1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh niên quân đội nhân dân việt nam giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay

181 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh niên quân đội nhân dân việt nam giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Tùng
Người hướng dẫn TS Nguyễn Đức Tiến, TS Lưu Ngọc Khải
Trường học Học viện Chính trị
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu ở trong nước * Văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ t

Trang 1

-   -

NGUYÔN V¡N TïNG

THANH NI£N QU¢N §éI NH¢N D¢N VIÖT NAM GI÷ G×N B¶N S¾C V¡N HO¸ D¢N TéC TRONG

HéI NHËP QUèC TÕ HIÖN NAY

LUËN ¸N TIÕN SÜ TRIÕT HäC

Hµ NéI - 2011

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

BỘ QUỐC PHÕNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

-   -

NGUYỄN VĂN TÙNG

THANH NI£N QU¢N §éI NH¢N D¢N VIÖT NAM GI÷ G×N B¶N S¾C V¡N HO¸ D¢N TéC TRONG

HéI NHËP QUèC TÕ HIÖN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 3

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn

¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc xuÊt xø râ rµng

Tác giả luận án

Trang 4

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN

TỘC VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN

2.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và tác động của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam 24 2.2 Thực chất giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 59

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG HỘI NHẬP

3.1 Thực trạng thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế và nguyên

3.2 Những nhân tố tác động và một số vấn đề đặt ra đối với thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 114

Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT

HUY VAI TRÒ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

4.1 Phương hướng phát huy vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc

4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 133

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 163

Trang 5

Số thứ tự Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

Bản sắc văn hoá dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa Chính trị quốc gia

Chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Diễn biến hoà bình

Đảng Cộng sản Việt nam Hội nhập quốc tế

Khoa học xã hội, nhân văn Nhà xuất bản

Quân đội nhân dân Việt nam Thanh niên quân đội

Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam Trang

Xã hội chủ nghĩa

BSVHDT BSVHDTVN CMXHCN CTQG CNCS CNĐQ CNXH CNH, HĐH DBHB ĐCSVN HNQT KHXH, NV Nxb

QĐNDVN TNQĐ TNQĐNDVN

Tr

XHCN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản sắc văn hoá dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hoá, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Những giá trị của BSVHDT là một trong những động lực to lớn đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc BSVHDT Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước và quá trình xây dựng CNXH Bản sắc đó thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, được bao thế hệ vun đắp, hun đúc tạo nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tồn tại, không ngừng lớn mạnh và phát triển bền vững Nó là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam, là nguồn sức mạnh vô địch đảm bảo cho dân tộc Việt Nam trường tồn, phát triển trong mọi thời đại lịch sử

Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” diễn ra trong xu thế HNQT ngày càng sâu rộng Bên cạnh những thời cơ cần tận dụng để phát triển, đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về nguy cơ nhạt dần, dẫn đến mất BSVHDT Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải tìm lời giải để vừa tích cực HNQT phát triển đất nước, vừa phải chú trọng giữ gìn BSVHDT Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới Bởi lẽ, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng HNQT, sử dụng nhiều thủ đoạn mới tinh vi trong chiến lược “DBHB” để chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có trọng điểm chúng

ưu tiên là làm phai nhạt lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ thông qua tuyên truyền, thâm nhập văn hoá phẩm độc hại, từng bước phủ nhận hệ giá trị của BSVHDT Chúng phá hoại mối đoàn kết quân dân, phủ nhận những thành quả cách mạng hào hùng của thế hệ cha anh, sử dụng thủ đoạn “phi chính trị hoá

Trang 7

quân đội”, tạo ra sự “vô cảm về chính trị” nhằm từng bước thực hiện ý đồ: “dùng cộng sản con diệt cộng sản cha”, phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta

Thanh niên QĐNDVN là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó cho quân đội Họ là lực lượng

cơ bản giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và của nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay Trước đây trong chiến tranh giải phóng dân tộc, tuổi trẻ quân đội đã kế thừa, phát huy cao độ BSVHDT, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thấm nhuần sâu sắc lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, khắc phục mọi khó khăn, chiến đấu và chiến thắng mọi

kẻ thù, xây dựng nên truyền thống “Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[72, tr.351-352] Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN diễn ra trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng, với những biến động phức tạp khó lường đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi TNQĐ không chỉ có bản lĩnh chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ quân sự, mà còn phải tinh thông về văn hoá, tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Thực trạng những năm gần đây, phần lớn TNQĐNDVN đã phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần quan trọng vào giữ gìn BSVHDT và bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” Tuy nhiên, TNQĐNDVN cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức, về hiệu quả trong thực hiện giữ gìn BSVHDT Một

bộ phận TNQĐ có những biểu hiện sai lệch chuẩn mực giá trị về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Hiện trạng đó, nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm phai nhạt, xói mòn hệ giá trị chuẩn mực trong BSVHDT, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất, truyền thống quân đội, đến hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn cách mạng mới

Trang 8

Tình hình trên đây đang đặt ra những yêu cầu mới hết sức cấp thiết về lý luận, thực tiễn phải nghiên cứu, luận giải, đề ra những giải pháp mang tính khả thi, đảm bảo cho TNQĐNDVN phát huy hơn nữa vai trò người “chiến sĩ văn hoá” Nâng cao nhận thức, hành động tham gia giữ gìn BSVHDT, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện lịch sử mới

Với những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Thanh niên Quân đội nhân dân

Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu của luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Mục đích:

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay, đề xuất phương hướng và một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò thanh niên QĐNDVN tham gia giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong HNQT hiện nay

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TNQĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu của luận án là thanh niên QĐNDVN, nhưng chủ yếu tập trung ở các đơn vị chủ lực và học viên đào tạo sĩ quan trong các nhà trường quân đội khu vực phía bắc của nước ta, thời gian khảo sát chủ yếu từ 2001 đến nay

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia…

5 Những đóng góp về khoa học của luận án

Làm rõ quan niệm về giữ gìn BSVHDT và vai trò thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

Đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra đối với thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của thanh niên

QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Cung cấp một số vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò của thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

Góp phần giúp lãnh đạo chỉ huy trực tiếp quản lý lực lượng TNQĐ, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để phát huy vai trò của TNQĐ giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học, trong nghiên cứu khoa học ở các học viện, nhà trường và đơn vị cơ sở QĐNDVN

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (8 tiết); kết luận; danh mục công trình khoa học đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những vấn đề có liên quan đến đề tài đã được nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

* Văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng nước ta, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta ngay từ đầu đã khẳng định vị trí vai trò và tầm quan trọng của văn hoá với sự nghiệp cách mạng, với sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, khẳng định và đề cao sức mạnh dân tộc, BSVHDT trong tiến trình cách mạng, coi đây là yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng ở mọi giai đoạn

Từ việc nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của văn hoá với sự phát triển xã hội, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tầm nhìn cách mạng

và khoa học về chiến lược văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, coi đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài Trong đường lối chung lãnh đạo cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đều có chiến lược, định hướng phát triển văn hoá phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng Giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc, ngay khi cách mạng chưa thành công Đảng đã đề ra “Đề cương văn hoá Việt Nam” năm 1943 với đặc trưng cơ bản của nền văn hoá “Dân tộc- khoa học- đại chúng” Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình, nêu lên những nhiệm vụ cơ bản trên mặt trận văn hoá, thức tỉnh và tập hợp rộng rãi trí thức Việt Nam vào sự nghiệp cứu quốc dưới ngọn cờ của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp góp phần quan trọng đưa cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi Sau đề cương, tác phẩm: “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”, Cố Tổng Bí thư Trường Chinh

Trang 11

đã phân tích sâu sắc những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hoá nêu trong đề cương, xác định lập trường mác xít kiên định khi phân tích, lên án văn hoá thực dân phong kiến; khẳng định vai trò của văn hoá cách mạng và phương pháp khoa học biện chứng trong việc xác định nội dung, tính chất và nhiệm vụ của nền văn hoá mới Việt Nam Tác phẩm nhấn mạnh lập trường văn hoá cách mạng, phân tích làm sáng tỏ tính dân tộc, khoa học và đại chúng của nền văn hoá Việt Nam làm cơ sở để định hướng phát triển văn hoá và sáng tác của văn nghệ

sĩ, đảm bảo cho văn hoá luôn là động lực chủ yếu, khai thác phát huy mọi tiềm năng về trí tuệ, tinh thần, vật chất của nhân dân, tạo sức mạnh cho dân tộc vượt qua mọi thử thách để không ngừng phát triển Đánh giá ý nghĩa và giá trị lịch sử của đề cương cũng như công lao to lớn của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh với sự nghiệp văn hoá, giáo sư Nguyễn Đức Bình khẳng định: “Đề cương văn hoá Việt Nam vào thời điểm 50 năm trước chính là đỉnh cao của trí tuệ đương thời, là nhận thức sắc bén về tình hình, là dự báo khoa học về tương lai, là sức mạnh tinh thần to lớn mà đất nước đang cần”[8, tr 519]

