản lý và thực hiện quy hoạch; quyền sử dụng đất đai; đầu tư phát triển; huy động nguồn vốn; cơ chế chính sách tài chính và thuế; phối hợp liên ngành và liên vùng trong khai thác tài nguyên; cải cách thủ tục hành chính; hỗ trợ cộng đồng tham gia phát triển; và đầu tư bảo tồn giá trị tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến đầu tư phát triển ngành du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở khoa học, thực tiễn và giải pháp thực hiện xã hội hóa du lịch Việt Nam” được thực hiện vào năm 2002, nhằm xác định cơ sở lý luận và nội dung của xã hội hóa du lịch Nghiên cứu tập trung vào các chính sách và hoạt động thực tiễn liên quan đến xã hội hóa trong lĩnh vực sản xuất du lịch, đồng thời phân tích các vấn đề tồn tại trong ngành Đề tài được chia thành ba chương, bao gồm cơ sở lý luận về xã hội hóa, thực trạng xã hội hóa du lịch tại Việt Nam và những giải pháp cần thiết cho việc triển khai thành công công cuộc này.
Đề tài nghiên cứu xã hội hóa du lịch đã tổng hợp các nguồn tư liệu và kinh nghiệm trong nước và quốc tế, đưa ra khái niệm và nguyên tắc quan trọng trong thực hiện xã hội hóa du lịch Nội dung xã hội hóa bao gồm đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch, tổ chức cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên môi trường, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, và các hoạt động quảng cáo, xúc tiến du lịch Đề tài đánh giá thực trạng xã hội hóa du lịch tại Việt Nam qua các chỉ tiêu như môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế xã hội và hoạt động kinh doanh Từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp thực hiện xã hội hóa du lịch, phân thành 5 nhóm chính: cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, hành chính, quảng bá xúc tiến, và hình thành hiệp hội nhằm tăng cường xã hội hóa du lịch Tuy nhiên, đề tài chủ yếu tập trung vào giải pháp xã hội hóa du lịch chung mà chưa đề cập đến xã hội hóa cho nông nghiệp lâm nghiệp du lịch.
Bài báo “Phát triển nguồn nhân lực dựa trên các chiến lược kinh tế” của tác giả Phùng Lê Dung và Đỗ Hoàng Điệp, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 2/2009, phân tích tác động của việc thiếu hụt nhân lực chất lượng tại Việt Nam, dẫn đến giảm sức cạnh tranh kinh tế và khó khăn trong việc thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình trong ASEAN Tác giả nêu thực trạng phát triển nguồn nhân lực và đề xuất giải pháp gắn kết chiến lược phát triển nhân lực với kinh tế, bao gồm đào tạo theo nhu cầu xã hội và hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường Tuy nhiên, bài báo chưa đề cập đến phát triển nguồn nhân lực địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Bài báo "Human Resource Development in the Tourism Sector in Asia" của tác giả Soh, Juliana Kheng Mei, đăng trên Tạp chí The Berkeley Electronic Press năm 2008, phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch ở Châu Á qua các quốc gia như Singapore, Macau, Trung Quốc và Thái Lan Tác giả dự báo doanh thu du lịch, số lượng khách và lao động trong ngành du lịch vào năm 2015, đồng thời chỉ ra những thách thức lớn mà Châu Á phải đối mặt, bao gồm kỹ năng tay nghề, sự thiếu hụt lao động du lịch và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo Bài báo nhấn mạnh sự thiếu kết nối giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động, cũng như việc chưa tạo ra cơ hội học tập suốt đời cho lực lượng lao động Từ đó, tác giả đề xuất chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch cho khu vực và các quốc gia cụ thể Bài báo khẳng định rằng doanh thu từ du lịch đang gia tăng mạnh mẽ ở Châu Á, đóng góp đáng kể vào GDP của nhiều quốc gia, và nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm tình trạng thiếu nhân lực có tay nghề cao trong ngành du lịch.
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cho đề tài Luận án
Các công trình nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở mức độ tổng quát về nhân lực, du lịch, đội ngũ trí thức, và nguồn nhân lực địa phương cho phát triển đào tạo nghề, cũng như chính sách tài chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình Chưa có nghiên cứu nào đi sâu và hệ thống về cơ sở lý luận của hoạt động văn hóa, thể thao cho phát triển nguồn nhân lực địa phương.
