Ngoài công pháp quốc tế đề cập và giải quyết ở mức độ nhất định một số khía cạnh mang tính lý luận về nội luật hóa, các khoa học pháp lý chuyên ngành thường hướng sự quan tâm vào những k
Trang 1PHẠM VĨNH HÀ
NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG
VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2023
Trang 2PHẠM VĨNH HÀ
NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG
VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 9 38 01 06
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê Minh Tâm
HÀ NỘI - 2023
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 4
Trang
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 32
4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 34
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
NỘI DUNG LUẬN ÁN
35
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
QUỐC GIA
36
1.1 Khái niệm, vai trò của nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
36
1.2 Nguyên tắc, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp nội luật hóa điều
ước quốc tế trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
57
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
69
1.4 Nội luật hóa điều ước quốc tế ở một số nước và những kinh nghiệm cho
Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
74
Trang 5DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến nội luật hóa trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
2.5 Đánh giá chung về kết quả nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
128
CHƯƠNG 3:
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC
TẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
137
3.1 Quan điểm về nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Trang 6CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ĐƯQT : Điều ước quốc tế
HTPL : Hệ thống pháp luật PLQG : Pháp luật quốc gia PLQT : Pháp luật quốc tế VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật ngày càng trở nên mạnh mẽ Một trong những hiện tượng pháp lý xuất hiện khá phổ biến trên thế giới là sự chuyển hóa những nội dung trong các quy định của ĐƯQT vào các quy định của pháp luật quốc gia Quá trình này thường được gọi là
“nội luật hóa” và có thể bắt gặp ở nhiều lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau Tại Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề nội luật hóa ĐƯQT xuất hiện khá muộn (khoảng đầu những năm 2000) và còn thiếu kết nối giữa các chuyên ngành Ngoài công pháp quốc tế (đề cập và giải quyết ở mức độ nhất định một số khía cạnh mang tính lý luận về nội luật hóa), các khoa học pháp lý chuyên ngành thường hướng sự quan tâm vào những khía cạnh thực tiễn của nội luật hóa ĐƯQT, các tác giả thường mặc nhiên thừa nhận hiện tượng này trong quá trình nghiên cứu mà ít có những bàn luận chuyên sâu
Với việc Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng về mọi mặt, số lượng ĐƯQT mà chúng ta đàm phán và ký kết không ngừng tăng lên theo từng năm Hoạt động nội luật hóa các ĐƯQT cũng ngày càng trở nên thiết thực, đòi hỏi phải có những nghiên cứu rộng hơn và sâu hơn Trong phần lớn các công trình nghiên cứu ở nước
ta, nội luật hóa ĐƯQT chủ yếu được tiếp cận với tư cách một phương thức bảo đảm cho các nghĩa vụ quốc tế được cam kết trong điều ước được thực thi một cách đầy
đủ, thực chất Góc độ tiếp cận này mới chỉ nhấn mạnh được vai trò của nội luật hóa trong việc tổ chức thực hiện ĐƯQT mà chưa thấy được những vai trò rất có ý nghĩa khác của nội luật hóa ĐƯQT đối với bản thân HTPL quốc gia Nội luật hóa ĐƯQT
có sự liên hệ rất phức tạp với việc xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia, thể hiện
ở cả những điểm giao thoa cũng như sự khác biệt Trước hết, quy trình nội luật hóa ĐƯQT đan nhập với quy trình xây dựng pháp luật ở nhiều thao tác và cả chủ thể tiến hành, nhưng khác nhau về mục đích và điều kiện Thứ hai, yêu cầu nội luật hóa ĐƯQT có tác động qua lại với yêu cầu hoàn thiện HTPL Chỉ có thông qua việc hoàn thiện HTPL quốc gia thì một ĐƯQT cụ thể mới được nội luật hóa đầy đủ và ở chiều ngược lại, chính việc nội luật hóa các ĐƯQT nói chung cũng là một biện pháp hiệu quả để hoàn thiện HTPL quốc gia Xem xét nội luật hóa ĐƯQT trong sự gắn kết với hoạt động xây dựng và hoàn thiện HTPL là một hướng tiếp cận mới, đặc biệt phù hợp với góc độ nghiên cứu của chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật Hướng nghiên cứu này cũng mang lại nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn khi cho phép
Trang 8chúng ta nhận diện rõ hơn các chủ thể và các thao tác nội luật hóa ĐƯQT trong quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, bóc tách được những kết quả của nội luật hóa khỏi kết quả thực thi ĐƯQT nói chung, trên cơ sở đó đánh giá được những tác động thực tế của nội luật hóa lên các thành tố khác nhau của HTPL Việt Nam Vai trò của nội luật hóa các ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng
đã được khẳng định tại Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị Theo đó, “xác định rõ quy trình, cơ chế nội luật hóa các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên” được nhấn mạnh là một giải pháp cụ thể nhằm đổi mới
cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật Tinh thần này cần được kế thừa và tiếp tục phát huy khi yêu cầu xây dựng và hoàn thiện HTPL Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới, gắn với bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045
Thực tiễn nội luật hóa các ĐƯQT ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ nhiều bất cập Việc thiếu cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện, thiếu nhất quán trong lựa chọn cách thức áp dụng ĐƯQT, thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chủ thể tham gia vào công tác nội luật hóa không những có nguy cơ làm giảm hiệu quả của các nỗ lực thực thi cam kết quốc tế
mà còn khiến HTPL Việt Nam chưa tiếp thu được một cách trọn vẹn nhất những giá trị pháp lý tiến bộ từ PLQT Những hạn chế này một phần đến từ việc chúng ta chưa nhận thức thực sự đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng
và hoàn thiện HTPL
Với tất cả những sự cần thiết đã trình bày ở trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa
chọn đề tài “Nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tiếp tục làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận về nội luật hóa ĐƯQT, đặc biệt là nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL, đánh giá hoạt động nội luật hóa ĐƯQT trong thực tiễn ở Việt Nam từ đó xác định những phương hướng, giải pháp phù hợp để đẩy mạnh việc nội luật hóa các ĐƯQT đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện HTPL và hội nhập quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho việc nghiên cứu luận án bao gồm:
Trang 9- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL và các vấn đề lý luận có liên quan như: sự cần thiết và vai trò của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia; các yếu tố ảnh hưởng và các yêu cầu đặt ra đối với nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia; nguyên tắc, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia…
- Đánh giá khái quát được vai trò và những kết quả thực tế của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL Việt Nam thời gian qua, chỉ ra được những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, bất cập, đặc biệt là những nguyên nhân thuộc về chính HTPL
- Xác định được các quan điểm cần thiết và đề xuất được những giải pháp, kiến nghị
có tính khả thi nhằm khai thác và phát huy những vai trò của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: Vấn đề nội luật hóa ĐƯQT dưới cả
tư cách tĩnh (một khái niệm pháp lý) và tư cách động (một hoạt động thực tiễn); các quan điểm, quan niệm trên thế giới về mối quan hệ PLQG - PLQT; các quan điểm, quan niệm trên thế giới về khái niệm HTPL; chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công cuộc hoàn thiện HTPL; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đối ngoại, hợp tác quốc tế; các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên; pháp luật thực định Việt Nam về ký kết, thực hiện ĐƯQT, pháp luật thực định Việt Nam về quy trình xây dựng pháp luật…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ đề cập đến vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên hoặc chuẩn bị trở thành thành viên, không giải quyết vấn đề nội luật hóa các nguyên tắc chung của luật quốc tế hay các tập quán quốc tế
Trọng tâm của luận án là nghiên cứu nội luật hóa ĐƯQT trong sự liên hệ với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia, do đó tác giả chỉ đề cập, phân tích những khía cạnh lý luận và thực tiễn về HTPL phục vụ trực tiếp cho yêu cầu nghiên cứu đó, không coi HTPL là đối tượng nghiên cứu trung tâm
Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu vấn đề nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, tức là sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016 có hiệu lực Để
Trang 10đảm bảo tính khái quát của các kết luận khoa học, trong quá trình phân tích, lập luận, luận án cũng có sự đối sánh với pháp luật và thực tiễn triển khai thực hiện hoạt động này ở giai đoạn 2005-2015 và trước đó
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối đối ngoại, chính sách phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do đặc thù của góc độ tiếp cận nên phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa được xác định là phương pháp nghiên cứu chủ đạo, được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án cùng với phương pháp phân tích và tổng hợp Bên cạnh đó, tác giả cũng kết hợp sử dụng các phương pháp quen thuộc khác để triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể, như: Phương pháp lịch