Thời kỳ đổi mới, vẫn trên tinh thần cơ bản của đề cương văn hoá vạch ra, Đảng ta đã tiếp tục phát huy tinh thần dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới, nhấn mạnh vai trò tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hoá mới, nhằm tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, nhân đạo, dân chủ và tiến bộ Đặc biệt, trước xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng, bên cạnh thời

cơ và vận hội lớn giúp nước ta phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và quốc tế, đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với phát triển văn hoá, cũng như giữ gìn BSVHDT Các Hội nghị lần thứ tư khoá VII, lần thứ năm khoá VIII của Ban Chấp hành Trung ương đã khẳng định vai trò nền tảng tinh thần của văn hoá, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, không những vừa phải xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, hiện đại, mà còn vừa phải đảm bảo giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc, kiên định và giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển

Trang 12

Cùng với tăng cường quảng bá văn hoá, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với nước ngoài, làm cho cộng đồng thế giới ngày càng hiểu sâu sắc hơn về đất nước, con người Việt Nam, phải đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hoá, khoa học công nghệ hiện đại của thế giới nhằm phát triển, hoàn thiện văn hoá Việt Nam tương xứng với tầm vóc, với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN Khẳng định nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc xét về thực chất là sự cụ thể hoá đường lối văn hoá của Đảng ta đề ra từ khi thành lập với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Giữ vững sự ổn định, phát triển bền vững đất nước trong xu thế HNQT, trên cơ sở giữ gìn, phát huy BSVHDT và dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Chỉ có như vậy, chúng ta vừa tận dụng được

cơ hội phát triển đất nước, tiến kịp yêu cầu phát triển chung của khu vực và quốc

tế, vừa giữ vững BSVHDT, không bị hoà tan, đánh mất BSVHDT

Như vậy, quan điểm cơ bản của Đảng ta về văn hoá, bản sắc văn hoá thể hiện ở nhiều văn kiện, trong các thời kỳ cách mạng, phản ánh tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng Những quan điểm cụ thể, trực tiếp chỉ đạo và định hướng sự nghiệp cách mạng nói chung, phát triển văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá nói riêng

* Về bản sắc văn hoá dân tộc

Trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng ta về văn hoá và phát triển văn hoá trong các giai đoạn cách mạng, gần đây

có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước bàn về văn hoá phát triển trong HNQT, đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về văn hoá và BSVHDT,

về mối quan hệ giữa giữ gìn BSVHDT với hội nhập, giao lưu văn hoá quốc tế

Quan điểm mang tính định hướng, khái quát và rất sâu sắc về văn hoá, bản sắc văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và đổi mới, cố Thủ tướng Phạm Văn

Đồng đã viết cuốn sách “Văn hoá và đổi mới” (1995) Trong cuốn sách này, cố

Thủ tướng đã đề cập quan điểm khoa học về văn hoá, vai trò to lớn của văn hoá

Trang 13

và bản sắc văn hoá trong trường kỳ hình thành phát triển dân tộc, luận giải một cách khoa học và sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và đổi mới, giữa lịch sử và văn hoá, qua đó gợi ra những quan điểm có tính chất mở đường về sự cần thiết, mục tiêu, thực chất của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình đổi mới đất nước, tích cực mở rộng HNQT Đây là những định hướng rất quan trọng cho quá trình nghiên cứu, quán triệt và hiện thực hoá quan điểm của Đảng, góp phần xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế

Bàn về BSVHDT, vai trò văn hoá với sự phát triển đất nước, mối quan hệ giữa giao lưu hội nhập với giữ gìn bản sắc văn hoá trong xu thế mới để phát triển

văn hoá, có các công trình khoa học: “Bản sắc dân tộc của văn hoá”(1990) của

Đỗ Huy và Trường Lưu; “Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo

định hướng XHCN” (1998) của Lê Quang Thiêm; “Xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay”(1992) của Nguyễn Duy Quý và Đỗ Huy, “Văn hoá và phát triển”(2000) của Nguyễn Hồng Phong, “Phát huy nội lực văn hoá trong quá trình phát triển” (2000) của Phạm Duy Đức …Trong các công trình này, đi từ

việc giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, các tác giả không chỉ đưa

ra quan niệm về bản sắc văn hoá, đặc trưng và vai trò to lớn của nó với văn hoá dân tộc; mà còn thống nhất khẳng định, vai trò của văn hoá với sự phát triển đất nước là rất lớn, các nền văn hoá không tồn tại biệt lập, tách rời các nền văn hoá khác mà luôn có sự giao lưu, thâm nhập lẫn nhau giữa các nền văn hoá Vì vậy, một mặt cần phải mở rộng giao lưu, hội nhập để phát triển, nâng tầm văn hoá, mặt khác phải chú ý giữ gìn BSVHDT, bởi theo các tác giả:

Giữ gìn BSVHDT không đồng nghĩa với sự đóng kín và kỳ thị đối với các nền văn hoá khác Các nền văn hoá luôn trao đổi lẫn nhau Các nền văn minh nhân loại cho thấy sự giao lưu làm cho các nền văn hoá cùng phát triển nhanh hơn, khi sự giao lưu đứt đoạn thì các nền văn hoá cũng phát triển chậm lại và rơi vào tình trạng trì trệ [39, tr.355]

Trang 14

Cùng với hướng tiếp cận trên, các công trình nghiên cứu do hai tác giả chủ biên: “Vai trò của văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay”(2000) của Trần Văn Bính, “Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay”(1995), của Phạm Ngọc Quang, đã khẳng

định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự hình thành và phát huy phẩm chất năng lực người cán bộ, từ đó hình thành các phẩm giá như ý thức cộng đồng, lòng tự hào dân tộc, lương tâm, trí tuệ, niềm tin…Muốn vậy trong quá trình xây dựng phát triển cần có sự giao lưu, tiếp nhận những giá trị tinh hoa của văn hoá nhân loại trên cơ sở những giá trị truyền thống của dân tộc Đặc biệt, các công trình

nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”(1997); của Lê Như Hoa: “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại”(2003); “Bản sắc dân

tộc và hiện đại hoá trong văn hoá”(2000) của Hoàng Trinh; “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(2001) của

Nguyễn Khoa Điềm; “Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn

hoá”(2005) của Giáo sư Nguyễn Đức Bình…Trong các công trình này, tác giả

đã đi sâu phân tích và đưa ra các quan niệm khoa học khác nhau trong tiếp cận văn hoá, vai trò, cấu trúc, chức năng của văn hoá; luận giải cội nguồn hình thành

ý thức dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam; khẳng định sức mạnh của văn hoá, của bản sắc văn hoá trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và phát triển, văn hoá với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là kinh tế, chính trị, xã hội; khẳng định trong tình hình hiện nay, hiện đại hoá chỉ có thể thành công nếu bản sắc dân tộc được sử dụng như một động lực chủ yếu, đồng thời BSVHDT cũng chỉ có thể được phát huy trong một đất nước hiện đại hoá

Các nhà khoa học từ những góc nhìn khác nhau đã đưa ra các luận chứng khoa học để luận giải, khẳng định và chứng minh mối quan hệ biện chứng của hai mặt trong quá trình hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam luôn xuyên suốt

Trang 15

lịch sử dân tộc, chính nó là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn trường tồn và phát triển bền vững cho đến ngày nay Lịch sử quá trình phát triển, bồi đắp hệ thống giá trị tinh hoa của bản sắc văn hóa Việt Nam cho thấy, trong quá trình chống chọi với sự đồng hoá, xâm lăng về văn hoá của ngoại bang, dân tộc ta một mặt vẫn giữ được bản sắc văn hoá của mình, mặt khác đã tiếp biến văn hoá bên ngoài để thường xuyên làm giàu BSVHDT mình Điều đó cho thấy, ngay từ rất sớm cha ông ta đã thường xuyên tiếp nhận sự giao lưu văn hoá dân tộc với các nền văn hoá khác, qua đó nâng BSVHDT lên tầm cao mới, khẳng định bản lĩnh, cốt cách của con người và cộng đồng dân tộc Việt Nam trước các nền văn hoá khác

Về vai trò tư tưởng lý luận với văn hoá, Giáo sư Nguyễn Đức Bình đã đi sâu phân tích làm sáng tỏ về cơ sở lý luận thực tiễn trong quan điểm, đường lối của Đảng về tư tưởng văn hoá, BSVHDT trong bối cảnh toàn cầu hoá; mối quan

hệ văn hoá tư tưởng chính trị trong cuộc đấu tranh về tư tưởng lý luận hiện nay, đặc biệt đi sâu phân tích làm rõ về thực chất của HNQT, thời cơ và thách thức với các nước phát triển trong quá trình toàn cầu hoá, tạo cơ sở lý luận cho việc làm rõ sự cần thiết giữ gìn BSVHDT hiện nay

Gần đây, công trình: “Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 Những vấn đề phương pháp luận”[29] do PGS, TS Phạm Duy Đức làm chủ biên Công trình này gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học, trong đó có các bài tiêu biểu của Đỗ Huy, Trần Văn Bính, Phạm Duy Đức… Trong các bài này tác giả

đã đề cập về thế giới quan, phương pháp luận khoa học để phát triển nền văn hoá Việt Nam trong xu thế HNQT ngày càng sâu rộng Các tác giả trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn của nền văn hoá, vai trò lãnh đạo quản lý của Đảng Nhà nước về văn hoá, chỉ rõ các mối quan hệ văn hoá với các lĩnh vực kinh tế xã hội, chỉ rõ quan điểm giải pháp có tính đột phá để phát