Các nghiên cứu hiện tại chỉ nêu bật thực trạng du lịch, nguồn nhân lực và chính sách tài chính liên quan đến văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình tại Việt Nam, cùng với việc huy động và sử dụng vốn cho phát triển du lịch trước năm 1996 Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng hoạt động vận động tài chính cho phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Hệ thống giải pháp từ các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào các khía cạnh vĩ mô như tài chính phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, giải pháp HĐVĐT cho đào tạo nghề, và phát triển NNLDL của một vùng Tuy nhiên, vẫn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và cụ thể về việc tăng cường HĐVĐT nhằm phát triển NNLDL Việt Nam đến năm 2020.
Luận án này nhằm hệ thống hoá và phát triển các khái niệm lý luận về hoạt động vận động thể dục thể thao (HĐVĐT) trong phát triển nông nghiệp lâm nghiệp (NNLDL) tại Việt Nam Bên cạnh đó, nó còn tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực HĐVĐT cho phát triển NNLDL, đồng thời phân tích thực trạng HĐVĐT tại Việt Nam từ năm trước đây.
2006 đến năm 2013; đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường HĐVĐT cho phát triển NNLDL Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
Phát triển nguồn nhân lực du lịch trong điều kiện hội nhập
1.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, có những quan niệm khác nhau về HNKTQT Chỉ riêng về thuật ngữ, người ta sử dụng những từ ngữ tương tự nhau về hàm ý, như là
"liên kết kinh tế quốc tế”, "HNKTQT”, "toàn cầu hoá kinh tế” Các thuật ngữ
"liên kết kinh tế quốc tế” và "HNKTQT” thường được sử dụng khi nói về chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia
Trong cuốn sách “Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện HNKTQT”, HNKTQT được định nghĩa là quá trình kết nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế toàn cầu, tham gia vào phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức quốc tế và tuân thủ các quy định chung.
Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là quá trình mà các quốc gia kết nối nền kinh tế của mình với các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, theo đó các nước thành viên phải tuân thủ các quy định chung HNKTQT thể hiện mô hình kinh tế mở, trong đó các quốc gia tự nguyện tham gia vào các định chế và tài chính quốc tế, nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Tác giả chọn khái niệm HNKTQT của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm cơ sở nghiên cứu
1.1.1.2 Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế
HNKTQT là xu hướng phát triển không thể tránh khỏi của các nền kinh tế toàn cầu, liên quan chặt chẽ đến quá trình toàn cầu hóa và khu vực Bản chất của HNKTQT thể hiện sự kết nối và tương tác giữa các nền kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế.
HNKTQT là quá trình hợp tác và cạnh tranh phức tạp, nhằm giảm thiểu và xóa bỏ rào cản thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa Quá trình này tạo ra điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp du lịch, thúc đẩy đổi mới và tăng khả năng cạnh tranh HNKTQT cũng điều chỉnh chính sách quốc gia về nguồn lực du lịch và huy động vốn phát triển Đồng thời, nó mở rộng khai thác, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho việc mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
1.1.1.3 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
Nội dung chủ yếu của quá trình HNKTQT bao gồm:
Ký kết và tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế là bước quan trọng để xây dựng luật chơi chung, đồng thời thực hiện các quy định và cam kết đối với các thành viên của những tổ chức này.
Để đạt được mục tiêu hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế, cần tiến hành các công việc cần thiết trong nước và trên vùng lãnh thổ của mình.
Nội dung cơ bản của mỗi quốc gia khi tham gia HNKTQT:
- Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào quan thuế và phi thuế quan
- Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phù hợp với quá trình tự do hoá và mở cửa
- Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là cải cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh
Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực là rất quan trọng, đặc biệt là cho đội ngũ công chức, nhân lực quản trị doanh nghiệp và lực lượng lao động trực tiếp có tay nghề Điều này nhằm đảm bảo rằng họ có thể đáp ứng tốt các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế.
1.1.2 Nguồn nhân lực du lịch
1.1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về du lịch
Du lịch đã có mặt từ lâu trong lịch sử nhân loại và đang phát triển nhanh chóng, trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển, bao gồm Việt Nam Sự phát triển của du lịch dẫn đến những hiểu biết khác nhau về nó, phụ thuộc vào hoàn cảnh thời gian, khu vực và góc độ nghiên cứu của từng người.
Du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào các cách tiếp cận đa dạng, sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các quốc gia và đặc thù riêng của ngành này.
Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một hoạt động kinh tế quan trọng, làm phong phú thêm cuộc sống con người Theo Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), du lịch được định nghĩa là các hoạt động của những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm để vui chơi, làm việc hoặc vì lý do khác không liên quan đến việc kiếm tiền tại điểm đến Du lịch kết hợp các hoạt động của người tham gia với giá trị của tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, nhằm tạo ra sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tại Việt Nam, du lịch được hiểu qua hai khía cạnh khác nhau, theo quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam cung cấp những định nghĩa đa dạng về lĩnh vực này.
Du lịch là hoạt động nghỉ dưỡng và tham quan của con người tại những địa điểm ngoài nơi cư trú, nhằm mục đích thư giãn, giải trí và khám phá các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử cũng như các công trình văn hóa nghệ thuật.
Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng cường tình yêu đất nước Đối với người nước ngoài, du lịch cũng thúc đẩy tình hữu nghị với dân tộc mình Về mặt kinh tế, du lịch được xem như một hình thức xuất khẩu dịch vụ, hàng hóa tại chỗ, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế.
Luật Du lịch đã đưa ra một khái niệm thống nhất về du lịch tại Việt Nam Theo quy định, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Luật Du lịch định nghĩa du lịch như một chuyến đi ra ngoài nơi cư trú với mục đích tham quan và nghỉ dưỡng, cùng với các hoạt động liên quan đến chuyến đi Khái niệm này sẽ được sử dụng làm cơ sở cho nghiên cứu trong luận án.
Huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch
DU LỊCH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.2.1 Vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch
Khái niệm vốn đầu tư
Vốn là biểu hiện bằng tiền và giá trị của tài sản, đóng vai trò quan trọng trong quá trình kinh doanh Nó không chỉ thể hiện giá trị mà còn đại diện cho hàng hóa và dịch vụ cụ thể Để thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, cần có một lượng vốn nhất định, dù là vật chất hay tài chính Vốn được coi là nguồn lực thiết yếu quyết định sự phát triển bền vững và nhanh chóng của nền kinh tế.
Vốn là khái niệm tích lũy, có thể xác định tại một thời điểm cụ thể, trong khi “đầu tư” thể hiện sự chuyển động, lưu lượng trong một khoảng thời gian Vốn đầu tư đề cập đến số vốn được sử dụng cho các hoạt động đầu tư nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận trong một thời gian nhất định.
Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản hợp pháp khác, được sử dụng để thực hiện các hoạt động đầu tư thông qua hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp.
Vốn đầu tư được hiểu là tổng số tiền và tài sản hợp pháp được sử dụng để thực hiện hoạt động đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua hai hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Phân loại vốn đầu tư
Vốn đầu tư được phân loại dựa trên thời hạn thu hồi thành hai loại: vốn đầu tư ngắn hạn và vốn đầu tư dài hạn Cụ thể, vốn đầu tư ngắn hạn là khoản đầu tư có thời gian thu hồi từ 1 năm trở xuống, trong khi vốn đầu tư dài hạn là khoản đầu tư có thời gian thu hồi trên 1 năm.
- Căn cứ vào tính chất đầu tư, vốn đầu tư chia thành vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư gián tiếp
Vốn đầu tư trực tiếp là nguồn vốn mà nhà đầu tư sử dụng để đầu tư vào các dự án và tham gia trực tiếp vào việc quản lý các hoạt động đầu tư đó.
Vốn đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư vào dự án thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác từ quỹ đầu tư chứng khoán, cũng như thông qua các định chế tài chính trung gian Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư trong hình thức này.
- Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn đầu tư chia thành vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư ngoài nước
Vốn đầu tư trong nước tại Việt Nam là việc nhà đầu tư sử dụng tiền và tài sản hợp pháp để thực hiện hoạt động đầu tư Các nguồn vốn này bao gồm ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ doanh nghiệp và vốn tư nhân.
+ Vốn đầu tư ngoài nước là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư
Vốn đầu tư ngoài nước bao gồm nhiều nguồn khác nhau, trong đó tài trợ phát triển chính thức (ODF) là chủ yếu, với viện trợ phát triển chính thức (ODA) chiếm tỷ trọng lớn Ngoài ra, còn có nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế.