sử (phần tổng quan); Phương pháp logic (chủ yếu sử dụng ở Chương 1); Phương pháp phân loại và hệ thống hóa (mục 1.2); Phương pháp giả thuyết, dự báo khoa học (mục 1.1.4 và 2.4); Phương pháp tổng kết kinh nghiệm (mục 1.4.6 và 2.5); Phương pháp thống kê - mô tả ( mục 2.2.2, 2.3.2 và phần phụ lục); Phương pháp phân tích quy phạm (mục 2.2.1 và 2.3.2) Mặc dù không viết dưới góc độ so sánh nhưng luận án cũng sử dụng phương pháp so sánh như một công cụ bổ trợ giúp việc nghiên cứu thêm sinh động và toàn diện (tập trung ở các mục 1.1, 1.4 và 2.4)
Tác giả không lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành mà nhìn nhận vấn đề dưới lăng kính của lý luận chung về nhà nước và pháp luật, tuy nhiên có tính đến khả năng tiếp hợp kết quả nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành khác
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL từ góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, luận án có thể đóng góp cho khoa học pháp lý một số vấn đề mới sau đây:
Thứ nhất, luận án đã gắn kết những nội dung lý luận về nội luật hóa ĐƯQT với
hệ thống tri thức, lý thuyết về HTPL, về xây dựng và hoàn thiện HTPL đã được thừa nhận trong khoa học pháp lý
Thứ hai, luận án đã làm rõ được sự cần thiết và các đặc điểm của nội luật hóa
ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia
Thứ ba, luận án đã xây dựng khung lý thuyết về chủ thể, nội dung, hình thức,
phương pháp nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia và sử dụng để soi chiếu vào thực tiễn ở Việt Nam
Trang 11Thứ tư, luận án đã chứng minh được ở Việt Nam hiện nay, hoạt động nội luật hóa
ĐƯQT có sự liên hệ chặt chẽ với hoạt động xây dựng pháp luật, yêu cầu nội luật hóa ĐƯQT có tác động qua lại với yêu cầu hoàn thiện HTPL, kết quả nội luật hóa ĐƯQT
có ảnh hưởng tới chất lượng của HTPL
Thứ năm, luận án đã làm rõ vai trò của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và
hoàn thiện HTPL thông qua những tác động thực tế của hoạt động này lên các yếu tố cấu thành của HTPL Việt Nam hiện nay, đồng thời luận giải những tác động ngược trở lại của các yếu tố thuộc HTPL Việt Nam đối với nội luật hóa ĐƯQT
Thứ sáu, luận án đã đưa ra được một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm đẩy
mạnh việc nội luật hóa các ĐƯQT đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện HTPL Việt Nam bám sát theo các quan điểm chỉ đạo và quan điểm khoa học được xác định trước đó
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Tổng quan về tình hình nghiên cứu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
Chương 2: Thực tiễn nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nội luật hóa điều ước quốc tế trong xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 12TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CỦA LUẬN ÁN
1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.1 Những công trình nghiên cứu đề cập đến nội luật hóa/chuyển hóa điều ước quốc tế như một hiện tượng chung của luật quốc tế
J G Starke, I A Shearer (1994), Starke’s International Law (11th edition), Butterworths (tạm dịch: Giáo trình Luật quốc tế của Starke) và Malcolm N Shaw
(2017), International Law (8th edition), Cambridge University Press (tạm dịch: Giáo
trình Luật quốc tế của Shaw) Đây là hai cuốn sách thuộc hàng kinh điển về công pháp quốc tế, trình bày hầu hết các vấn đề pháp lý cơ bản của luật quốc tế và được xem như hình mẫu cho các giáo trình của nhiều trường đại học Với sự gia tăng và
mở rộng của luật pháp quốc tế, các câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa trật tự pháp lý nội bộ của một quốc gia cụ thể và các quy tắc, nguyên tắc chi phối toàn bộ cộng đồng quốc tế cũng bắt đầu nảy sinh như một điều tất yếu Starke trình bày những nội dung liên quan đến mối quan hệ này tại chương 4 trong giáo trình của mình Tương tự, cũng ở chương 4, khi luận giải mối quan hệ PLQG-PLQT, Shaw phân tích khá sâu về “học thuyết chấp nhận”, “học thuyết chuyển hóa” Đây được xem là những
lý thuyết tiền đề của nội luật hóa ĐƯQT
Ignaz Seidl-Hohenveldern (1963), “Transformation or Adoption of
International Law into Municipal Law”, International and Comparative Law
Quarterly, 12(1), 88-124 (tạm dịch: Chuyển hóa hay chấp nhận luật quốc tế vào luật
quốc gia) Bài viết phân tích những ảnh hưởng của tư tưởng Mosler (học giả nổi tiếng người Đức) trong việc từ bỏ cách quan niệm rằng luật quốc tế muốn có hiệu lực trong phạm vi luật quốc gia cần phải được “chuyển hóa” bằng việc tạo ra các quy phạm tương ứng của nội luật Đức Thay vào đó, theo Mosler, chỉ cần có “sự chấp nhận” PLQT vào PLQG là đủ Cách quan niệm này hình thành nên một trật tự áp dụng mà qua đó vị thế của luật quốc tế được tăng cường so với luật quốc gia một khi giữa chúng xảy ra những xung đột Tác giả bài viết cũng chỉ ra rằng trong các nghiên cứu sau này, nhiều học giả cũng sử dụng hai thuật ngữ “chuyển hóa” và “chấp nhận” như cách hiểu của Mosler (dù còn đôi chỗ chồng lấn) song trong quá khứ chúng từng không được phân biệt một cách rạch ròi
John H Jackson (1992), “Status of Treaties in Domestic Legal Systems: A
Policy Analysis”, The American Journal of International Law, Vol 86, No.2, pp
310-340 (tạm dịch: Địa vị của các điều ước quốc tế trong các hệ thống pháp luật quốc gia: Một phân tích chính sách) Tiếp nối cuộc tranh luận “kéo dài hơn một thế kỷ” liên
Trang 13quan đến cách thức ĐƯQT được thực hiện trong môi trường luật quốc gia, trực tiếp hay không trực tiếp, công trình này có phương pháp tiếp cận chú trọng về mặt thuật ngữ Trong bài viết, tác giả giới thiệu hàng loạt thuật ngữ khác nhau mà cách học giả cũng như các nhà hoạt động thực tiễn sử dụng để diễn tả các khái niệm “luật quốc gia”, “sự áp dụng trực tiếp”, “sự chuyển hóa” Tác giả cũng luận giải những thuật ngữ nào có thể sử dụng thay thế cho nhau, những thuật ngữ nào gần gũi nhưng không đồng nhất, thuật ngữ nào sát nghĩa và phù hợp hơn cả
Harold Hongju Koh (1997), “Why Do Nations Obey International Law?”, The
Yale Law Journal, Vol 106, 1997, tr 2599-2659 (tạm dịch: Tại sao các quốc gia tuân
thủ luật quốc tế) Đây là một bài đánh giá tổng thuật có sự trình bày rất công phu về lịch sử các học thuyết pháp lý của luật quốc tế Tại phần thứ 3 của công trình, tác giả
đi sâu phân tích các “quá trình pháp lý xuyên quốc gia” thúc đẩy sự tương tác, diễn giải và nội luật hóa các quy phạm luật quốc tế vào HTPL trong nước - những vấn đề
mà theo tác giả là then chốt để hiểu tại sao các quốc gia tuân thủ PLQT
Stefan Kadelbach (1999), “International law and the Incorporation of Treaties
into Domestic Law”, German Yearbook of International Law (Vol 42), Duncker &
Humblot (tạm dịch: Luật quốc tế và sự tiếp hợp các điều ước quốc tế vào luật quốc gia) Theo tác giả, việc chuyển hóa ĐƯQT là một vấn đề truyền thống của luật quốc gia và thường được xem xét như một khía cạnh của trật tự pháp luật quốc gia Thông thường, hiến pháp của các quốc gia sẽ tuyên bố việc bằng cách nào các điều ước có thể được tiếp hợp/ đưa vào (incorporate) PLQG và loại điều ước nào đòi hỏi những thủ tục cụ thể nào, với bước đầu tiên là sự chấp thuận của quốc hội Tác giả cũng phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của việc đặt ra vấn đề chuyển hóa ĐƯQT ở cả những quốc gia theo chủ nghĩa nhất nguyên lẫn nhị nguyên, đồng thời khẳng định dù xuất phát từ góc nhìn nào, việc bản thân ĐƯQT áp đặt cho các bên quốc gia một nghĩa vụ phải tiếp hợp bằng những biện pháp xác định là rất hãn hữu
Ian Brownlie (2008), Principles of public international law (7th edition), Oxford University Press (tạm dịch: Các nguyên tắc của công pháp quốc tế) Được xem như một cuốn toàn thư về luật quốc tế, chứa đựng trong đó những nội dung vô cùng chắt lọc, công trình này giải quyết những vấn đề cốt lõi của luật quốc tế trên quan điểm của một luật sư làm công tác thực tiễn Mối quan hệ PLQT-PLQG và vị trí của ĐƯQT trong môi trường luật quốc gia đương nhiên cũng là một nội dung được tác giả đề cập và luận giải trong tác phẩm
Olivier Corten, Pierre Klein (2011), The Vienna Conventions on the Law of
Treaties: A Commentary (Oxford Commentaries on International Law), Oxford
Trang 14University Press (tạm dịch: Bình luận các công ước Viên về Luật điều ước quốc tế) Việc thực hiện Công ước Viên năm 1969 và Công ước Viên năm 1986 được cho là gặp phải một số trở ngại do quy định của chúng chưa được rõ ràng, trong đó có quy định về nghĩa vụ của quốc gia trong việc triển khai thực hiện ĐƯQT Công trình nghiên cứu của hai tác giả Olivier Corten và Pierre Klein đã tập hợp các phân tích, bình luận chuyên sâu của hơn 90 nhà nghiên cứu về luật quốc tế ở 20 quốc gia đối với mỗi điều khoản của hai Công ước trong đó có những khía cạnh liên quan trực tiếp đến vấn đề chuyển hóa ĐƯQT
Duncan B Hollis (2012), The Oxford Guide to Treaties, Oxford University
Press (Tạm dịch: Tài liệu hướng dẫn của Oxford về Điều ước quốc tế) Công trình làm sáng tỏ các quy định của PLQT và pháp luật một số quốc gia về đàm phán, ký kết, giải thích và thực hiện ĐƯQT Các ví dụ thực tiễn trong công trình này đã góp phần minh chứng cho những vấn đề mang tính lý luận bao gồm cả vấn đề nội luật hóa ĐƯQT
Anthony Aust (2013), Modern Treaty Law and Practice, Cambridge University
Press (tạm dịch: Luật điều ước hiện đại và thực tiễn) Ngoài việc phân tích các quy định chung của Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế, công trình phân tích khía cạnh thực tiễn của quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện ĐƯQT, đặc biệt