Trang 16

triển nền văn hoá dân tộc trong thập kỷ tới Những vấn đề cơ bản trên của các nhà khoa học là cơ sở phương pháp luận rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào phát triển nền văn hoá, giữ gìn BSVHDT Việt Nam giai đoạn hiện nay

* Về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Liên quan đến vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá trước xu thế toàn cầu hoá, ngày 20 tháng 10 năm 2007 Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo khoa học “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá” Hội thảo đã đề cập nhiều vấn đề về toàn cầu hoá, nhất là sự tác động ảnh hưởng tới các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội; trong đó văn hoá là lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn nhất, trực tiếp nhất Trên cơ sở đó, hội thảo đã trao đổi, đưa ra nhiều khía cạnh, nhiều góc tiếp cận về đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đưa ra một số kiến nghị về chủ trương, chính sách văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy BSVHDT trong xu thế toàn cầu hoá

Toàn cầu hoá, HNQT và giữ gìn BSVHDT luôn có mối quan hệ chặt chẽ, nhất là khi toàn cầu hoá và HNQT ngày càng phát triển gia tăng về tính chất và phạm vi thì càng đặt ra yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia trong giữ gìn

BSVHDT Điều này được chứng minh thông qua hội thảo quốc tế “Việt Nam

học” lần thứ ba tổ chức tháng 12 năm 2008, tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam,

thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Trong hội thảo vấn đề văn hoá được đưa ra thảo luận rộng rãi và sâu sắc, với nhiều tham luận của các nhà nghiên cứu trong

nước; trong đó đáng chú ý một số tham luận tiêu biểu: “Sự tiếp biến văn hoá Việt

Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Thị Đảm - Đại học Sư

phạm Huế, “Giao lưu, tiếp biến văn hoá và bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam

trong toàn cầu hoá” của Nguyễn Thế Cường- Đại học Kiến trúc thành phố Hồ

Chí Minh, “Giao lưu văn hoá Việt Nam và thế giới” của Phạm Đức Dương- Hội Khoa học Đông Nam Á- Việt Nam, “Văn hoá và lối sống của thanh niên Việt

Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT” của Phạm Hồng Tung- Đại học

Trang 17

Quốc gia Hà Nội …Các tác giả đã tập trung đi sâu các góc độ tiếp cận cụ thể về văn hoá, qui luật giao lưu, tiếp biến văn hoá, văn hoá với thanh niên trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT, từ đó luận giải yêu cầu và đòi hỏi bức thiết cần phải bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá, lịch sử truyền thống dân tộc trong giao lưu HNQT Đặc biệt, từ cách tiếp cận cấu trúc hai mặt của văn hoá, văn hoá và lối sống thanh niên trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT hiện nay, các tác giả làm rõ

sự cần thiết phải giữ gìn những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc hiện nay, tính qui luật trong giao lưu, tiếp biến văn hoá, giữ gìn bảo tồn BSVHDT, cách nhìn nhận, xem xét, đánh giá và phát huy vai trò thanh niên trong xây dựng văn hoá và lối sống hiện nay …Những vấn đề cơ bản đó cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu và luận giải việc giữ gìn BSVHDT ở TNQĐ hiện nay

* Về văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá

Vấn đề văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá không chỉ là mối quan tâm của các cấp ngành, của toàn xã hội mà còn của nhiều nhà khoa học có tâm huyết Từ đặc thù của thanh niên nên sự tác động ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá và HNQT đến văn hoá thanh niên, đến BSVHDT là rất lớn và khó lường Vì thế, vấn đề văn hoá thanh niên, thanh niên với văn hoá được các cấp ngành có liên quan và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tháng 10 năm 2002, Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học “Văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá” tại Hà Nội Với 40 bản tham luận tham gia hội nghị, các tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận thực tiễn của mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá với thanh niên trong điều kiện lịch sử mới Toàn bộ các tham luận được in trong cuốn “Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá, một số vấn đề lý luận thực tiễn”, của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Các tham luận trong hội thảo đã khẳng định, vấn đề văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá không chỉ là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác của Đảng, Nhà nước và các

Trang 18

đoàn thể, mà còn là mối quan tâm, lo lắng vì sự an nguy của toàn xã hội Từ nghiên cứu cả về lý luận, thực tiễn, các kết quả khảo sát điều tra, những nhận định, kiến nghị từ kết quả điều tra trong hoạt động thực tiễn, các tác giả đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về văn hoá thanh niên và thanh niên với văn hoá, cung cấp cơ sở lý luận thực tiễn cho công tác thanh niên nói chung, thanh niên với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy BSVHDT hiện nay nói riêng

Cũng bàn về vấn đề trên, tác giả Dương Tự Đam trong cuốn “Văn hoá thanh

niên và thanh niên với văn hoá dân tộc”, đã đề cập các khía cạnh: văn hoá phát

triển, văn hoá thanh niên, văn hoá tuổi trẻ; các yếu tố cụ thể trong nhân cách thanh niên; thanh niên với công bằng, dân chủ, bình đẳng xã hội, những tác động của văn hoá phẩm đồi truỵ đến nhân cách thanh niên; những thách thức đối với thanh niên

và tiền đề để thanh niên bước vào thế kỷ XXI; một số nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ di sản văn hoá dân tộc Những nội dung trên đây cung cấp những góc nhìn cụ thể về văn hoá ở một đối tượng nhạy cảm cần được quan tâm, đặc biệt

là đề cập sâu cách tiếp cận trong quan niệm văn hoá của UNESCO, những thách thức về văn hoá với thanh niên hiện nay, bước đầu đề cập quan điểm, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ di sản văn hóa dân tộc ở đối tượng thanh niên

* Về thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Trên thực tế chưa có công trình nào bàn về vấn đề này Tuy nhiên, liên quan tới các góc độ tiếp cận gần với văn hoá, xây dựng môi trường văn hoá quân sự, phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan có một số công trình nghiên cứu như: “Văn hoá quân sự Việt Nam” của tác giả Lê Văn Quang và Văn Đức Thanh; “Về xây dựng môi trường văn hoá cơ sở” của PGS, TS Văn Đức Thanh,

“Phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ QĐNDVN hiện nay”(2005) luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Trường…Các công trình đó đã đề cập vai trò của văn hoá và sự tác động, ảnh hưởng của nó đến quá trình xây dựng, phát triển môi trường văn hoá quân sự, đến sự nghiệp xây dựng quân đội

Trang 19

nói chung, đến giữ vững và phát huy bản chất truyền thống của quân đội cách mạng nói riêng trong giai đoạn hiện nay; đề cập đến tính qui luật, xu hướng và yêu cầu phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ QĐNDVN trước những tác động ảnh hưởng phức tạp của tình hình thế giới, trong nước xu thế toàn cầu hoá và HNQT

Nghiên cứu giá trị văn hoá giữ nước Việt Nam, những nét đặc sắc của văn hoá quân sự có các công trình nghiên cứu: “Tìm hiểu văn hoá giữ nước Việt Nam” (2002), của Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự[107], “Văn hoá quân sự - một văn hoá độc đáo Việt Nam”(2008), của Nxb QĐND[105]… Các công trình này đã nêu ra quan niệm văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự, điều kiện hình thành, phát triển và đặc trưng của văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự Đặc biệt, đã tập trung đi sâu phân tích, luận giải, chứng minh những giá trị tiêu biểu, nét đặc sắc của văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự; làm nổi bật giá trị tinh hoa của BSVHDT được đúc kết trong lịch sử giữ nước; dự báo xu hướng vận động phát triển của nó trong thời kỳ mới và những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị đó hiện nay

Những vấn đề cơ bản mà các công trình đề cập trên đây đã cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc tiếp cận, luận giải nhằm giải quyết mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, nhất là việc đi sâu nghiên cứu, luận giải làm rõ vai trò TNQĐ giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong HNQT hiện nay

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

* Về văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá dân tộc

Trong những năm gần đây, các vấn đề liên quan đến văn hoá và phát triển, văn hoá và hội nhập, văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá là chủ đề thường được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đưa ra thảo luận trong mọi diễn đàn, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của các quốc gia dân tộc trên thế giới Điều đó khẳng định vị trí chiến lược, trung tâm, vai trò nền tảng điều tiết xã hội của văn hoá hiện nay cần được quan tâm, nâng cao hơn về nhận thức và chỉ đạo tổ chức