Luận án sử dụng cách phân loại vốn đầu tư theo nguồn hình thành để nghiên cứu
1.2.1.2 Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch Đầu tư phát triển là những hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại để làm tăng thêm các tài sản vật chất, vốn nhân lực và tài sản trí tuệ hoặc duy trì sự hoạt động của tài sản vật chất và vốn nhân lực [28] Như vậy, đầu tư phát triển NNLDL là hoạt động sử dụng toàn bộ tiền và tài sản hợp pháp khác để làm tăng thêm hoặc duy trì số lượng,chất lượng NNLDL Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nói chung và đầu tư phát triển NNLDL nói riêng có đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác thể hiện trên các mặt: 1) Đầu tư phát triển NNLDL không đơn thuần là làm tăng thu nhập cho nhà đầu tư mà còn nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội khác và tạo nguồn lực cho phát triển du lịch và nền kinh tế; 2) Đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển NNLDL phải dựa trên quan điểm kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn
Để đầu tư và phát triển nông nghiệp nông thôn, cần có nguồn vốn Vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn bao gồm toàn bộ tiền và tài sản hợp pháp được sử dụng để tăng cường hoặc duy trì số lượng và chất lượng nông sản trong một khoảng thời gian nhất định.
1.2.1.3 Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch
Nhu cầu vốn đầu tư là số tiền và tài sản hợp pháp cần thiết cho các hoạt động đầu tư Để xác định nhu cầu này, nhà đầu tư cần xem xét cả tiền và tài sản đảm bảo cho hoạt động đầu tư Đối với phát triển nông nghiệp lâm nghiệp và du lịch (NNLDL), việc xác định nhu cầu vốn đầu tư dựa vào mục tiêu phát triển và tỷ trọng các nguồn vốn khác nhau Quy mô đầu tư trong lĩnh vực NNLDL sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vốn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp lâm nghiệp được xác định qua hai phương pháp: gián tiếp và trực tiếp Cần phân tích nguồn hình thành để xác định nhu cầu vốn đầu tư trong nước và ngoài nước Nhu cầu vốn trong nước bao gồm ngân sách nhà nước, đóng góp của dân và nguồn vốn xã hội hóa Trong các hoạt động đầu tư mà nhà nước chủ đạo, vốn từ ngân sách nhà nước thường chiếm tỷ trọng lớn Ngoài ra, việc xác định nhu cầu vốn cũng cần xem xét vốn bình quân trên mỗi nhân lực du lịch, số lượng nhân lực du lịch, mức đóng góp từ đào tạo và nhu cầu vốn xã hội hóa.
Nhu cầu vốn đầu tư ngoài nước bao gồm nhiều hình thức, như vốn tài trợ phát triển chính thức, vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế.
1.2.2 Đặc điểm huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch
HĐVĐT là tổng hợp các biện pháp nhằm khai thác và tập trung nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, phục vụ nhu cầu của nhà nước và xã hội Qua đó, HĐVĐT trong phát triển NNLDL là quá trình tổ chức và tập trung nguồn vốn đầu tư cho ngành Du lịch và quốc gia.
HĐVĐT cho phát triển NNLDL có những đặc điểm sau:
Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch của một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học vận dụng cho Việt Nam
VÀ RÚT RA BÀI HỌC VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Thái Lan
Du lịch Thái Lan đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch và đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp Để thúc đẩy ngành du lịch, Thái Lan đã huy động các nguồn lực từ Chính phủ, xã hội hóa và vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn từ xã hội hóa được huy động tối đa từ sự liên kết giữa
CSĐTDL và nguồn nhân lực du lịch tại Thái Lan được phát triển thông qua sự hợp tác giữa Chính phủ và khu vực tư nhân Các doanh nghiệp du lịch cần đầu tư chi phí để sử dụng và đào tạo lại nhân lực từ CSĐTDL, nhằm nâng cao kỹ năng cho nhân viên Để thu hút vốn cho phát triển nguồn nhân lực du lịch, Thái Lan đã thiết lập mối liên kết giữa giáo dục, đào tạo nghề, các hệ thống CSĐTDL và doanh nghiệp du lịch, cũng như giữa Chính phủ và khu vực tư nhân trong lĩnh vực đào tạo nghề du lịch.
Thái Lan đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội hóa trong việc đào tạo "tại chỗ" cho các doanh nghiệp du lịch Quốc gia này chú trọng vào giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật nghiệp vụ du lịch, đặc biệt là việc nâng cao kỹ năng thực hành phục vụ du lịch Chính sách khuyến khích đào tạo nội bộ cũng là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch của Thái Lan.