là việc vận dụng hai học thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận để giải quyết mối quan hệ giữa ĐƯQT và PLQG Việc thực hiện ĐƯQT được phân tích không chỉ
là nghĩa vụ của quốc gia mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể đặc biệt của luật quốc tế cũng như các thiết chế và tổ chức quốc tế (EC; EU )
Mario Mendez (2013), The legal effects of EU Agreements, Oxford University
Press (tạm dịch: Tác động pháp lý của các hiệp ước Liên minh Châu Âu) Qua việc xem xét toàn diện các tác động pháp lý của các hiệp ước EU đã được ký kết, cuốn sách cung cấp một phân tích thấu đáo về bộ phận đang phát triển nhanh chóng và ngày càng quan trọng này của pháp luật Liên minh châu Âu (tính đến thời điểm công trình được xuất bản, khối EU đã ký kết hơn 1000 hiệp ước lớn nhỏ) Các tác giả chỉ
ra rằng, dù các hiệp ước thường xuyên được viện dẫn trong các vụ kiện tại tòa án của các quốc gia thành viên cũng như tòa án Châu Âu đặt tại Luxembourg, nhóm quy định về trật tự pháp lý của các quốc gia thành viên và trật tự pháp lý của EU vẫn chưa được khám phá đầy đủ Những nội dung có liên quan đến đề tài luận án được trình
bày chủ yếu trong chương 1 của cuốn sách: “The legal effect of treaties in domestic
legal orders and the role of domestic courts: Framing the debate” (tạm dịch: Hiệu
Trang 15lực pháp lý của điều ước quốc tế trong trật tự pháp luật quốc gia và vai trò của tòa án trong nước: Định hình tranh luận)
Dana Zartner (2017), Internalization of International Law, Oxford Research
Encyclopedias (tạm dịch: Nội luật hóa pháp luật quốc tế) Có thể xem tài liệu này là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện nhất các khía cạnh pháp lý cơ bản của vấn đề nội luật hóa bao gồm khái niệm nội luật hóa, sự cần thiết và vai trò của nội luật hóa, quy trình nội luật hóa, các yếu tố ảnh hưởng đến nội luật hóa Đặc biệt, tác giả của nghiên cứu cho rằng, các quy phạm của luật quốc tế không được thể hiện
ở dạng thành văn (trong các điều khoản của điều ước) cũng có thể là đối tượng của nội luật hóa
Anthea Roberts, Paul B Stephan, Pierre-Hugues Verdier, Mila Versteeg (2018),
Comparative International Law, Oxford University Press (tạm dịch: Luật quốc tế so
sánh) Cuốn sách này có cách tiếp cận rất độc đáo bởi luật quốc tế thường được quan niệm là một lĩnh vực pháp luật mà ở đó sự so sánh xuyên quốc gia dường như không phù hợp, khi mà tất cả các bên đều chịu sự điều chỉnh của cùng một quy tắc Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, các quy phạm luật quốc tế có thể được giải thích bởi các cơ quan lập pháp, hành pháp cũng như tư pháp của các quốc gia theo những cách rất khác nhau mà chính sự giải thích này có thể tác động lại và làm thay đổi những quy phạm được giải thích Cuốn sách được thiết kế dưới dạng kỷ yếu và được kết cấu thành các nhóm chuyên đề, trong đó tập hợp các bài viết của những học giả hàng đầu
về luật quốc tế và luật so sánh Các chuyên đề có chứa nội dung liên quan đến cách thức chuyển hóa hay chấp nhận quy phạm luật quốc tế vào PLQG nằm tập trung ở
phần thứ 5 “Luật quốc tế so sánh và các thiết chế trong nước: Lập pháp và hành
pháp” và phần thứ 6 “Luật quốc tế so sánh và các thiết chế trong nước: Tòa án quốc gia” của cuốn sách
1.2 Những công trình nghiên cứu nội luật hóa điều ước quốc tế từ góc nhìn của quốc gia
Francis G Jacobs, Shelly Roberts (1987), The Effect of Treaties in Domestic
Law: The United Kingdom National Committee of Comparative Law: 7, Sweet &
Maxwell (tạm dịch: Hiệu lực của các Điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia) Công trình luận giải cụ thể về địa vị của các ĐƯQT trong pháp luật của Liên hiệp Vương quốc Anh, nơi mà các điều ước không phát sinh bất cứ hiệu lực gì nếu không trở thành một phần của luật nội địa Theo các tác giả, việc đưa ĐƯQT vào PLQG có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau: đòi hỏi hoạt động lập pháp căn bản hoặc chỉ cần được cấp hiệu lực bởi một đạo luật “không mang ý tưởng lập pháp”
Trang 16Kal Raustiala (1995), The Domestication of International Commitments (IIASA
Working Paper), IIASA, Laxenburg, Austria: WP-95-115 (tạm dịch: Sự nội luật hóa các cam kết quốc tế) Tài liệu này tập trung tìm hiểu quy trình thực thi pháp lý và xem xét cách thức chuyển hóa các cam kết quốc tế thành luật trong nước ở 6 quốc gia thuộc khối OECD gồm Mỹ, Anh, Đức Pháp, Ý và Hà Lan
Hanqin Xue, Qian Jin (2009), “International Treaties in the Chinese Domestic
Legal System”, Chinese Journal of International Law, Vol.8, Issue 2, pages 299-322
(tạm dịch: Điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Trung Quốc) Bài viết cho thấy góc nhìn của các học giả Trung Quốc đối với vấn đề thực thi ĐƯQT trong môi trường luật quốc gia ở nước này Qua sự trình bày của hai tác giả, có thể thấy nhiều nét tương đồng giữa Trung Quốc và Việt Nam: Hiến pháp và các luật cơ bản của Trung Quốc cũng không có điều khoản chung quy định chính xác địa vị của ĐƯQT trong hệ thống PLQG; Trung Quốc ngày càng đạt được nhiều thành tựu trong việc thực thi các cam kết quốc tế với nhiều cách thức đa dạng, bao gồm cả viện dẫn và áp dụng trực tiếp tại tòa (trong lĩnh vực dân sự, thương mại) lẫn việc được quy định lại trong luật quốc gia (lĩnh vực hình sự) Theo các tác giả, ở Trung Quốc hiện nay các ĐƯQT có thể được thực thi theo 3 mô hình khác nhau: (i) Thực thi thông qua các biện pháp hành chính (đối với các thỏa thuận song phương ký kết với danh nghĩa chính phủ hoặc cấp bộ); (ii) Chuyển hóa thông qua hoạt động lập pháp quốc gia (thường bằng cách ban hành luật chuyên biệt hoặc sửa đổi luật đang có hiệu lực); (iii) Áp dụng trực tiếp các quy phạm điều ước
Council of Europe Staff (2001), Treaty Making: Expression of consent by states
to be bound by a treaty, Kluwer Law International (tạm dịch: Kết ước: Cách thức
biểu thị sự chấp nhận ràng buộc bởi điều ước của các quốc gia) Theo công trình nghiên cứu này, quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế có ảnh hưởng quan trọng tới việc duy trì và phát triển quan hệ quốc tế Tuy nhiên, quy trình, thủ tục mà mỗi quốc gia biểu thị sự ràng buộc với ĐƯQT, trên cơ sở đó để triển khai thực hiện trong lãnh thổ quốc gia là rất khác nhau Quy trình, thủ tục này phụ thuộc vào các quy định của Hiến pháp, VBQPPL quốc gia cũng như các điều kiện về chính trị và lịch sử của quốc gia đó Với những nhận xét mang tính tổng quát đó, công trình cung cấp thông tin toàn diện và cập nhật về quy trình, thủ tục thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với ĐƯQT; quy trình, thủ tục thực hiện ĐƯQT (trong đó có quy trình, thủ tục nội luật hóa ĐƯQT) của 39 quốc gia là thành viên của Ủy ban tư vấn pháp lý
về Công pháp quốc tế (The Committee of Legal Advisers on Public International Law
- CAHDI) của Hội đồng châu Âu (The Council of Europe)
Trang 17Christof Heyns and Frans Viljoen (2002), The impact of the United Nations
human rights treaties on the domestic level, Brill (tạm dịch: Tác động của những điều
ước về quyền con người của Liên hiệp quốc ở cấp độ quốc gia) Công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện những tác động trong nước tạo ra từ sáu điều ước chính của Liên hiệp quốc về quyền con người (CERD, CESCR, CCPR, CEDAW, CAT, CRC) Những điều ước này mặc dù được chấp nhận một cách rộng rãi (tất cả các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc đều đã phê chuẩn ít nhất một điều ước) nhưng lại nổi tiếng với sự yếu kém trong khâu thực thi Giải đáp câu hỏi về mối nghi ngờ rằng những ĐƯQT về quyền con người của Liên hiệp quốc ít có sự tác động ở cấp độ trong nước, nhóm tác giả tiến hành những nghiên cứu khảo sát tại 20 quốc gia khác nhau gồm Úc, Braxin, Canada, Colombia, Séc, Ai cập, Estonia, Phần Lan, Ấn Độ, Iran, Jamaica, Nhật Bản, Mexico, Philipin, Rumani, Nga, Senegal, Nam Phi, Tây Ban Nha
và Zambia Đặc biệt, phần tổng quan về kết quả nghiên cứu (Overview of Study Results) - kết quả của việc tổng hợp và xử lý 20 bản báo cáo cụ thể từ các quốc gia -
đã mô hình hóa các cơ chế thực thi ĐƯQT, các cách thức mà qua đó quy phạm điều ước được chấp nhận, tiếp hợp hoặc chuyển hóa để thực hiện Công trình cũng chứng minh rằng, ở cấp độ trong nước, các ĐƯQT không chỉ tác động đến hoạt động lập pháp mà còn tác động đến các quyết định tư pháp cũng như sự thay đổi và phát triển chính sách
American Society of International Law (2005), National Treaty Law and
Practice, Martinus Nijhoff Publishers (tạm dịch: Luật điều ước của quốc gia và thực
tiễn áp dụng) Cuốn sách phân tích pháp luật và thực tiễn của 19 quốc gia bao gồm
Áo, Canada, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Pháp, Đức, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Nga, Nam Phi, Thụy Sĩ, Thái Lan, Vương quốc Anh, và Hoa
Kỳ liên quan đến việc đàm phán, ký kết thực hiện các ĐƯQT Cũng tiếp cận trên quan điểm so sánh nhưng khác với cuốn “Luật quốc tế so sánh” đã giới thiệu ở trên, công trình này cung cấp những phân tích trực quan và mang tính đặc trưng hơn từ góc nhìn của từng quốc gia Các chương của cuốn sách được thiết kế theo một đề cương chung bao gồm một bài luận viết bởi một chuyên gia đại diện cho mỗi quốc gia được khảo sát cùng với những đoạn trích luật và tài liệu liên quan
Fisnik Korenica, Dren Doli (2012), “The relationship between international treaties and domestic law: A view from Albanian constitutional law and practice”,
Pace International Law Review, volume 24, issue 1 (tạm dịch: Mối quan hệ giữa điều
ước quốc tế và nội luật nhìn từ luật Hiến pháp Anbani và thực tiễn) Đúng như tên gọi, trong bài viết các tác giả tiếp cận từ góc nhìn của Anbani (một nước theo chủ
Trang 18nghĩa nhất nguyên) và pháp luật hiện hành của quốc gia này để giải quyết mối quan