Trang 20

thực hiện ở từng quốc gia dân tộc, cũng như trên phạm vi thế giới Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay, vấn đề phát triển văn hóa, giữ gìn BSVHDT không những đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, mà còn trở thành quốc sách trong chiến lược phát triển chung của mỗi quốc gia dân tộc Văn hoá với phạm vi bao trùm và ý nghĩa sâu rộng luôn là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Giữa kinh tế với văn hoá, xã hội có mối quan hệ gắn bó với nhau không tách rời Chúng ta không thể xây dựng được một xã hội văn minh với nền kinh tế nghèo nàn

và lạc hậu Ngược lại, khó có thể phát triển nền kinh tế tăng trưởng cao nếu không coi trọng xây dựng nền văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Bởi vậy, trong quá trình phát triển chung của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế hiện nay, đã luôn luôn quan tâm và tính đến sự tác động ảnh hưởng của mối quan hệ gắn

bó này Có thể nói, sự kết hợp giữa kinh tế với văn hoá, văn hoá với toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển là yêu cầu bức thiết, là thách thức trong chiến lược phát triển của tất cả các nước trên thế giới hiện nay Trong cuộc phát động “Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá”, chính ông F.Mayor - Tổng Giám đốc tổ chức Khoa học, giáo dục và văn hoá của Liên hiệp quốc(UNESCO) đã khẳng định có tính chất cảnh báo: “Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”[44, tr 278] Những hậu qủa mất cân đối đó, không chỉ xảy ra tại các nước đang phát triển, mà ngay cả các nước công nghiệp tiên tiến, nơi mà cuộc chạy đua ráo riết nhằm gia tăng của cải vật chất gây thiệt hại đến giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ của cuộc sống, nó đã gây ra những mất cân đối nghiêm trọng giữa con người với con người và với môi trường tự nhiên Sự khẳng định trên là tiếng chuông cảnh báo đối với mọi quốc gia trong chiến lược phát triển của mình phải luôn chú ý đến mối quan hệ giữa kinh tế với văn hoá, quan tâm và chú ý hơn nữa đến con người, đặc biệt lưu ý giữ gìn

BSVHDT trong xu thế HNQT hiện nay

Trang 21

Trên thực tế những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu của các

tác giả nước ngoài đề cập trên mọi phương diện của vấn đề này như: “Sinh thái nhân

văn” của Georges Olivier (1992); “Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI” của

D.I-ke-đa và A.Péc-xây (1993); “Văn hoá học” của V.M.Rôđin (2000), đã khẳng định

vai trò to lớn của văn hoá đối với sự phát triển xã hội, các tác giả khẳng định rằng không thể có sự phát triển bền vững nếu không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, giữa giao lưu HNQT với giữ gìn bản sắc văn hoá Đối với khu vực, gần đây nhất, trong hội thảo quốc tế tại Hà Nội, Tokyo

và Noọng khai năm (1996) về “Văn hoá trong phát triển và toàn cầu hoá”, các tác

giả tham gia đều thừa nhận bản chất của văn hoá là sáng tạo; phát triển văn hoá không thể đóng kín, bó hẹp trong quốc gia dân tộc mà phải mở rộng giao lưu, tiếp nhận văn hoá bên ngoài là một xu thế tất yếu, nhưng phải biết chọn lọc những tinh hoa và gạt bỏ những lạc hậu, lỗi thời Tuy nhiên, các tác giả cũng đồng thời đưa ra những cảnh báo trong phát triển và giữ gìn BSVHDT, những mâu thuẫn nảy sinh giữa phát triển và mặt trái của nó để các quốc gia cần lưu ý trong chiến lược phát triển hiện nay Chỉ có trên cơ sở như vậy, mỗi quốc gia dân tộc mới phát triển một cách bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với các nước trên thế giới, đồng thời khắc phục được mặt trái của toàn cầu hoá, HNQT, giữ vững BSVHDT

* Về bản sắc văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Ở phạm vi khu vực, khi đi sâu tham bàn, phân tích việc giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và toàn cầu hoá, HNQT, phát triển văn hoá và giữ gìn BSVHDT trong

xu thế mới, các tác giả Trung Quốc đã đưa ra những quan điểm khá sâu sắc, có cơ sở khoa học về vấn đề này Thực tế đã có nhiều công trình, nhiều bài viết bàn về chủ đề nêu trên như: “Tranh luận về văn hoá và đối thoại về văn hoá ở thời đại toàn cầu hoá” của Vương Ninh, Tạp chí “Văn hoá phương Đông” (1999); “Xung đột và chỉnh hợp văn hoá trong toàn cầu hoá kinh tế” của Vương Trường Khôn, Tạp chí “Quang minh Nhật báo” (2002); “Bàn về văn hoá toàn cầu và văn hoá dân tộc” của Hồ Mẫn Trung, Tạp chí “Học tập và tìm hiểu” (2003); “Toàn cầu hoá văn hoá: chỗ sai của hiện đại

Trang 22

hoá” của Tịch Vân Thư, “Quang minh Nhật báo”(6/2003); “Quan niệm thân phận văn hoá hậu thực dân” của Lý Lâm và Sinh An Phong, Tạp chí “Động thái lý luận nước ngoài”(2004) Đáng lưu ý, gần đây nhất là bài viết: “Xung đột văn minh và tính

đa dạng văn hoá ở thời đại toàn cầu hoá” đăng trên tạp chí “Vấn đề CNXH trong thế giới đương đại” tháng 1 năm 2006, của hai tác giả Dư Tự Niệm, Hạ Kim Bố Các tác giả đã bàn, khẳng định quan điểm của mình về những khía cạnh liên quan đến văn hoá, giữ gìn BSVHDT trong toàn cầu hoá như: tính đa dạng văn hoá không phải là toàn cầu hoá văn hoá, sự cần thiết tất yếu phải tận dụng toàn cầu hoá để hiện đại hoá văn hoá dân tộc, toàn cầu hoá chỉ là toàn cầu hoá tài nguyên văn hoá chứ không phải giá trị văn hoá, các dân tộc cần chống thủ đoạn xâm lăng về văn hoá của chủ nghĩa đế quốc văn hoá, giữ vững và phát triển văn hoá dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá, HNQT Đề cập mối quan hệ cá tính (bản sắc) dân tộc với tính chung (phổ quát) văn hoá nhân loại trong toàn cầu hoá, tác giả khẳng định, văn hoá dân tộc luôn thống nhất

và làm phong phú tính đa dạng của văn hoá thế giới, “văn hoá vì cá tính mà rực rỡ, mất cá tính mà khô héo”, nên phải chú trọng giữ gìn và phát triển BSVHDT với thái

độ “rộng mở, bình đẳng, tìm ra chỗ giống nhau và bảo lưu chỗ khác nhau, tự hoàn thiện mình”, thực hiện “hoà bình phát triển” trong giao lưu văn hoá, đảm bảo sự phát triển nền văn hoá XHCN mang bản sắc dân tộc…Ngoài ra, bàn về thái độ đối xử với

sự khác biệt về văn hoá, các tác giả còn đưa ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong giao lưu hội nhập văn hoá xu thế toàn cầu hoá, cung cấp thêm cơ sở trong việc tiếp thu văn hoá nhân loại, giữ gìn BSVHDT, xây dựng phát triển nền văn hoá hiện đại vừa thích ứng với xu thế thời đại, vừa mang màu sắc dân tộc Trong đó, khi giao lưu hội nhập văn hoá, cần đặc biệt lưu ý vấn đề tính đa nguyên về chủ thể văn hoá, dựa vào nội lực mình là chính theo phương châm “càng dân tộc thì càng là thế giới”, từ nội lực, lấy phát triển xã hội làm mục tiêu, tiền đề cơ bản cho giao lưu hội nhập văn hoá… Đồng thời, tích cực chống những biểu hiện sai trái trong giao lưu, hội nhập, hiện đại hoá văn hoá như: chủ nghĩa hư vô dân tộc, chủ nghĩa quốc tuý, bài ngoại về văn hoá Những biểu hiện sai trái trên dễ dẫn đến chủ trương lệch lạc trong quá trình giao lưu hội nhập phát triển văn hoá, không giữ vững BSVHDT

Trang 23

Phạm vi rộng hơn, trong chiến lược mới của Mỹ và các thế lực thù địch nhằm lợi dụng xu thế toàn cầu nhằm áp đặt sự thống trị về văn hoá, là thách thức đối với BSVHDT, biểu hiện mâu thuẫn mới giữa CNTB với các dân tộc trong xu thế mở rộng HNQT, tác giả James Petras có bài viết với tựa đề: “Chủ nghĩa đế quốc văn hoá cuối thế kỷ XX”, do Vũ Văn Hoà dịch từ nguồn tiếng Nga và tiếng Anh, được đăng tải trong tài liệu học tập của Học viện Chính trị năm 2004…Ở công trình này, tác giả

đã nêu lên bức tranh toàn cảnh về CNTB, CNĐQ thời kỳ toàn cầu hoá, một biến tướng mới trong chiến lược, chính sách kinh doanh và bóc lột núp dưới vỏ bọc mới - chủ nghĩa đế quốc văn hoá Với phương thức và thủ đoạn mới này, chúng hy vọng một mũi tên sẽ trúng hai đích, cả kinh tế lẫn chính trị; vừa “giành thị trường cho sản phẩm văn hoá Mỹ”, vừa “thiết lập được quyền thống trị của Mỹ thông qua việc tác động lên ý thức xã hội của các dân tộc khác” Trên cơ sở sự thống trị văn hoá và bóc lột trên quy mô toàn thế giới, nhất là với thế giới thứ ba, CNĐQ văn hoá tiến hành thâm nhập mang tính hệ thống và sự thống trị đối với đời sống văn hoá của quần chúng từ phía giai cấp cầm quyền phương Tây, nhằm mục tiêu sắp xếp lại các giá trị, hành vi và bản sắc của các dân tộc bị áp bức, để cho những giá trị, hành vi và bản sắc

đó phù hợp với lợi ích của các thế lực đế quốc Điều đặc biệt nguy hiểm và thâm độc của chủ nghĩa đế quốc văn hoá là bóc lột kinh tế, chính trị đối với thế hệ trẻ, nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất trước tác động của tuyên truyền thương mại hoá, thông qua lực lượng này để thực hiện chính sách, mục tiêu chiến lược toàn cầu phản cách mạng Đây là những vấn đề hết sức quan trọng để vận dụng luận giải làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn của việc giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