Thái Lan đã tận dụng nguồn vốn từ nước ngoài thông qua việc tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch Quốc gia này cũng chú trọng phối hợp liên ngành để phát triển ngành du lịch, với sự tham gia tích cực của các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế và quy định Các đại diện được cử vào các Ủy ban liên ngành nhằm quản lý, giám sát hoạt động và kịp thời điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch Thái Lan.
1.3.1.2 Kinh nghiệm HĐVĐT cho phát triển NNLDL ở Singapore
Singapore đã tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển du lịch, đồng thời kết hợp với nguồn vốn đầu tư từ Chính phủ và nguồn vốn xã hội hóa để nâng cao hiệu quả của ngành du lịch.
Singapore đang chuẩn bị cho sự gia tăng nhu cầu nhân lực trong ngành du lịch Để đáp ứng yêu cầu này, Chính phủ Singapore đã đầu tư 360 triệu đô la từ năm 2008 đến năm 2011 cho công tác đào tạo.
Singapore hiện có 74.000 nhân lực trong ngành du lịch, với 60.000 việc làm mới được tạo ra vào năm 2011 nhờ vào sự gia tăng lượng khách du lịch Được xem là hình mẫu phát triển nguồn nhân lực trong khu vực Đông Nam Á, hơn 80% người lao động trong lĩnh vực du lịch và khách sạn tại Singapore Mức lương khởi điểm cho người mới tốt nghiệp là 2.500 USD/tháng, cho thấy nhu cầu đào tạo chuyên môn trong ngành du lịch rất cao Dự báo, tổng thu du lịch của Singapore sẽ đạt 30 tỷ USD vào năm 2015, gấp ba lần so với năm 2004, trong khi số lượt khách du lịch tăng từ 8 triệu lên 17 triệu trong cùng thời gian.
Singapore đã thu hút nguồn vốn quốc tế thông qua các chính sách hấp dẫn cho sinh viên quốc tế, như miễn visa, không yêu cầu chứng minh tài chính, và chi phí học tập hợp lý Chính phủ chỉ đầu tư vào một số trường công lập nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục cao, đồng thời áp dụng chính sách tín dụng phù hợp để phát triển nhân tài Đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập, Chính phủ khuyến khích liên kết quốc tế và mời gọi các trường đại học toàn cầu thiết lập chi nhánh tại Singapore.
Singapore huy động vốn từ nguồn xã hội hóa, bao gồm học viên và nhân viên ngành Du lịch, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và cải thiện hình ảnh của ngành Để phát triển nguồn nhân lực du lịch, Singapore thực hiện ba phương pháp: đào tạo lại cho người đã đi làm, đào tạo trước khi làm việc cho sinh viên, và phát triển ngành để thu hút lao động địa phương Ngành Du lịch tại đây chú trọng công tác đào tạo và huấn luyện nghề nghiệp cho nhân sự, với các trường đào tạo chuyên ngành cung cấp khóa học từ cấp thấp đến quản lý cao, bao gồm các chuyên ngành như pha chế rượu, quản lý nhà hàng - khách sạn, và ngoại ngữ Mục tiêu cuối cùng là tạo ra nguồn nhân lực tài năng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khách hàng trong mọi điều kiện.
Ngành du lịch tại Singapore thu hút nhiều người do GDP bình quân đầu người cao gấp 17 lần Việt Nam vào năm 2012, khiến cho những người theo học nghiệp vụ du lịch sẵn sàng chi trả học phí cao để có được công việc với mức lương hấp dẫn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở đào tạo du lịch phát triển nguồn nhân lực du lịch tại Singapore.
1.3.1.3 Kinh nghiệm HĐVĐT cho phát triển NNLDL ở Nhật Bản
Nguồn vốn phát triển ngành du lịch Nhật Bản được huy động từ cả nhà nước và tư nhân, với ba khu vực chính: quốc gia, tư thục và địa phương Nhật Bản đã thành lập các trường dạy nghề du lịch và tổ chức khóa đào tạo ngay từ cấp trung học, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển ngành du lịch Hệ thống đại học và sau đại học chuyên về du lịch cũng đã được thiết lập, trong khi các cơ sở đào tạo tư thục ngày càng phát triển mạnh mẽ Chính phủ Nhật Bản đầu tư khoảng 15 tỉ USD cho phát triển ngành du lịch, với ngân sách hàng năm khoảng 7 tỉ USD, đồng thời tổ chức các hệ thống đào tạo công cộng qua các trung tâm phát triển việc làm Chính phủ hỗ trợ từ 1/3 đến 1/2 chi phí học phí cho hệ thống đào tạo công cộng và trợ cấp lương cho người lao động Hiệp hội đào tạo nghề và công nghiệp Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nghề du lịch tại khu vực tư nhân, với chi phí đào tạo chủ yếu do thành viên và người học đóng góp.