hệ giữa ĐƯQT và trật tự pháp luật quốc gia Xoay quanh mối quan hệ phức tạp này, trong thực tiễn Anbani vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời rõ ràng mà theo các tác giả cần phải được giải thích trên tinh thần của Hiến pháp chứ không chỉ dựa vào các điều khoản cụ thể Đáng chú ý, bài viết có phần tổng thuật khá quy mô về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác liên quan đến chủ đề bàn luận, trong đó khá nhiều quan điểm về sự chuyển hóa/ nội luật hóa ĐƯQT đã được tóm tắt và giới thiệu một cách có hệ thống
Từ góc nhìn của các quốc gia Đông Phi, tác giả Judy Obitre-Gama có bài viết
“The application of international law into national law: Policy and Practice” (tạm
dịch: Việc áp dụng luật quốc tế vào luật quốc gia: Chính sách và thực tiễn) trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế của WHO về Luật kiểm soát thuốc lá toàn cầu Bài viết trình bày nhiều ví dụ cụ thể để minh họa cho hiện tượng chuyển hóa PLQT liên quan đến lĩnh vực môi trường vào luật pháp của Uganda, Kenya, Tazania - những quốc gia nghiêng về chủ nghĩa nhị nguyên
2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
2.1 Những công trình nghiên cứu đi sâu vào các khía cạnh lý luận của nội luật hóa điều ước quốc tế
2.1.1 Những công trình góp phần định hình khung lý thuyết về nội luật hóa điều ước quốc tế
Công trình đầu tiên có tính chất nghiên cứu khái quát về nội luật hóa phải nhắc
đến là đề tài nghiên cứu cấp Bộ "Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết
và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do TS Hoàng Phước Hiệp
làm chủ nhiệm (Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm 2007) Thành tựu lớn nhất của đề tài là xây dựng được một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về nội luật hóa
được phần lớn các học giả về sau kế thừa, theo đó:“Nội luật hóa là quá trình đưa nội
dung các quy phạm ĐƯQT vào nội dung của quy phạm pháp luật trong nước thông qua việc xây dựng, ban hành (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) văn bản quy phạm pháp luật trong nước để có nội dung pháp lý đúng với nội dung của các quy định của điều ước đã được ký kết hoặc gia nhập” Trong phần cơ sở lý luận,
nhóm tác giả cũng đã xây dựng được một khung lý thuyết bao gồm các đặc điểm của nội luật hóa và các mô hình nội luật hóa ĐƯQT Đề tài cũng phân tích pháp luật và thực tiễn của một số nước và của Việt Nam về nội luật hóa ĐƯQT nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế thương mại Bên cạnh những thành công đó, đề tài vẫn có những vấn đề còn bỏ ngỏ như chưa đề cập đến chủ thể và nội dung của nội luật hóa,
Trang 19các yêu cầu đối với hoạt động nội luật hóa… Hai trong số các đặc điểm của nội luật hóa được giới thiệu thực chất lại là đặc điểm của “văn bản nội luật hóa”
Một công trình khác cũng không kém phần quan trọng trong việc cung cấp các
tri thức khoa học chung về nội luật hóa ĐƯQT, đó là đề tài cấp Bộ “Hoàn thiện quy
trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên -
Cơ sở lý luận và thực tiễn” do Viện Nghiên cứu lập pháp thực hiện (bảo vệ năm
2013) Coi nội luật hóa ĐƯQT là đối tượng nghiên cứu trung tâm, nhóm tác giả đánh giá rằng các công trình trước đây mới chỉ nghiên cứu nội luật hóa ở một số khía cạnh riêng rẽ hoặc trong một số lĩnh vực cụ thể chứ chưa có tính toàn diện Trên cơ sở đó,
đề tài không chỉ đi sâu vào hai khía cạnh là quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa
mà còn giải quyết nhiều nội dung lý luận liên quan khác như chủ thể, mục đích, nguyên tắc, vai trò của nội luật hóa ĐƯQT Phân tích ảnh hưởng của quan điểm nhất nguyên, nhị nguyên đến việc lựa chọn cách thức thực hiện ĐƯQT, đề tài khẳng định nội luật hóa ĐƯQT không phải là điều kiện bắt buộc để thực hiện các điều ước Về khái niệm nội luật hóa ĐƯQT nhóm tác giả cho rằng “nội luật hóa” và “chuyển hóa”
có cùng bản chất và nội hàm, thực ra là một tuy cách dùng từ có khác nhau Khi xây dựng các đặc điểm của nội luật hóa ĐƯQT, nhóm tác giả có ý thức phân biệt nội luật hóa với các “hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật khác” như lập pháp, lập quy, pháp điển hóa, hợp nhất hóa… Nhóm nghiên cứu thể hiện một góc nhìn rất tân tiến khi cho rằng hoạt động nội luật hóa có thể diễn ra ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình ký kết và thực hiện ĐƯQT: Thông thường nó được tiến hành song song với quá trình thực hiện các hành vi ràng buộc hoặc trong giai đoạn triển khai thực hiện điều ước, nhưng cũng có khi được tiến hành từ trước khi điều ước phát sinh hiệu lực đối với quốc gia Với vị trí, vai trò là cầu nối giữa hai HTPL, nội luật hóa giúp củng
cố và hoàn thiện vững chắc hệ thống PLQG với những sửa đổi, bổ sung, chỉnh lý phù hợp dựa trên cơ sở các quy định của ĐƯQT mà quốc gia là thành viên
2.1.2 Những công trình bàn về sự cần thiết và tính hiện thực của nội luật hóa điều ước quốc tế
Có thể xem việc xử lý mối quan hệ giữa PLQG và PLQT là tiền đề cho sự tồn tại của hiện tượng nội luật hóa ĐƯQT, việc có thừa nhận cái gọi là nội luật hóa hay không phụ thuộc khá nhiều vào việc tác giả đứng trên lập trường của nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận để tiếp cận Dễ thấy, các công trình bàn về sự cần thiết của nội luật hóa chủ yếu đều là những công trình phân tích sâu về mối quan hệ giữa luật quốc tế và nội luật
Trang 20Mối quan hệ PLQG-PLQT nói chung và PLQG-ĐƯQT nói riêng bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam từ những năm 1990 Công trình được coi là nền móng cho những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này là đề tài khoa học
cấp Bộ do TS Hà Hùng Cường làm chủ nhiệm với tên gọi “Mối quan hệ giữa điều
ước quốc tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật Việt Nam” (Viện
Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp - 1995) Một trong những tranh luận trọng tâm trong khuôn khổ đề tài chính là vấn đề chuyển hóa ĐƯQT với một loạt câu hỏi cần giải quyết như: “Có cần thiết đặt ra vấn đề chuyển hóa hay không?”; “Chuyển hóa có phải
là nghĩa vụ bắt buộc của quốc gia kết ước hay không?” Khi giải quyết những câu hỏi này, bản thân nhóm tác giả còn nhiều lập luận mâu thuẫn
Trong bài viết “Vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
trong pháp luật và thực tiễn của Việt Nam” đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật
số 2/1998, tác giả Đoàn Năng khẳng định pháp luật Việt Nam trước 1998 không có quy định rõ ràng nào về giải quyết mối quan hệ ĐƯQT-PLQG, khác với cách làm của một số nước như Pháp, Italia, Đức, Đan Mạch quy định rõ ngay trong Hiến pháp
Phê phán quan điểm “Điều ước quốc tế một khi được ký kết một cách hợp pháp và
hợp thức, thì được công nhận chính thức như một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia” là chủ quan, tác giả chỉ ra sự mâu thuẫn trong tư duy về mối tương quan
hiệu lực của một số học giả lúc bấy giờ Tác giả cũng nhấn mạnh pháp luật Việt Nam không có quy định nào đặt vấn đề chuyển hóa hay không chuyển hóa các quy phạm ĐƯQT thành các quy phạm PLQG mà vấn đề này chỉ được đặt ra bởi một số luật gia trong khoa học pháp lý quốc tế Từ góc nhìn PLQG và PLQT là hai hệ thống tồn tại song song, độc lập, tuy có tác động qua lại lẫn nhau nhưng không cái nào buộc phải
phụ thuộc cái nào, tác giả phủ nhận hoàn toàn vấn đề nội luật hóa:“Đặt vấn đề chuyển
hóa các quy phạm ĐƯQT thành các quy phạm của PLQG là không thể chấp nhận được cả về mặt lý luận và thực tiễn” Tác giả cho rằng sửa đổi, bổ sung các văn bản
trong nước không phải là chuyển hóa, xây dựng các điều khoản chỉ dẫn áp dụng ĐƯQT cũng không phải là chuyển hóa, các hành vi phê duyệt, phê chuẩn, gia nhập ĐƯQT… cũng không phải là chuyển hóa
PGS.TS Đoàn Năng tái khẳng định quan điểm đó trong bài viết “Xử lý đúng
đắn mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” đăng trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 5 và số 6 năm 2002 Trong đó, tác giả phê phán nhị nguyên luận bởi sự cường điệu hóa sự biệt lập giữa hai hệ thống; phê phán phái nhất nguyên luận coi PLQG có hiệu lực cao hơn PLQT là phản khoa học và phản động, là lập luận nhằm bào chữa cho việc thoái thác thực hiện các cam kết quốc tế, để tự do hành động
Trang 21bất chấp các nguyên tắc, quy phạm PLQT; phê phán phái nhất nguyên luận coi PLQT
có hiệu lực cao hơn PLQG là “mang nặng tính hình thức”; phê phán các luật gia Nga hiện đại (sau khi Liên Xô sụp đổ) là lại lập lại sai lầm của luận thuyết nhất nguyên
Theo tác giả, cách giải quyết đúng đắn duy nhất đối với mối quan hệ này là “các quy
định của pháp luật Việt Nam không được khẳng định ĐƯQT và pháp luật Việt Nam cái nào có hiệu lực cao hơn cái nào, cái nào phụ thuộc cái nào, cũng không được coi ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia là bộ phận cấu thành của PLQG… Không nên đặt vấn đề chuyển hóa các quy định của ĐƯQT thành các quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như vấn đề ĐƯQT có hiệu lực trực tiếp đối với các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam”
Cũng về chủ đề này, tác giả Trần Văn Thắng đưa ra quan điểm khá đối lập trong
bài viết “Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong pháp luật và thực tiễn
các nước” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2002 Đứng trên lập trường
nhị nguyên (mềm dẻo), tác giả khẳng định tính hiển nhiên và sự cần thiết của việc
chuyển hóa: “Về nguyên tắc, luật quốc tế không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ
các quốc gia độc lập, có chủ quyền Vì thế, muốn cho luật quốc tế được thực hiện ở từng quốc gia thì các quy phạm của nó cần phải được đi vào hệ thống PLQG theo trình tự, thủ tục do chính quốc gia quy định Quá trình này thường được các luật gia gọi là chuyển hóa” Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định chuyển hóa bằng cách nào là
tùy thuộc vào quốc gia, do quốc gia tự quy định
GS.TS Thái Vĩnh Thắng cũng đóng góp góc nhìn riêng của mình trong việc
giải quyết mối quan hệ này thông qua bài viết “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa” đăng trên tạp chí Luật học số 2/2003
Xuyên suốt bài viết, tác giả đứng trên quan điểm nhất nguyên luận, khẳng định các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia sẽ trở thành một bộ phận trong HTPL Việt Nam, ĐƯQT có một vị trí xác định trong hệ thống này: dưới Hiến pháp và cao hơn các luật Tác giả cũng kiến nghị cần phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng này Do cách quan niệm như vậy, tác giả không đề cập đến vấn đề chuyển hóa hay nội luật hóa
Cùng trong năm này, tác giả Nguyễn Bá Diến có bài viết “Về việc áp dụng điều
ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” đăng
trên tạp chí Kinh tế - Luật (Số 3/2003) Tác giả cho rằng sự tương quan giữa ĐƯQT
và PLQG không những là vấn đề trung tâm của khoa học pháp lý quốc tế mà còn là đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật hiến pháp, khoa học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật… Bài viết cũng phân tích mối liên hệ giữa học thuyết về chuyển
Trang 22hóa với quan điểm nhị nguyên luận Gắn với thực tiễn Việt Nam, tác giả cho rằng việc xác định trường hợp nào áp dụng trực tiếp điều ước, trường hợp nào phải thông qua thủ tục chuyển hóa cần được quy định rõ trong luật và cần có cách tiếp cận “mềm dẻo, linh hoạt”
Trong Luận văn thạc sĩ luật học “Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc
tế và pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế” (bảo vệ năm 2004),
tác giả Vũ Thị Thanh Lan cho rằng giải quyết vấn đề chuyển hóa và cách thức chuyển hóa các quy phạm ĐƯQT vào pháp luật trong nước tùy thuộc khá nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ giữa PLQT và PLQG Tác giả khẳng định về nguyên tắc, luật pháp quốc tế nói chung và Công ước Viên 1969 nói riêng chỉ quy định nghĩa vụ thực hiện các ĐƯQT mà không quy định về cách thức, trình tự tổ chức, triển khai thực hiện cho các chủ thể cam kết mà điều này “thuộc thẩm quyền nội bộ của mỗi quốc gia” Tuy nhiên tác giả cũng dẫn ra ngoại lệ về việc cách thức thực hiện “thông qua yêu cầu nội luật hóa các quy định của ĐƯQT vào trong PLQG” đôi khi lại được quy định trong chính nội dung của điều ước, ví dụ như một số công ước trong lĩnh vực quyền con người Như vậy có thể thấy, xem xét tính bắt buộc của yêu cầu nội luật hóa cần đặt trong bối cảnh cụ thể Trong luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng cách diễn đạt “chuyển hóa điều ước quốc tế” tuy nhiên cũng đôi lần sử dụng thuật ngữ “nội luật hóa” với ý nghĩa tương đồng
Trong bài viết “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” đăng
trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2004, tác giả Ngô Đức Mạnh lại có phần khu biệt và đối lập hai cách thức ứng xử đối với ĐƯQT khi trình bày sơ lược về hai học thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận Theo đó “chuyển hóa” là biện pháp đặc trưng của các nước theo nhị nguyên luận, “áp dụng trực tiếp” là biện pháp đặc trưng của các nước theo nhất nguyên luận Bày tỏ những quan ngại đối với dự thảo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều quốc tế khi mở ra cả hai phương án cho phép áp dụng trực tiếp ĐƯQT lẫn ban hành văn bản để thực hiện, tuy nhiên tác giả lại không nêu quan điểm cá nhân về việc chuyển hóa hay không chuyển hóa
Trong bài viết “Mối quan hệ giữa luật hình sự quốc tế và luật hình sự quốc gia” (tạp chí Luật học, số 1/2012), tác giả Nguyễn Thị Thuận cũng khẳng định chuyển hóa
hay nội luật hóa các quy phạm luật quốc tế không phải là nghĩa vụ bắt buộc từ phía luật quốc tế Theo tác giả, toàn bộ quá trình áp dụng luật quốc tế trong không gian luật quốc gia “được thực hiện bằng các phương thức khác nhau, do các quốc gia tự lựa chọn và quyết định cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của mình”, có thể bằng việc công nhận hiệu lực trực tiếp của quy phạm luật quốc tế trên toàn bộ lãnh thổ
Trang 23quốc gia hoặc bằng phương thức chuyển hóa (sửa đổi, chỉnh lý các văn bản pháp luật trong nước một cách phù hợp)
Quan điểm trên dường như trái ngược với quan điểm của nhóm tác giả Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Toàn Thắng thể hiện trong sách chuyên
khảo “Luật hình sự Việt Nam và các điều ước quốc tế” (Nxb Tư pháp, 2017) Trong
cuốn sách, các tác giả khẳng định nội luật hóa hay chuyển hóa quy định của các ĐƯQT về pháp luật hình sự mà Việt Nam là thành viên thành pháp luật trong nước
là nghĩa vụ bắt buộc, “vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là xu thế tất yếu” của quá trình
hội nhập quốc tế
2.1.3 Những công trình bàn về mục đích, ý nghĩa và vai trò của nội luật hóa điều ước quốc tế
Bàn luận chuyên sâu về chủ đề này, bài viết của tác giả Mạc Thị Hoài Thương
đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2013 với nhan đề “Nội luật hóa và vai
trò của nội luật hóa trong việc thực hiện điều ước quốc tế” thể hiện một góc nhìn
rộng hơn so với các công trình nghiên cứu khái quát về nội luật hóa trước đây vốn chỉ xem xét vai trò của hoạt động này với tư cách là một phương thức để thực thi các quy phạm luật quốc tế trong môi trường luật quốc gia Trong bài viết, tác giả không giải quyết sâu khái niệm và cách thức nội luật hóa mà chỉ hệ thống lại những tri thức, quan điểm đã được trình bày bởi các tác giả khác Thành tựu rõ nét nhất thể hiện ở việc tác giả đã đề xướng ra ba vai trò của nội luật hóa ĐƯQT Đặc biệt với việc phân
tích vai trò thứ 3 “Đảm bảo sự ổn định và phát triển biện chứng của cả hai hệ thống
pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”, tác giả đã khẳng định thông qua nội luật
hóa các ĐƯQT, HTPL của một quốc gia sẽ ngày càng được hoàn thiện hơn - Đây là vai trò ít được đề cập hoặc trước đây chưa được nhìn nhận đúng mức
Cần xét trong bối cảnh rằng, trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện HTPL ở Việt Nam (chủ yếu từ góc độ của chuyên ngành lý luận chung và luật hiến pháp) cũng có không ít các công trình đã nhắc đến việc nội luật hóa ĐƯQT hay chuyển hóa ĐƯQT Hầu hết các học giả đều có nhận thức về việc nội luật hóa là một nhân tố thúc đẩy, đưa tới sự cần thiết phải hoàn thiện HTPL Nói cách khác, thông qua việc hoàn thiện PLQG các ĐƯQT sẽ được nội luật hóa và thực thi một cách có hiệu quả Tuy nhiên, các tác giả hầu như chưa đề cập đến mặt thứ hai của vấn đề: bản thân nội luật hóa là một biện pháp hiệu quả để hoàn thiện HTPL, thông qua các thao tác nội luật hóa mà HTPL quốc nội của một quốc gia sẽ được tiếp hợp những tư tưởng, nội dung pháp lý tiến bộ, hiện đại của thế giới qua đó ngày càng trở nên hoàn thiện
Trang 24Dù không tiếp cận trực diện nhưng một số công trình khác từ góc độ nghiên cứu của luật quốc tế cũng ít nhiều đề cập đến sự liên hệ giữa nội luật hóa ĐƯQT với vấn
đề xây dựng và hoàn thiện HTPL của quốc gia Trong luận văn thạc sĩ luật học“Mối
quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” bảo vệ thành công năm 2001,
tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân chỉ ra rằng sự tác động giữa PLQT và PLQG là sự tác động qua lại lẫn nhau (và ở các mức độ khác nhau) tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia và các công cụ hợp tác mà quốc gia sử dụng khi tham gia các quan hệ đó Qua sự tương tác này, các quy định có nội dung tiến bộ thể hiện những thành tựu mới của khoa học pháp lý quốc tế sẽ dần được chuyển tải vào VBQPPL quốc gia Điều đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của PLQG, để cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung vừa có thể thiết lập được một HTPL hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Cùng chia sẻ quan điểm đó, trong luận văn của mình (tài liệu đã dẫn), tác giả
Vũ Thị Thanh Lan viết: “Hoàn thiện pháp luật quốc gia trong yêu cầu đáp ứng những
đòi hỏi của điều kiện trong nước, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực quốc tế là sự thể hiện tác động sâu sắc của ĐƯQT Nói cách khác, ĐƯQT đã và đang thúc đẩy sự phát triển của PLQG và tạo thuận lợi cho việc hội nhập pháp luật giữa các nước trong quá trình toàn cầu hóa” Với bài viết “Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3+4/2010), tác giả Dương Thị Thanh
Mai và Nguyễn Văn Hiển tiếp tục khẳng định đòi hỏi từ việc nội luật hóa các ĐƯQT
là một nhân tố thúc đẩy quá trình hoàn thiện HTPL Việt Nam: “Các yêu cầu về hội
nhập không cho phép Việt Nam chậm trễ và trì hoãn trong việc xây dựng và ban hành các thể chế pháp lý hài hòa với luật chơi quốc tế” Tương tự, tác giả Nguyễn Thị
Hồng Yến nhận định: “Với phương thức nội luật hóa, Việt Nam đã tiến hành ban
hành mới cũng như sửa đổi, bổ sung hàng trăm VBQPPL nhằm thực hiện các quy định trong các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên… Những văn bản này, ngoài ý nghĩa là thực thi các cam kết quốc tế về môi trường, còn góp phần quan trọng vào việc phát triển các quy phạm pháp luật về môi trường trong pháp luật Việt Nam”
Sách chuyên khảo “Mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và luật nhân quyền
quốc tế” (Nxb Tư pháp, 2015) là công trình hiếm hoi khẳng định trực tiếp và vững
chắc “mặt thứ hai của vấn đề” Theo nhóm tác giả, Luật nhân quyền quốc tế đã có những tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn thiện HTPL Việt Nam cả về bề rộng