1.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài chƣa đƣợc nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay, mức độ ảnh hưởng tác động của nó đến văn hoá và BSVHDT ngày càng bộc lộ rõ nét Tuy

đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này nhưng vẫn còn những vấn

đề lý luận thực tiễn về giữ gìn BSVHDT chưa được đề cập và nghiên cứu một cách

hệ thống, dựa trên cơ sở khoa học:

Trang 24

- Một là, chưa có đề tài nào đề cập dưới góc độ chính trị xã hội vai trò

TNQĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

- Hai là, chưa có đề tài nào khảo sát đánh giá một cách toàn diện thực trạng

vai trò TNQĐ giữ gìn BSVHDT thời gian vừa qua

- Ba là, chưa có đề tài nào đưa ra một hệ thống giải pháp cơ bản để TNQĐ giữ

gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay

Giải quyết được những vấn đề lý luận thực tiễn đặt ra trên đây sẽ góp phần tác động tích cực vào giữ gìn, phát huy BSVHDT trong quân đội, đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đến thắng lợi

Kết luận chương 1

Về văn hoá, hội nhập quốc tế, bản sắc văn hoá dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế hội nhập quốc tế… đã có rất nhiều công trình của các cá nhân, tập thể ở trong nước, ngoài nước nghiên cứu, bàn luận, đề cập nhiều góc độ liên quan đến đề tài Những vấn đề cơ bản đó, một mặt là cơ sở lý luận mang tính nền tảng cho việc luận giải vấn đề nghiên cứu của đề tài, mặt khác cung cấp những kiến thức thực tiễn hết sức phong phú sinh động, để vận dụng trực tiếp làm rõ những vấn

đề nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, trên thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách hệ thống và đầy đủ vấn đề “Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ

gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay” Vì vậy, tác giả đã

chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu của luận án Vấn đề này không trùng với bất

kỳ công trình khoa học nào đã công bố ở trong và ngoài nước

Trang 25

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

2.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và tác động của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

2.1.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

2.1.1.1 Văn hoá

Nghiên cứu lịch sử nhân loại từ khi thành văn đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế đưa ra quan niệm khác nhau về văn hoá Tuỳ theo cách tiếp cận và điều kiện lịch sử cụ thể mà đưa ra quan niệm, từ đó làm rõ

vị trí, vai trò và ý nghĩa nghiên cứu, nhằm phục vụ cho mục đích của mình

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các tác phẩm của mình, luôn coi văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội, là mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Theo các ông, văn hoá không chỉ là sự sáng tạo ra đời sống vật chất và đời sống tinh thần, mà còn bao hàm sự sáng tạo

ra cộng đồng xã hội cũng như sự sáng tạo ra bản thân con người với đúng tư cách người của mình Theo đó, nói tới văn hoá là nói tới những lực lượng bản chất người, tức là những năng lực sáng tạo mang tính xã hội và tính nhân văn của con người, nhằm hướng đến con người, quan tâm đến lợi ích vật chất, tinh thần của con người, tất cả vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng xã hội Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tập trung lên án và chỉ ra nguyên nhân làm biến dạng bản chất của con người (các ông gọi là sự tha hoá) chính là chế độ tư hữu, là tình trạng bóc lột vô nhân tính của giai cấp tư sản, dẫn tới sự tha hóa lao động, tha hoá về văn hoá

Trang 26

Trên cơ sở kế thừa xuất sắc tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các tác phẩm của mình, V.I.Lênin luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng của văn hoá đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Văn hoá được nhân hoá thông qua hoạt động thực tiễn của con người V.I.Lênin luôn coi văn hoá, nhất là tri thức, khoa học và giáo dục là những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội Theo Người, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, với mục đích đem lại quyền lợi cho đại đa số quần chúng lao động trên mọi phương diện, sẽ làm cho nó trở thành hình thái phát triển cao nhất của văn hoá, văn minh nhân loại

Văn hoá là thành quả của hoạt động lao động sáng tạo của con người, của

xã hội trong lịch sử, mỗi bước tiến của con người trong quá trình sản xuất vật chất cũng đồng thời khẳng định một bước tiến của thành tựu văn hoá, văn minh nhân loại trên con đường vươn tới sự nghiệp giải phóng con người, xã hội và toàn thể nhân loại Vì thế, một mặt, không thể có văn hoá tách khỏi cuộc sống của con người, xã hội; mặt khác, cũng không thể có sự phát triển văn hoá với đúng nghĩa của nó khi không biết kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn hoá, văn minh trước đó Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu người cộng sản trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng XHCN không nhận thức đúng vị trí, vai trò văn hoá, phủ định sạch trơn những giá trị văn hoá, văn minh nhân loại

Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin dù chưa bàn sâu đến các khía cạnh của văn hoá, về bản sắc văn hoá, giữ gìn BSVHDT, nhưng trong tư tưởng của các ông, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đòi hỏi những người cộng sản, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên phải nhận thức đúng vị trí, vai trò của văn hoá, của tri thức khoa học, qui luật phát triển văn hoá; đồng thời phải biết kế thừa, vận dụng toàn bộ hệ thống tri thức nhân loại, giải quyết một cách khoa học nhiệm vụ thực tiễn, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng để chúng ta vận dụng học thuyết Mác

- Lênin vào quá trình tiến hành cách mạng XHCN, đảm bảo sự ổn định và phát

Trang 27

triển bền vững mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, phát triển văn hoá, giữ gìn BSVHDT nói riêng trong xu thế HNQT hiện nay

Dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học cách mạng, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định văn hoá là một bộ phận cấu thành nên hình thái kinh tế - xã hội, cho nên xây dựng xã hội XHCN tất yếu phải xây dựng nền văn hoá mới Đặc biệt, tư tưởng của các ông về văn hoá là phương thức hoạt động sống căn bản của con người gắn với điều kiện lịch sử nhất định, là toàn bộ dấu ấn của con người lên những thành quả do con người sáng tạo ra, tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Thông qua phương thức hoạt động lao động tái sản xuất ra đời sống hiện thực, văn hoá là “thiên nhiên thứ hai” của con người Đồng thời, văn hoá gắn liền với giao lưu, hội nhập, để vừa lan toả, quảng bá vừa tiếp biến, kế thừa chọn lọc giá trị tinh hoa để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc Điều đó, làm cho văn hoá vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù, trong quá trình đó cần lưu ý sự tác động hai mặt của giao lưu HNQT đến văn hoá dân tộc C Mác và Ph.Ăngghen ngay từ giữa thế kỷ XIX đã chỉ rõ rằng: “Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới”[57, tr.602] Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu, vận dụng làm rõ các quan điểm về văn hoá, từ đó làm sáng

tỏ những nội dung đề tài nghiên cứu

Với cách tiếp cận tính đặc thù dân tộc, nhấn mạnh bản sắc dân tộc, ông Federico Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO quan niệm: “Văn hoá là bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”[10, tr 187] Quan niệm này chỉ rõ và nhấn mạnh tính đặc thù của các giá trị văn hoá, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác” Hệ thống giá trị đặc thù này được hình thành, được hun đúc trong lịch sử trường kỳ của mỗi dân tộc Hệ thống giá trị này khi đã hình thành sẽ tạo ra sức mạnh gắn kết

Trang 28

bền chặt, trở thành một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho dân tộc tồn tại, phát triển bền vững Cách tiếp cận này cho phép đi sâu nghiên cứu làm rõ tính đặc thù của văn hoá dân tộc, những tác động của HNQT đến hệ thống giá trị này và những việc cần làm để giữ gìn giá trị đó trong xu thế HNQT hiện nay Trên cơ sở phương pháp luận mác - xít, gắn chặt với đời sống hiện thực, phản ánh cái tinh tuý cốt lõi nhất của văn hoá dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu

ý nghĩa của văn hoá:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở

và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức

là văn hoá [62, tr 433]

Từ nhận thức khái quát trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm:

“Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [62, tr 433] Đây là cách tiếp cận văn hoá một cách khái quát, đặc trưng nhất; hết sức cô đọng, chính xác về văn hoá, cho phép

đi sâu nghiên cứu làm rõ nội hàm và vị trí, vai trò của nó trong thực tiễn đời

sống xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra quan niệm, mà còn chỉ ra một cách cụ thể nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hoá dân tộc với những đặc trưng

cơ bản: “…về tâm lý: tinh thần độc lập tự cường;…về luân lý: biết hy sinh mình,

làm lợi cho quần chúng; …về xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; … về chính trị: dân quyền; và xây dựng kinh tế” [62,

tr 433] Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá dân tộc phải được đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống xã hội, chỉ có trên cơ sở và gắn liền với những bình diện ấy, mới làm cho văn hoá trở thành phẩm chất tốt đẹp, mang đặc trưng riêng và có ý nghĩa tích cực trong từng

Trang 29

lĩnh vực của đời sống xã hội Quan niệm văn hoá và những yêu cầu xây dựng nền văn hoá dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tầm chiến lược thiên tài trong xác định vị trí, vai trò và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hoá Việt Nam, tạo cơ sở nền tảng tinh thần cho quá trình phát triển toàn diện xã hội Việt Nam trong tương lai