Nguồn vốn xã hội hóa cho phát triển nguồn nhân lực du lịch (NNLDL) ở Nhật Bản chủ yếu được huy động qua đào tạo “tại chỗ” của các doanh nghiệp du lịch Có ba hình thức đào tạo cơ bản trong phát triển NNLDL: đào tạo công cộng, đào tạo doanh nghiệp và tự đào tạo, trong đó đào tạo “tại chỗ” được các doanh nghiệp du lịch đặc biệt coi trọng Đối với các nghề giản đơn như phục vụ buồng, giặt là, và phục vụ nhà hàng, huấn luyện tại vị trí công việc là chính, kèm theo cơ chế khuyến khích tự học và phát triển nghề nghiệp Vai trò của Chính phủ thể hiện qua mối quan hệ với doanh nghiệp và người lao động, cùng với việc xây dựng khung pháp lý và kế hoạch hỗ trợ phát triển năng lực lao động Các doanh nghiệp lớn phát triển NNLDL ở khu vực tư nhân một cách độc lập, với chương trình đào tạo hệ thống Doanh nghiệp du lịch đầu tư vào đào tạo lại nhân lực qua hai hình thức: đào tạo cho nhân lực mới và đào tạo suốt đời, trong đó đào tạo cho nhân lực mới phổ biến hơn ở các doanh nghiệp lớn Hình thức đào tạo suốt đời có phạm vi rộng, mang tính dài hạn và được thực hiện theo từng giai đoạn một cách hệ thống.
1.3.1.4 Kinh nghiệm HĐVĐT cho phát triển NNLDL ở Trung Quốc Để đào tạo NNLDL, Trung Quốc đã có những chính sách gắn kết CSĐTDL và doanh nghiệp Quy mô đào tạo của các CSĐTDL phần lớn được quyết định bởi quá trình và mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nên chi phí đào tạo được giảm bớt rất nhiều Nếu doanh nghiệp dành 60% lợi nhuận đầu tư cho trang thiết bị đào tạo thì sẽ được ưu đãi về thuế Để đẩy mạnh xã hội hóa du lịch, nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật công nhận các trường đào tạo công lập và dân lập đều có địa vị pháp lý như nhau Một loạt các chính sách khuyến khích thành lập trường dân lập như khen thưởng, biểu dương với các cá nhân bỏ vốn thành lập, quyên tặng tài sản được ban hành Khuyến khích cơ cấu tài chính theo phương thức cho vay, ưu đãi, tạo điều kiện cho trường dân lập được sử dụng đất đai phục vụ sự nghiệp công và kiến thiết [70]
1.3.2 Bài học vận dụng cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm phát triển NNLDL ở các nước nói trên, có thể rút ra một số bài học vận dụng cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất, tăng cường huy động vốn xã hội hóa từ hoạt động đào tạo du lịch
Hầu hết các quốc gia đã chuyển đổi vai trò của Chính phủ từ người thực hiện chính sang người tạo điều kiện Chính phủ cần thiết lập cơ chế ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở dữ liệu du lịch Ngược lại, những doanh nghiệp không tham gia đào tạo du lịch sẽ phải đóng góp phí đào tạo hoặc thuế cho việc sử dụng lao động du lịch đã qua đào tạo từ cơ sở dữ liệu du lịch.
Nhà nước đã thành lập Quỹ phát triển NNLDL để cung cấp tài chính cho cấp giáo dục bắt buộc, chủ yếu thông qua việc phát triển và quản lý hệ thống trường công lập Quỹ cũng đóng góp một tỷ lệ ban đầu cho việc phát triển nguồn nhân lực Các cơ sở đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt là các cơ sở đào tạo nghề địa phương, hoạt động theo nguyên tắc bồi hoàn kinh phí.
+ Ban hành chính sách về học phí theo từng ngành nghề đào tạo du lịch để đảm bảo bù đắp được chi phí đào tạo