và bề sâu, đó là “thành quả của công tác nội luật hóa”
Trang 25Về mục đích của nội luật hóa ĐƯQT, đa phần các công trình đều trình bày một cách lồng ghép khi phân tích vai trò của ĐƯQT hoặc bản thân nội hàm của khái niệm này Tuy nhiên cá biệt cũng có khi mục đích của nội luật hóa ĐƯQT được xây dựng thành một nội dung lý luận độc lập, như trong đề tài do Viện Nghiên cứu lập pháp thực hiện (tlđd) Theo đó, mục đích của nội luật hóa là nhằm hướng tới việc thực hiện nghĩa vụ thành viên ĐƯQT chứ không phải là để khẳng định hiệu lực pháp
lý của điều ước, vì “dưới góc độ pháp lý quốc tế, hiệu lực của một điều ước quốc tế
nhất định không bị chi phối bởi việc nó đã được nội luật hóa hay chưa”
2.1.4 Những công trình bàn về nội hàm, các dạng thức của nội luật hóa và các thuật ngữ tương đương
Qua kết quả nghiên cứu của công trình “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật Việt Nam” (tlđd), Ban chủ nhiệm
đề tài đưa ra kiến nghị về sự cần thiết đổi mới quan niệm về chuyển hóa các quy phạm của ĐƯQT vào PLQG: Chuyển hóa không có nghĩa cơ học là nội luật hóa bằng
“việc ban hành các văn bản pháp luật trong nước quy định lại nội dung của điều ước quốc tế” mà phải có cách tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt hơn, cụ thể là “nên gắn với việc phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT một ý nghĩa pháp lý nữa đó là sự chuyển hóa” Như
vậy “nội luật hóa” (thường được đặt trong ngoặc kép) được sử dụng như một thuật ngữ thay thế cho “chuyển hóa” với ý nghĩa bao hàm việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật mới lẫn việc phê duyệt, phê chuẩn ĐƯQT để thực thi các quy phạm của chúng trong môi trường quốc gia
Trong luận văn thạc sĩ luật học “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp
luật quốc gia”, tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân đã phân tích để chỉ ra những điểm chưa
hợp lý, thiếu thuyết phục của cả thuyết nhất nguyên và thuyết nhị nguyên truyền
thống, tác giả nhận định cả hai học thuyết này “đều chưa làm sáng tỏ được tính độc
lập tương đối của hai hệ thống pháp luật trong mối quan hệ tất yếu, khách quan với nhau” Tác giả nhấn mạnh PLQT không hề ấn định cách thức thực hiện PLQT trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia Việc thực hiện PLQT bằng cách nào thuộc thẩm quyền riêng của mỗi quốc gia, theo đó có quốc gia quy định hiệu lực thi hành trực tiếp của ĐƯQT, có quốc gia quy định bắt buộc phải chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật trong nước nhưng cũng có quốc gia áp dụng cả hai cách thức Thuật ngữ chuyển hóa được
sử dụng trong luận văn xuất phát từ “quan điểm chuyển hóa” (Doctrine of Transformation) tiếp cận từ góc nhìn nhị nguyên Việc chuyển hóa có thể được thực hiện theo hai cách thức: (i) Chuyển hóa riêng thông qua việc ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung một VBQPPL hiện hành tương ứng nhằm cụ thể hóa một ĐƯQT, tập
Trang 26quán quốc tế); (ii) Chuyển hóa chung thông qua một tuyên bố thừa nhận trong Hiến pháp hoặc bất kỳ một VBQPPL nào của quốc gia đối với toàn bộ ĐƯQT mà quốc gia
ký kết hoặc tham gia (cũng như tập quán quốc tế mà quốc gia thừa nhận) Đối lập với
“quan điểm chuyển hóa” là “quan điểm chấp nhận” (Doctrine of incorporation) rất gần với góc nhìn nhất nguyên Theo đó, ĐƯQT, tập quán quốc tế mặc nhiên có hiệu
lực thi hành trực tiếp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Tác giả nêu ra ý kiến “việc
gán cho hành vi phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT có giá trị như một hình thức chuyển hóa là không phù hợp” nhưng không đưa ra lập luận cá nhân Rất tiếc, cụm từ “nội
luật hóa” không xuất hiện trong luận văn nên ta không xác định được thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ nào trong các thuật ngữ trên: chuyển hóa riêng, chuyển hóa chung hay chuyển hóa nói chung
Tác giả Trần Văn Thắng trong bài viết “Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật
quốc gia trong pháp luật và thực tiễn các nước” đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 4/2002 không sử dụng thuật ngữ “nội luật hóa” mà dành phần lớn dung lượng
để trình bày về hiện tượng “chuyển hóa quy phạm luật quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia” Đặc biệt, bên cạnh việc chuyển hóa quy phạm điều ước tác giả còn đề cập đến khả năng chuyển hóa quy phạm tập quán quốc tế vào PLQG (tuy nhiên không phân tích sâu) Chỉ ra nhiều dạng biểu hiện của chuyển hóa như chuyển hóa chung, chuyển hóa riêng, chuyển hóa trực tiếp, chuyển hóa gián tiếp nhưng tác giả cho rằng thuật ngữ “chuyển hóa” vẫn mang tính ước lệ chứ chưa phải là một thuật ngữ luật quốc tế chính thức Trái ngược với quan điểm của PGS.TS Hà Hùng Cường (vốn có ảnh hưởng khá lớn vào giai đoạn đó), tác giả Trần Văn Thắng thể hiện rất rõ luận điểm hành vi ký kết, phê duyệt, phê chuẩn không thể được coi là chuyển hóa ĐƯQT vào nội luật, bởi lẽ đây chỉ là những điều kiện để ĐƯQT có hiệu lực chứ không phải
là biện pháp để ĐƯQT được thực hiện trong điều kiện quốc gia
Trong bài viết “Bàn về việc thực thi điều ước quốc tế” đăng trên tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 3/2005, tác giả Hoàng Ngọc Giao cũng nêu ra vấn đề chuyển hóa ĐƯQT vào luật quốc gia và giới thiệu một số thuật ngữ quốc tế để mô tả quá trình này, bao gồm: incorporation, transformation, reception Tác giả cũng đề cập đến hai dạng chuyển hóa: (i) Chuyển hóa trực tiếp: thông qua một tuyên bố rõ rệt được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của nước mình - Hiến pháp, công nhận ĐƯQT là một
bộ phận của luật quốc gia; (ii) Chuyển hóa gián tiếp: thông qua hành vi của cơ quan lập pháp để đưa các quy định của ĐƯQT vào hệ thống các quy phạm của luật quốc gia Trong bài viết, “nội luật hóa” được tác giả sử dụng như một thuật ngữ thay thế không chính thức, hàm chỉ cả chuyển hóa trực tiếp và chuyển hóa gián tiếp
Trang 27Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện
điều ước quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế - cơ sở lý luận và thực tiễn” của
tác giả Nguyễn Thị Thuận (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008) cũng là một công trình đề cập khá nhiều đến vấn đề chuyển hóa quy phạm điều ước Theo tác giả, nội luật hóa là cách gọi khác của chuyển hóa nhưng không bao gồm khả năng áp dụng trực tiếp hay viện dẫn ĐƯQT để điều chỉnh các quan hệ trong môi trường luật quốc gia mà chỉ giới hạn trong việc “sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước” Trong khuôn khổ luận án, tác giả phân tích
sơ lược một số ưu điểm và nhược điểm của phương thức chuyển hóa so với phương thức trực tiếp trong việc thực hiện các ĐƯQT
Trong bài viết“Hài hoà hoá giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” (tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2010), tác giả Nguyễn Thị Thuận duy nhất một lần nhắc tới thuật ngữ nội luật hóa với ý nghĩa chỉ hoạt động ban hành văn bản hướng dẫn thực thi đối với ĐƯQT không có khả năng áp dụng trực tiếp Tuy nhiên khá đáng tiếc tác giả chưa có sự phân biệt, làm rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm “nội luật hóa” và “hài hòa hóa”
Luận văn “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” (2011)
của tác giả Lê Thị Mai Anh kế thừa phần lớn những nội dung lý luận được giải quyết trong công trình đã dẫn của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, trong đó sử dụng thống nhất thuật ngữ “chuyển hóa điều ước quốc tế” Tác giả nhận định rằng quan điểm của Việt Nam thể hiện qua các văn bản pháp luật hiện hành “đang nghiêng về thuyết nhất nguyên” Trong phần phân tích về thực tiễn Việt Nam thì thuật ngữ nội luật hóa mới được đề cập tới và được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL để thực hiện ĐƯQT đối với những ĐƯQT không thể áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần
Xuyên suốt luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về
quyền con người tại Việt Nam” (bảo vệ thành công năm 2012), tác giả Nguyễn Thị
Kim Ngân thống nhất sử dụng thuật ngữ “chuyển hóa điều ước quốc tế” và không sử dụng cụm từ “nội luật hóa” Theo quan điểm của tác giả, việc chuyển hóa được thực hiện thông qua hoạt động ban hành văn bản pháp luật quốc gia mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành để nội dung các văn bản đó phù hợp với các ĐƯQT mà Việt Nam đã tham gia
Trong bài viết “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: nhìn
từ góc độ hiến pháp trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam”, đăng trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 9/2013 của tác giả Đặng Minh Tuấn, thuật ngữ nội luật hóa
Trang 28được sử dụng với ý nghĩa chuyển hóa (các quy định của) điều ước vào nội luật Nội luật hóa luôn mang nội hàm đối lập với phương thức áp dụng trực tiếp trong cách
diễn đạt của tác giả: “Việc áp dụng trực tiếp hay phải nội luật hóa ĐƯQT không chỉ
căn cứ vào các quy định chung của Hiến pháp mà còn dựa vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể” Theo tác giả, khác với xu hướng ủng hộ áp dụng trực tiếp ĐƯQT trong
Hiến pháp của nhiều nước, Việt Nam lại rất chú trọng việc nội luật hóa bởi thực tiễn cho thấy, rất ít các điều ước quy định áp dụng trực tiếp Quan điểm này nhất quán với cách mà tác giả giải thích Điều 6 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005:
“Trong trường hợp không chấp nhận áp dụng trực tiếp hoặc không có quy định về việc áp dụng trực tiếp các ĐƯQT, thì ĐƯQT đó phải được chuyển hóa trong PLQG”
Trong bài viết “Nội luật hóa các điều ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống
tội phạm trong giai đoạn hiện nay” (tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2015), tác