Văn hoá là một khái niệm có cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp và rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Tác giả luận án chỉ đề cập khái quát về những vấn đề cơ bản của văn hoá và quan niệm về văn hoá của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng

để nghiên cứu vận dụng làm rõ BSVHDT Việt Nam, sự tác động của HNQT đến BSVHDT Việt Nam và vai trò TNQĐ giữ gìn bản sắc đó trong HNQT hiện nay

2.1.1.2 Bản sắc văn hoá dân tộc

Đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu và đưa ra quan điểm về BSVHDT ở các góc độ khác nhau, như cơ sở hình thành, cấu trúc và phương pháp nghiên cứu

Theo Từ điển tiếng Việt, bản sắc là màu sắc, sắc thái, là đặc tính, là tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính để phân biệt các sự vật hiện tượng với nhau, thể hiện sự phong phú và đa dạng của sự vật hiện tượng Từ nghĩa đó, vận dụng vào các lĩnh vực cụ thể sẽ có cách tiếp cận và biểu hiện đặc thù của nó Trong tâm lý học, khái niệm bản sắc cá nhân có liên quan đến “cái tôi” và do đó tất nhiên phải có mối quan hệ với “cái khác”, “tôi” khác với “anh” vì tôi luôn là tôi không phải ai khác, có những tính cách riêng không hề lẫn với người khác…Vận dụng vào quan niệm bản sắc dân tộc thì trước hết cần khẳng định và được chứng minh trên thực tế là cái “tôi” dân tộc thông qua mối quan hệ và so sánh với cái

“khác”, đó là những dân tộc khác, với những chủ thể mang tính đặc trưng cộng đồng khác…Theo nghĩa đó, nói một cách khái quát, BSVHDT là những giá trị văn hoá mang sắc thái đặc thù, riêng có của dân tộc, được hình thành trong quá trình tồn tại, phát triển; gắn chặt với điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường

Trang 30

sống của họ, nó phản ánh diện mạo, cốt cách, tâm hồn, tính cách, tâm lý con người và cộng đồng người tồn tại trên đó

Trên thực tế, chưa có khái niệm hoàn chỉnh, thồng nhất về BSVHDT nên

có rất nhiều tác giả tiếp cận, nghiên cứu về nó ở các góc độ khác nhau Trước hết, theo tác giả Phan Ngọc nêu trong cuốn: “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới” thì bản sắc văn hoá được coi là một kiểu quan hệ, cách diễn đạt và luận giải chủ yếu thiên về tiêu chí khúc xạ, tiếp thu có lựa chọn làm cho nó khác đi, phù hợp đặc điểm lịch sử dân tộc Nếu đem so sánh với các góc tiếp cận khác thì quan niệm này gần nghĩa như “tiếp biến văn hoá”, tức là tiếp thu, biến đổi và làm cho nó khác đi, đảm bảo sự phù hợp với điều kiện, với đặc điểm của dân tộc mình, thể hiện sự độc đáo sáng tạo trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá khác Nếu như giao lưu và tiếp biến văn hoá là một trong những qui luật phát triển văn hoá chung mang tính phổ quát thì đối với Việt Nam, quá trình tiếp biến văn hoá không những mang tính qui luật chung đó mà còn thể hiện một năng lực sáng tạo tài tình trong mọi hoàn cảnh, đến mức “…tiếp biến văn hoá trở thành phương tiện để người Việt chống lại đồng hoá văn hoá, làm giàu và phát triển mạnh mẽ nền văn hoá với bản sắc riêng của mình, tạo ra sức mạnh giải phóng và bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước trước những thế lực xâm lược bành trướng to lớn”[12, tr 8]

Nghiên cứu cơ sở hình thành và nội hàm của bản sắc dân tộc, tác giả Trường Lưu cho rằng: “Bản sắc dân tộc là tố chất tinh tuý nhất của dân tộc…”,

“…là cách thức yêu nước, cách thức tự hào dân tộc của con người, với tất cả chiều sâu trí tuệ, phong cách tâm hồn và phương pháp tư duy, vừa đậm đặc cái riêng, không lẫn với ai, nhưng cũng không tách biệt trong quan hệ tổng thể giao lưu”[54, tr 125] Với cách tiếp cận bản sắc như hệ giá trị của dân tộc, tác giả Nguyễn Hồng Phong cho rằng: “Bản sắc dân tộc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của nó, giúp dân tộc đó giữ được tính duy nhất, nhất quán so với bản thân mình Nó được thể hiện trong hệ giá trị của dân tộc, nó là

Trang 31

cốt lõi của văn hoá”[80, tr 131] Đi sâu khai thác giá trị cốt lõi, đặc trưng của dân tộc, Tác giả Phạm Duy Đức quan niệm: “Bản sắc văn hoá là những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác”, “là “gien” di truyền văn hoá của dân tộc, trong quá trình giao lưu và phát triển nếu để mất bộ

“gien” này dân tộc sẽ không còn tồn tại” [28, tr.145]

Ở một hướng tiếp cận khác, với quan điểm bám sát thực tiễn, nhà thơ Huy Cận cho rằng, BSVHDT gắn với nơi “chôn nhau, cắt rốn”, được ví như tấm “căn cước”, để tự phân biệt mình với dân tộc khác trong quá trình tồn tại và phát triển Tác giả quan niệm BSVHDT là “…cái hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc, truyền từ đời này qua đời khác, …được làm giàu bằng những kinh nghiệm sống và sức sáng tạo của các thế hệ”, …”là chứng minh thư của dân tộc”, “nằm trong máu thịt, nhuyễn trong tâm hồn” [11, tr.158]

Như vậy, trong điều kiện bị áp bức, cùng với mưu đồ đồng hoá văn hoá một cách cưỡng bức, kẻ thù đã buộc dân tộc ta phải giao lưu tiếp xúc văn hoá ngoại lai Nhưng cũng chính trong quá trình đó, dân tộc ta không những không

bị đồng mà còn tiếp biến, bổ sung phát triển, làm giàu thêm BSVHDT Chính lịch sử đã chứng minh và cho thấy sự tài tình, sáng tạo trong giao lưu tiếp biến văn hoá của dân tộc, đảm bảo việc bảo tồn giá trị truyền thống, khơi dậy tiềm năng phát triển, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao tính ổn định và sức sống trường tồn cho dân tộc Có thể nói, đây là sắc thái riêng độc đáo, riêng có được xây đắp, hun đúc trong suốt lịch sử dân tộc BSVHDT có sức mạnh to lớn đảm bảo sự trường tồn, ổn định và phát triển bền vững của dân tộc Đồng thời, chính bản thân nó đòi hỏi, yêu cầu luôn phải được giữ gìn và phát huy trong mọi thời điểm lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay

Nghiên cứu các cách tiếp cận trên đây, tác giả quan niệm: bản sắc văn hoá

dân tộc là tổng hoà những giá trị văn hoá bền vững phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý… của một dân tộc, được thường xuyên hun đúc, bổ

Trang 32

sung và toả sáng trong lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần đặc sắc tạo sức mạnh gắn kết cộng đồng và để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại

Từ quan niệm như trên, nội hàm của BSVHDT bao gồm một số vấn đề cơ bản như sau:

Trước hết, BSVHDT là hệ thống các giá trị văn hoá đặc trưng tiêu biểu

phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn và bản lĩnh riêng của quốc gia dân tộc được hun đúc thành những gì tinh tuý nhất, đặc sắc nhất tạo nên sự gắn kết bền chặt, trở thành sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho dân tộc vượt qua khó khăn thử thách để tồn tại và phát triển không ngừng

Xét về cơ sở nguồn gốc, BSVHDT chính là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường sống Điều kiện tự nhiên, môi trường sống qui định và sau đó đến xã hội quy định, quyết định đến bản chất và tính cách cũng như sự sáng tạo của con người, là nơi ghi đậm dấu ấn của con người trên đó Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người trong quan hệ với tự nhiên xã hội đã chứng minh tính thích nghi của con người với điều kiện tự nhiên, môi trường sống Theo đó, có thể khẳng định cơ sở gốc của bản sắc văn hoá dân tộc do chính điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường sống qui định Trên thực

tế, mỗi dân tộc đều cư trú trên một địa bàn nhất định, đó là lẽ tự nhiên không dân tộc nào giống dân tộc nào Từ nhu cầu của cuộc sống, con người và cộng đồng một mặt phải khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống mình, mặt khác lại phải đấu tranh với tự nhiên để tồn tại phát triển Cũng chính trong quá trình đó, con người sáng tạo ra các giá trị văn hoá, tích luỹ và xây dựng những truyền thống mang đậm dấu ấn của con người, của cuộc sống cộng đồng Từ khi sinh ra, lớn lên, tồn tại phát triển và kết thúc cuộc đời, con người luôn luôn gắn

bó với một điều kiện tự nhiên xã hội nhất định Các thế hệ người cứ kế tiếp nhau, nối tiếp những giá trị truyền thống mà các thế hệ trước để lại Cứ thế, hệ thống những giá trị và truyền thống của cộng đồng được tiếp thu, kế thừa hun đúc, được

Trang 33

tiếp biến và lưu truyền trở thành bản sắc văn hoá cộng đồng người Nó có tác dụng

to lớn tạo nên sự gắn bó, cố kết cộng đồng, nhằm nhân sức mạnh lên gấp bội, giúp cho cộng đồng vượt qua khó khăn thử thách để tồn tại và không ngừng phát triển Khi bàn về mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên xã hội, môi trường sống với bản sắc văn hoá, tác giả Trường Lưu cho rằng: “Giữa cái đặc điểm lịch sử và tính chất dân tộc đều có quan hệ mật thiết đến tố chất tinh tuý của dân tộc”[54,

tr 125] Cái tố chất dân tộc được kết tinh từ đặc điểm và bản chất ấy chính là tâm lý dân tộc Như thế, để có thể hiểu về bản sắc dân tộc của văn hoá, trước hết phải tìm đến các yếu tố cơ bản nhất của con người, cái tạo nên cái tố chất tinh tuý của dân tộc Rõ ràng, điều kiện môi trường đã qui định những đặc trưng riêng có của con người, cũng như cộng đồng dân tộc, làm nên bản sắc dân tộc nhằm phân biệt với các dân tộc khác

Văn hoá có qui luật phát triển của nó, BSVHDT cũng không nằm ngoài qui luật đó, nó luôn gắn chặt với từng con người, với môi trường sống của con người và cộng đồng, nó là sự sáng tạo không ngừng, có sức mạnh to lớn, là yếu

tố cơ bản và quyết định nhất đảm bảo cho dân tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách Vì thế, trong mọi giai đoạn phát triển của dân tộc phải luôn kế thừa, giữ vững và phát huy BSVHDT đó

Thứ hai, BSVHDT không phải là bất biến, mà nó là khái niệm “động” và

“mở”, luôn vận động và phát triển, thích nghi và đổi mới không ngừng, đảm bảo

sự phù hợp thời đại lịch sử Bản sắc dân tộc bao gồm những phẩm chất, tâm hồn, tình cảm, cốt cách của dân tộc, thể hiện ở thị hiếu, thẩm mỹ, lối sống, sức sáng tạo, ý chí quyết tâm của mỗi dân tộc đã được hình thành trong lịch sử tồn tại và phát triển, phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường sống Trên thực tế, BSVHDT không phải là một đối tượng có tính vật chất bình thường, mà mang đậm dấu ấn của con người và cộng đồng người Ở mỗi nước khác nhau đều có đất đai, núi rừng, sông ngòi, thiên nhiên khoáng sản…, những cái đó không bao giờ giống nhau, nhưng tự chúng không thể tạo thành của cải vật chất nuôi sống

Trang 34

con người, mà phải thông qua hoạt động thực tiễn lao động sản xuất của con người, từ đó hình thành nền văn hoá với bản sắc riêng và tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia dân tộc Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến con người, đến cộng đồng dân tộc Mỗi dân tộc tạo ra bản sắc dân tộc của mình, văn hoá của mình trên cơ sở những điều kiện, hoàn cảnh địa lý và lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc, nền kinh tế, chính trị và văn hoá của nước mình Bằng trí tuệ, tri thức và kinh nghiệm truyền thống của mình, con người tích cực lao động cải tạo môi trường tự nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, làm giàu cho xã hội và thông qua quá trình lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học và đấu tranh cách mạng mà làm giàu thêm bản sắc văn hoá cho dân tộc mình Điều này đã được lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin chứng minh bằng thực tiễn quá trình chuyển biến từ vượn thành người, sau đó trở thành chủ thể của tự nhiên, xã hội thông qua lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn C.Mác đã cho rằng lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, lao động đã sáng tạo ra bản thân con người

Trong BSVHDT đan xen cả những yếu tố cơ bản, cội nguồn và cả những yếu tố khả biến, ngày càng phát triển sinh động, đa dạng theo tiến trình lịch sử

Nó không chỉ là một trạng thái cố hữu, bất biến mà luôn vận động, bổ sung, sự

kế thừa, tiếp biến, đảm bảo không ngừng phát triển phù hợp với thời đại Sự vận động, phát triển của BSVHDT là tất yếu theo qui luật phát triển của lịch sử xã hội, của dân tộc và thời đại Tuy nhiên, điều quan trọng là nhận thức, quan niệm và hiểu như thế nào về sự vận động phát triển đó Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc cũng như giữ gìn BSVHDT trong xu thế HNQT hiện nay Chúng ta đều thấy, một mặt BSVHDT là nét riêng biệt, cụ thể để phân biệt nền văn hoá này với những nền văn hoá khác Nếu xét về nội hàm, nó là tổng hoà tất cả diện mạo, cốt cách, phẩm chất, bản lĩnh, các yếu tố này tạo nên sự ổn định, cố kết

và bền vững của một dân tộc Mặt khác cũng phải thấy, BSVHDT tuy không

Trang 35

tách rời với đặc điểm lịch sử và tính chất dân tộc, nhưng cái phản ánh và biểu hiện ra là tâm lý dân tộc, mà tâm lý dân tộc lại luôn vận động theo những biến đổi của thời đại lịch sử, nên làm cho BSVHDT cũng vận động biến đổi Tuy nhiên, vấn đề cần lưu ý là tuy có những biến đổi nhưng vẫn gắn liền với tố chất tinh tuý của dân tộc được nâng cao theo trình độ thẩm

mỹ và dân trí Sự vận động biến đổi không phải là đổi màu, mà phải xoay quanh cái trục cốt lõi, tinh tuý của dân tộc, phải giữ bản sắc dân tộc, không

để đánh mất mình, không bị hoà nhập, hoà tan vào các nền văn hoá khác

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh dân tộc ta là một trong những quốc gia đã thành công trong việc tiếp biến nhiều giá trị văn hoá, nhưng BSVHDT vẫn được giữ gìn và có bước phát triển mới Xu thế HNQT hiện nay, đang tạo ra những cơ hội để các dân tộc phát triển, nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức trong giữ gìn BSVHDT Do đó, trong điều kiện HNQT cần phải khẳng định chỗ đứng

và đề cao vai trò vị trí của BSVHDT Việt Nam, muốn vậy phải thường xuyên quan tâm tổng kết thực tiễn, bảo vệ và phát triển nó Khi đó, bản sắc dân tộc sẽ

có sự điều chỉnh và hoàn thiện theo tố chất tinh tuý của dân tộc được nâng cao trong nền văn minh trí tuệ và trong bối cảnh một nền văn hoá tiên tiến giàu tính dân tộc, hiện đại và nhân văn Làm được như thế là thể hiện việc giữ vững và phát huy được BSVHDT trong HNQT Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đảng ta đã đề ra

2.1.1.3 Đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm các nước trong khu vực, cũng như trên thế giới để xác định đường lối đúng đắn phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa trong HNQT Đảng ta luôn nhận thức rõ vị trí vai trò của văn hoá, của BSVHDT đối với sự phát triển đất nước trong mọi giai đoạn cách mạng, thấy rõ những thách thức với BSVHDT trong quá trình HNQT, qua đó đề

ra chủ trương, biện pháp hữu hiệu nhằm giữ gìn, phát huy BSVHDT, góp phần

Trang 36

quan trọng đảm bảo cho đất nước ổn định, phát triển bền vững, thực hiện đúng mục tiêu đã được xác định

Thực tiễn lịch sử các cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược, nhất

là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở thế kỷ XX đã chứng minh bản lĩnh, ý chí Việt Nam, minh chứng cho tinh thần yêu nước sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền của dân tộc Bản lĩnh và ý chí ấy luôn được tiếp nối, được nhân lên, được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi đất nước bị xâm lăng Lịch sử hào hùng ấy càng khẳng định sự kế tục xứng đáng truyền thống dân tộc được hội tụ trong các bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của cha ông, khẳng định sự

tiếp nối sức mạnh dân tộc của chân lý: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”

trong thời đại Hồ Chí Minh

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn có đường lối đúng đắn nhằm định hướng và phát triển văn hoá, chưa bao giờ hạ thấp vị trí, vai trò văn hoá với sự phát triển xã hội Bối cảnh đất nước hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải có cách nhìn cụ thể và toàn diện hơn đảm bảo vừa tận dụng được thời cơ để phát triển đất nước một cách bền vững, đúng mục tiêu đã chọn, vừa giữ vững, phát huy BSVHDT, để không bị hoà tan, đánh mất bản sắc dân tộc khi mở rộng hội nhập quốc tế Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) đã

đề ra đường lối chiến lược với hệ thống những quan điểm, giải pháp cơ bản, toàn diện, đúng đắn, phù hợp nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong xu thế mở rộng HNQT

Quan niệm về bản sắc dân tộc Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) khẳng định:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản

Trang 37

dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [22, tr 56]

Trong quan niệm trên đây của Đảng ta, khi nói đến bản sắc văn hoá là nói đến hệ giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp xây dựng nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Từ thời đại Hùng Vương, trải qua các triều đại phong kiến, đến thời đại Hồ Chí Minh là sự kế tục và phát triển bản lĩnh, ý chí Việt Nam lên tầm cao mới, thật sự xứng đáng là con Rồng, cháu Tiên Sức sống mãnh liệt đó là bản sắc văn hoá, là sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thời Hùng Vương, các bản tuyên ngôn của cha ông ta qua các triều đại phong kiến, tuyên ngôn độc lập thời đại Hồ Chí Minh là những minh chứng lịch sử hào hùng, phản ánh rõ nét nhất sự tiếp nối, phát triển đến đỉnh cao ý chí quật cường, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc của các cộng đồng dân tộc Việt Nam Lời dặn của Bác Hồ với các thế hệ Việt Nam: “Các vua Hùng đã

có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[28, tr 17], chính

là sự nhắc nhở các thế hệ Việt Nam phải luôn nhớ cội nguồn, phải biết giữ gìn và phát huy BSVHDT trong mọi giai đoạn lịch sử, chỉ có vậy mới đảm bảo cho dân

tộc luôn ổn định, trường tồn và phát triển không ngừng

Về nội dung, BSVHDT Việt Nam được biểu hiện cụ thể trên những đặc trưng cơ bản sau đây