giả Ngô Hữu Phước ủng hộ quan điểm cho rằng nội luật hóa là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hóa các quy phạm của ĐƯQT thành quy phạm của PLQG bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung VBQPPL trong nước để thực hiện Các hành vi chấp nhận hiệu lực của ĐƯQT chỉ là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để các cơ quan có thẩm quyền quyết định nội luật hóa chứ không phải là hành vi chuyển hóa Áp dụng trực tiếp cũng không phải là chuyển hóa và do đó cần phân biệt với nội luật hóa
Trong sách chuyên khảo “Mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và luật nhân
quyền quốc tế” (Nxb Tư pháp, 2015), GS.TS Nguyễn Bá Diến và nhóm tác giả cũng
có đề cập đến vấn đề nội luật hóa và những biểu hiện của nó khi đưa ra luận giải sau:
“Trường phái nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật khác nhau và để Tòa án quốc gia có thẩm quyền áp dụng quy định của luật quốc tế thì nó phải được chuyển hóa qua thủ tục chấp nhận rõ ràng trong luật quốc gia thông qua quy trình nội luật hóa Điều này được thể hiện ở ở việc ban hành luật chuyên biệt để giải thích rõ hoặc chi tiết hóa những điều khoản hiến định hoặc điều chỉnh luật quốc gia cho phù hợp với nghĩa vụ pháp lý quốc tế”
Cũng bàn về chủ đề này, tác giả Hoàng Phước Hiệp có bài viết “Áp dụng trực
tiếp điều ước quốc tế” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2016 Theo tác
giả, các thuật ngữ “áp dụng trực tiếp”, “hiệu lực trực tiếp” và “tự thi hành” có thể được sử dụng với nội dung như nhau, thay thế cho nhau và đối lập với thuật ngữ “nội luật hóa” hay còn gọi là “chuyển hóa”
Trong bài viết “Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam” (tạp chí Luật học, 3/2016), tác giả Trần Hữu Duy Minh nhận định rằng Việt Nam
Trang 29đang kết hợp áp dụng cả thuyết nhất nguyên lẫn thuyết nhị nguyên Tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “nội luật hóa” xuyên suốt bài viết Theo đó, nội luật hóa được
hiểu là việc áp dụng gián tiếp ĐƯQT, là “cách thức áp dụng phổ biến nhất các quy
phạm điều ước ở Việt Nam” thông qua việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành
mới VBQPPL thực hiện ĐƯQT Bài viết cũng đề cập đến thực trạng nội luật hóa không đầy đủ, chậm trễ các ĐƯQT, ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam tuy nhiên chưa làm rõ các nguyên nhân
Tác giả Nguyễn Trung Tín lại có cách tiếp cận rất khác so với phần còn lại, cũng đưa ra những khái niệm “chuyển hóa trực tiếp”, “chuyển hóa gián tiếp”, “nội luật hóa” song tác giả gán cho chúng những nội hàm mới mẻ Cách tiếp cận này được thể
hiện qua hai bài viết “Về việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp
luật quốc gia trong pháp luật Việt Nam” và “Về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” lần lượt đăng trên
tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2004 và số 10/2006 Dưới góc nhìn của tác giả,
“chuyển hóa trực tiếp” giống với cách hiểu về “hiệu lực trực tiếp” theo học thuyết tiếp nhận (áp dụng một cách đương nhiên), “chuyển hóa gián tiếp” lại mang ý nghĩa của “chuyển hóa trực tiếp” trong quan điểm của tác giả Trần Văn Thắng và tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (cho phép áp dụng trực tiếp sau khi có một thủ tục pháp lý nhất định như công bố chính thức ) Đặc biệt hơn, “nội luật hóa” lại được xây dựng thành một khái niệm khu biệt hoàn toàn với khái niệm “chuyển hóa”, dùng để chỉ
“cách mà theo đó các quốc gia xây dựng các quy phạm pháp luật của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế”
2.1.5 Những công trình bàn về quy trình, thủ tục, kỹ thuật, chủ thể của nội luật hóa điều ước quốc tế
Trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2007, tác giả Ngô Đức Mạnh có bài
viết “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm thực thi các cam kết gia nhập WTO”
Theo tác giả, ngay cả khi Quốc hội quyết định cho phép áp dụng trực tiếp các quy định nào đó của Nghị định thư (về việc gia nhập WTO của Việt Nam) thì các cơ quan liên quan như Chính phủ, các Bộ, ngành cũng cần chuẩn bị văn bản hướng dẫn thi hành ở mức độ cần thiết và phù hợp nhất: Cần áp dụng cả khả năng sửa đổi, bố sung, ban hành mới luật để chuyển hóa các quy định của Nghị định thư gia nhập WTO vào pháp luật Việt Nam Quá trình này cần phải có lộ trình và nếu cần thiết có thể vận dụng kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” Trong bài viết, tác giả nêu ra thêm một tác dụng mới của nội luật hóa, đó là tạo ra khả năng kiểm soát, giám sát của Quốc hội
Trang 30đối với việc thi hành các cam kết quốc tế, bảo đảm sự thống nhất giữa công tác xây dựng pháp luật trong nước với ĐƯQT
Tác giả Nguyễn Khánh Ngọc có bài viết “Phối hợp liên ngành trong xây dựng
và hoàn thiện pháp luật thực hiện các điều ước quốc tế” đăng trên tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 16/2008 Đáng lưu ý trong bài viết có một nhận định mang đậm tính
lý luận và chưa được phát biểu trong các công trình trước đây: “Thậm chí, khi đã có
sự nhất trí ban hành các văn bản thực thi một ĐƯQT thì các quy định, thủ tục để xây dựng và thực thi văn bản đó cần phù hợp với khuôn khổ pháp luật trong nước và năng lực nội tại của Việt Nam để thực thi văn bản” Qua đó có thể thấy, tác giả có
cách tiếp cận khá bao quát khi đã đề cập đến các nguồn lực pháp luật - một thành tố của HTPL theo nghĩa rộng
Tác giả Hà Thị Thanh Bình có bài viết “Nội luật hóa các cam kết gia nhập tổ
chức thương mại thế giới của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ” (tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 5/2009) Bài viết thể hiện rõ quan điểm nội luật hóa hay “sự chuyển hóa các cam kết quốc tế thành pháp luật nội địa” là công việc phải làm với mọi nội dung trong điều ước hay suy rộng ra là mọi điều ước mà Việt Nam là thành
viên bởi “dù là các quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết thì vẫn cần
một văn bản thể hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp các quy định đó…” Tác giả cũng nêu ra kiến nghị về việc ban hành
“Luật về gia nhập WTO” để sửa đồng thời nhiều luật có liên quan, nhằm nội luật hóa các cam kết quốc tế một cách nhanh chóng hơn
Một công trình khác có nhiều giá trị tham khảo là bài viết “Xây dựng pháp luật
góp phần nội luật hóa công ước, nghị định thư quốc tế về chống khủng bố” của tác
giả Hoàng Thế Liên đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2013 Dù còn nhiều
quan điểm không thống nhất nhưng theo tác giả, một khi quốc gia ban hành văn bản pháp luật trong nước nhằm thi hành điều ước đã ký kết thì ở những mức độ khác nhau, đã có thể coi các quy định của ĐƯQT là một bộ phận cấu thành của pháp luật trong nước Để thực hiện ĐƯQT có nhiều cách thức khác nhau tuy nhiên để có thể hình sự hóa, tội phạm hóa bắt buộc phải thông qua ban hành, sửa đổi, bổ sung PLQG Tác giả cũng tìm ra một biểu hiện khá độc đáo của nội luật hóa trong lĩnh vực hình
sự, đó là sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng chuyển một tội danh từ chương này sang chương khác cho phù hợp với PLQT Trong quá trình luận giải, tác giả đặt yêu cầu nội luật hóa ĐƯQT trong mối tương quan với khả năng nội luật hóa thực tế của mỗi quốc gia song chưa có điều kiện phân tích sâu
Trang 31Cũng liên quan đến kỹ thuật nội luật hóa các ĐƯQT về pháp luật hình sự, TS Nguyễn Văn Hương và nhóm đồng tác giả đưa ra nhận định nội luật hóa không chỉ
là đưa vào luật quốc gia các quy phạm mới mà còn có thể cân nhắc để đưa vào một
số chế định mới Đây là một trong những quan điểm nổi bật được thể hiện qua đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam để thực hiện
các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (bảo vệ thành công năm 2013)
Trong bài viết “Áp dụng điều ước quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam” (tạp chí Luật
học số 2/2013), tác giả Trần Thị Thu Phương quan niệm chuyển hóa ĐƯQT vào HTPL nội địa là cách thức áp dụng gián tiếp và được phân biệt với cách thức áp dụng trực tiếp (tức ĐƯQT có hiệu lực thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia ký kết mà không cần bất kỳ hình thức chuyển hóa nào) Tác giả phân tích thực tiễn ở Việt Nam
và kinh nghiệm một số nước từ đó nêu ra băn khoăn về việc xác định căn cứ phân định giữa loại ĐƯQT có thể áp dụng trực tiếp (điều ước tự thi hành) và điều ước cần chuyển hóa Tác giả cũng nêu ra kiến nghị cần phải quy định thêm cho tòa án thẩm quyền quyết định về phương thức áp dụng ĐƯQT trên lãnh thổ Việt Nam trong khi giải quyết tranh chấp thay vì trao hoàn toàn quyền này cho cơ quan lập pháp và hành pháp (việc ĐƯQT có được áp dụng trực tiếp hay không được quyết định ngay từ thời điểm chấp nhận sự ràng buộc của điều ước như trong quy định hiện hành)
Trong bài viết “Nguyên tắc nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên” đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 4/2014), tác giả Nguyễn Thị
Thuận tập trung luận giải và đưa ra ba nguyên tắc cần tuân thủ trong hoạt động nội luật hóa bao gồm: Nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất; Nguyên tắc nội luật hóa phải được tiến hành kịp thời; Nguyên tắc nội luật hóa phải đảm bảo chính xác Khi bàn tới nguyên tắc thứ hai về tính kịp thời, tác giả khẳng định nội luật hóa có thể được tiến hành ngay từ trước khi gia nhập điều ước hoặc ngay trong giai đoạn đàm phán tức là khi điều ước chưa được ký kết Với lập luận rằng