Trước hết, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc

Lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết gắn bó cộng đồng là nội dung cốt lõi bao trùm nhất của BSVHDT Việt Nam Đây là nội dung, là hệ giá trị tiêu biểu, đặc sắc nhất, mang tính bền vững và định hướng các giá trị khác, cũng như chi phối toàn bộ quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam Do điều kiện môi trường và vị trí địa lý tự nhiên qui định, trải qua sự biến thiên của lịch sử mấy ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại cũng như chiến đấu chống ngoại

Trang 38

xâm để giữ bờ cõi, khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc đã hun đúc, tôi luyện tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng của dân tộc Việt Nam, mà hiếm thấy dân tộc nào trên thế giới có được Trong lịch sử tồn tại, có lẽ hiếm thấy dân tộc nào trên thế giới lại phải chiến đấu chống lại nhiều kẻ thù xâm lược như dân tộc Việt Nam, kể cả về thời gian, qui mô, tính chất, cũng như sự chênh lệch về lực lượng và phương tiện, tiềm lực và sức mạnh quân sự

Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, để bảo vệ và giữ vững chủ quyền dân tộc, giành lấy tự do độc lập, cộng đồng các dân tộc Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải cố kết vững chắc trong mối tương quan bền chặt giữa cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Vì lợi ích quốc gia dân tộc, mọi thành viên sẵn sàng gạt bỏ thù riêng, siết chặt tay nhau, thống nhất, đoàn kết cao, triệu người như một, chung sức, chung lòng chiến đấu, chống kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Chính trong điều kiện chống xâm lược ấy, đã làm cho tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng tự tôn tự hào dân tộc được phát triển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng; đồng thời thường xuyên được bồi đắp trở thành bản lĩnh, ý chí, tôi luyện thành tinh hoa của bản sắc dân tộc, gắn kết và quện chặt thành sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Tinh thần và ý chí ấy đã luôn được hun đúc, thử thách, dần chuyển hoá thành niềm tin, tình cảm, thành lối sống, lẽ sống, như ý thức thường trực, như hành động tự nhiên vốn có trong mọi thành viên cũng như cả cộng đồng tạo nên sức mạnh vô địch không gì ngăn cản nổi Đó là chân lý đã được khẳng định và kiểm nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần vô giá, nguồn vốn quí báu của dân tộc Việt Nam, mà ít dân tộc có được ở mọi giai đoạn lịch sử phải được nhân lên, được phát huy cao độ nếu muốn dân tộc ổn định, phồn vinh và phát triển bền vững Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khái quát:

“Dân tộc ta vốn có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quí báu của

ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì truyền thống ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [63, tr 171]

Trang 39

Nền tảng và biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước là tinh thần tự tôn, tự lập tự cường, cơ sở cho lòng trung thành và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Vì chỉ có trên tinh thần tự tôn dân tộc chúng ta mới có ý chí quyết chiến, quyết thắng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Lịch sử thường diễn ra với những bước quanh co và mỗi dân tộc

dù lớn hay nhỏ, trình độ phát triển có khác nhau, đều có lòng tự tôn dân tộc, tự khẳng định mình trước cộng đồng nhân loại Tuy nhiên, với người Việt thì tinh thần độc lập, tự tôn tự cường có những nét đặc sắc riêng, không hề lẫn với ai Điều đó được thể hiện và chứng minh rất rõ trong lịch sử dân tộc, từ tên nước, đến tinh thần, khí phách của các tướng lĩnh, các bậc anh hùng thể hiện trước kẻ thù trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các triều đại Chính nhờ nền tảng vững chắc và sức mạnh to lớn ấy nên mặc dù phải chịu nhiều cuộc đô hộ cùng âm mưu đồng hoá, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc dân tộc của mình, làm cho dân tộc ta không những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập chủ quyền dân tộc Tinh thần độc lập và quật cường ấy càng được hun đúc và thử thách khi đối mặt với kẻ thù và nó được khẳng định như là một chân lý của dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử dân tộc Đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Lòng yêu nước, yêu quê hương trên nền tảng tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch

sử Việt Nam” [32, tr 114]

Lòng yêu nước, thương nòi, ý thức tự tôn, tự cường dân tộc là cơ sở của tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng, một trong những yếu tố quyết định tạo sức mạnh cho dân tộc chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Điều này đã được thực tế lịch sử chứng minh và được Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tổng kết lịch sử giữ nước của dân tộc đã khẳng định: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào dân

ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân

ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [63, tr 219] Như vậy, tinh thần yêu nước và đoàn kết là hai yếu tố chủ yếu quyết định thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giữ nước, là nội dung chủ đạo, bao trùm xuyên suốt BSVHDT Việt

Trang 40

Nam Nội dung cơ bản đó cần được nhận thức, được thể hiện, đảm bảo giữ gìn

và phát huy trong mọi giai đoạn và thời điểm lịch sử Hiện nay, tinh thần trên được thể hiện ở quyết tâm của toàn dân tộc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu sánh vai cùng các nước trong khu vực và quốc tế

Thứ hai, là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Đây cũng là một trong những nội dung

cốt lõi của BSVHDT Việt Nam, một di sản giá trị văn hoá tinh thần phong phú, thể hiện tâm hồn và cốt cách của con người Việt Nam qua lối sống, lối ứng xử giữa con người với con người Nội dung giá trị này chi phối qui định cách ứng xử nhân văn giữa cá nhân, cộng đồng, kể cả trong và ngoài nước

Về cơ sở, nếu xét rộng theo trung tâm văn hoá khi so với phương Tây, thì tính nhân ái trong nội dung này thuộc văn hoá phương Đông, chủ yếu ứng

xử theo lối trọng tình nghĩa, không như cách ứng xử trọng lý của phương Tây Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, do ảnh hưởng và chi phối của kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước, của tín ngưỡng tôn giáo, của hoàn cảnh lịch sử đấu tranh chống thiên nhiên để sinh tồn và chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập chủ quyền Những cơ sở đó tạo nên đặc tính riêng, giá trị đặc trưng của bản sắc dân tộc Việt Nam là tình thương với giá trị nhân văn cao cả thể hiện trong lối sống, trong cách ứng xử hết sức giản

dị, nhưng rất tinh tế, đầy tình người

Cần cù, sáng tạo trong lao động là đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam, một trong những nội dung giá trị truyền thống của BSVHDT Việt Nam

Do điều kiện môi trường thiên nhiên khắc nghiệt đã buộc con người Việt Nam phải dùng tất cả sức lực, trí lực, cần mẫn, chịu khó “thức khuya dậy sớm”, “một nắng hai sương”, “năm liệu bảy lo”, tích cực hăng hái lao động sản xuất làm ra nhiều lúa gạo, của cải vật chất, duy trì sự sống, đảm bảo sự tồn tại phát triển của bản thân cũng như cộng đồng Từ đó, đức tính cần cù sáng tạo được hình thành phát triển và trở thành giá trị cơ bản, cốt lõi trong bản sắc văn hoá dân tộc

Ngày đăng: 18/10/2023, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph. Ăngghen (1877-1878), “Chống Đuy Rinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 127-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy Rinh”, "C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
2. Ph. Ăng ghen (1888), “Lút vích phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học Cổ điển Đức”, C. Mác và Ph.Ăng ghen Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 387-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lút vích phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học Cổ điển Đức”", C. Mác và Ph.Ăng ghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Bàn về thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội 1980, trang 382 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thanh niên
Nhà XB: Nxb Thanh niên
5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2002
6. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Kết luận hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
7. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2007), Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
8. Nguyễn Đức Bình (2005), Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
9. Trần Văn Bính (2000 chủ biên), Vai trò văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng hiện nay
Nhà XB: Nxb Lao động
10. Bộ ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
11. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
12. Nguyễn Thế Cường (2008), Giao lưu, tiếp biến văn hoá và bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam trong toàn cầu hoá, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Việt Nam học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu, tiếp biến văn hoá và bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam trong toàn cầu hoá", Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Việt Nam học
Tác giả: Nguyễn Thế Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
13. Đinh Xuân Dũng (1999), Nuôi dưỡng giá trị văn hoá trong nhân cách người chiến sỹ QĐNDVN, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dưỡng giá trị văn hoá trong nhân cách người chiến sỹ QĐNDVN
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1999
14. Thành Duy (2004), Văn hoá đạo đức mấy vấn đề lý luận, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá đạo đức mấy vấn đề lý luận
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
15. Phạm Đức Dương (2008), “Giao lưu văn hoá Việt Nam và thế giới”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Việt Nam học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu văn hoá Việt Nam và thế giới”, "Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Việt Nam học”
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
16. Dương Tự Đam (2001), Văn hoá thanh niên và thanh niên với văn hoá dân tộc, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá thanh niên và thanh niên với văn hoá dân tộc
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w