“Việc quốc gia chưa tiến hành nội luật hoá không được coi là lý do hợp pháp để không hoặc chưa thực thi điều ước quốc tế”, tác giả cho rằng việc hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về ký kết và thực hiện ĐƯQT cần tính tới vấn đề ràng buộc thời hạn hoàn thành hoạt động nội luật hóa đối với các cơ quan chức năng Khi bàn đến nguyên tắc thứ ba về tính chính xác, tác giả đi tới kết luận nội luật hóa không phải là “sao y bản chính” mà nó còn là sự cụ thể hóa các nội dung của ĐƯQT, song sự cụ thể hóa này không được dẫn tới sự không tương thích giữa PLQG (sau nội luật hóa) với ĐƯQT được nội luật hóa
Trang 32Thông qua bài viết “Nội luật hóa điều ước quốc tế trong Luật ký kết, gia nhập
và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005” (Tạp chí Luật học, số 10/2015), hai tác giả
Nguyễn Thị Hồng Yến và Đỗ Quí Hoàng giải thích các quy định của Luật Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế 2005 theo hướng bóc tách những nội dung phản ánh cách thức, phương pháp, trách nhiệm nội luật hóa…, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện Bài viết cũng gián tiếp đề cập đến một số khía cạnh lý luận của nội luật hóa ĐƯQT khi chỉ ra những bất cập trong công tác nội luật hóa ở Việt Nam thời gian qua: i) Chưa có sự phân định rõ ràng loại điều ước nào tiến hành áp dụng trực tiếp, loại điều ước nào sẽ tiến hành nội luật hóa (liên quan đến vấn đề điều kiện nội luật hóa); ii) Thiếu vắng các quy định về quy trình nội luật hóa, các cơ quan chịu trách nhiệm, vấn đề kiểm tra, giám sát hoạt động nội luật hóa…
Trong bài viết “Pháp luật về ký kết, thực hiện điều ước quốc tế ở một số nước
và những nội dung cần tham khảo” (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18/2016), hai
tác giả Hoàng Văn Tú và Trương Hồ Hải không nêu ra định nghĩa chính xác về nội luật hóa nhưng nội luật hóa được hiểu với nghĩa rất rộng, bao gồm cả việc thông qua thủ tục phê chuẩn hay phê duyệt để điều ước có hiệu lực áp dụng trực tiếp và ban hành một đạo luật chuyển hóa để chuyển hóa ĐƯQT Bài viết cũng giới thiệu quy định về thủ tục nội luật hóa ở Pháp nhưng ở mức rất sơ lược Hai tác giả cũng đề cập đến một thực tiễn ở Nhật Bản, nơi tiêu chí và thẩm quyền xem xét 1 ĐƯQT có cần được nội luật hóa hay không tuy không được quy định rõ ràng trong luật nhưng Tòa
án Tối cao Nhật Bản là cơ quan đưa ra tiêu chí này trên thực tế
Các công trình kể trên mới chỉ đề cập đến một vài kỹ thuật đơn lẻ hoặc một vài thao tác cụ thể trong toàn bộ quy trình Có thể thấy, quy trình, thủ tục để nội luật hóa một điều ước phụ thuộc rất nhiều vào pháp luật thực định của mỗi quốc gia nên từ góc độ lý luận các tác giả khó khái quát thành lý thuyết chung, tương tự như vậy là việc xác định và phân loại chủ thể của nội luật hóa ĐƯQT Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý (tlđd) gần như là công trình duy nhất xây dựng được định nghĩa cụ thể về quy trình, thủ tục nội luật hóa ĐƯQT và kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT song cũng chỉ dừng lại ở việc xác định các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền được xem là chủ thể của hoạt động nội luật hóa ĐƯQT theo pháp luật Việt Nam hiện hành Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm của quy trình, thủ tục, kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT, công trình này còn đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong việc đưa
ra nhiều cách phân loại nội luật hóa ĐƯQT khác nhau dựa theo quy trình thủ tục và dựa theo kỹ thuật thực hiện Về mối quan hệ qua lại giữa quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa, nhóm tác giả cho rằng yếu tố kỹ thuật giữ vai trò quyết định, theo
Trang 33đó “kỹ thuật nào thì quy trình, thủ tục đó” Đặc biệt, nhóm tác giả đã chỉ ra những
điểm tương đồng và những điểm khác biệt đặc thù giữa quy trình, thủ tục nội luật hóa với quy trình, thủ tục ban hành VBQPPL thông thường (lập pháp, lập quy) Công trình cũng nghiên cứu quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa của một số nước trên thế giới để rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam Xuất phát từ quan điểm cơ sở pháp lý của nội luật hóa ĐƯQT (nói chung) bao gồm cả các văn kiện quốc tế và PLQG nhưng cơ sở pháp lý của quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật (của một nước)
về bản chất là một chế định luật quốc gia (của nước đó), nhóm nghiên cứu có một cách tiếp cận khá độc đáo khi đánh giá thực trạng Theo đó, thực tiễn nội luật hóa ĐƯQT ở Việt Nam được trình bày và phân tích trong sự độc lập tương đối với thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định về quy trình, thủ tục và
kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT Trên cơ sở này, nhóm tác giả xác định các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các kiến nghị cụ thể, có giá trị ứng dụng cao nhằm hoàn thiện quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT ở Việt Nam
2.2 Những công trình nghiên cứu đi sâu vào thực trạng nội luật hóa trong các lĩnh vực và giải pháp nâng cao hiệu quả nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam
2.2.1 Trong lĩnh vực quyền con người
Đáng chú ý có luận văn thạc sĩ luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
nội luật hoá các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam hiện nay” (Tạ
Quang Ngọc, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2004) Nhận định rằng vấn đề nội luật hóa các ĐƯQT vào HTPL trong nước hiện nay rất phức tạp, liên quan giữa lợi ích quốc gia và các quốc gia thành viên khác, tác giả đưa ra quan điểm “Quá trình chuyển hóa ĐƯQT phải phù hợp với Hiến pháp” Những thành tựu của nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam được tác giả sắp xếp, trình bày theo từng nhóm quyền rất có hệ thống Phần các hạn chế được trình bày theo lối khái quát hóa nhưng vẫn có nhiều dẫn chứng cụ thể Luận văn cũng xác định nguyên nhân của những thành tựu cũng như hạn chế từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp tiếp tục nội luật hóa các công ước quốc tế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Với bài viết “Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành
viên và vấn đề nội luật hoá” (tạp chí Luật học, số 5/2011), tác giả Nguyễn Văn Tuân
không đưa ra định nghĩa về nội luật hóa nhưng khẳng định nội luật hóa hay chuyển hóa điều ước quốc tế là nghĩa vụ của Việt Nam Tác giả dẫn ra số liệu về số lượng văn bản luật và dưới luật được Việt Nam ban hành nhằm phục vụ công tác nội luật hóa song không chỉ rõ văn bản nào chuyển hóa nội dung nào của điều ước nào Một
Trang 34số lập luận trong bài viết có phần thiếu căn cứ, bởi những nội dung mới của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự được tác giả dẫn ra cũng có thể là kết quả của việc học tập pháp luật nước ngoài hoặc là sáng kiến của chính nhà lập pháp trong nước
mà không chắc chắn là kết quả của việc nội luật hóa xuất phát từ nghĩa vụ nói trên
2.2.2 Trong lĩnh vực bình đẳng giới, quyền phụ nữ và trẻ em
Tác giả Nguyễn Hồng Bắc có bài viết “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, (tạp chí Luật học, Số đặc san phụ nữ năm
2004) Theo tinh thần bài viết, dường như thao tác duy nhất để nội luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam chỉ là ban hành các văn bản pháp luật Đáng chú ý, bài viết
đề cập đến việc Việt Nam chủ động “nội luật hóa” một số tư tưởng tiến bộ trong các ĐƯQT đa phương mà chúng ta chưa tham gia
Trong bài viết “Quyền làm mẹ trong pháp luật quốc tế và thực tiễn nội luật hóa
các cam kết trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến và Mạc
Thị Hoài Thương (tạp chí Luật học, số 3/2014), hiện tượng nội luật hóa PLQT được mặc nhiên thừa nhận Qua sự trình bày về thực trạng nội luật hóa các cam kết liên quan đến quyền làm mẹ có thể thấy biểu hiện chủ yếu của nội luật hóa là ban hành mới và sửa đổi văn bản trong nước cho tương thích và phù hợp Hai tác giả cũng nhận định Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được khá nhiều thành tựu trong lĩnh vực này
Số chuyên đề “Pháp luật Việt Nam với việc thực hiện công ước quốc tế về xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)” của tạp chí Luật học (số
3/2006) tập hợp một loạt bài viết xoay quanh nội dung này: “Bảo vệ quyền lợi của
lao động nữ theo công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ và pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Đỗ Ngân Bình; “Việc thực hiện một
số quyền chính trị của phụ nữ theo CEDAW ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị
Hồi; “CEDAW và vấn đề quyền bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phương Lan;“CEDAW với pháp luật Việt Nam về việc bảo hộ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” của tác giả Bùi Thị Thu; “Nội luật hoá CEDAW về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi dự thảo Luật bảo hiểm xã hội” của tác giả Nguyễn Thị Kim
Phụng Ở những bài viết này, hiện tượng nội luật hóa cũng được mặc nhiên thừa nhận, các tác giả đi thẳng vào thực tiễn, đối chiếu pháp luật Việt Nam với những cam kết trong các ĐƯQT mà chúng ta là thành viên, chỉ ra những nội dung tương tích là kết quả của hoạt động nội luật hóa hoặc chỉ ra những điểm chưa tương thích cần được nội luật hóa/ tiếp tục nội luật hóa Đó cũng là cách tiếp cận của tác giả Lê Thị Hoài
Trang 35Thu trong bài viết “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ và sự nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam” đăng trên tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 8/2012
2.2.3 Trong lĩnh vực lao động
Đáng chú ý có luận văn thạc sĩ “Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm
và nghề nghiệp và sự nội luật hóa trong pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả
Lương Thị Hòa Năm 2014 (thời điểm Bộ Luật Lao Động 2012 và Luật Việc làm
2013 đã có hiệu lực), đề tài này được làm mới lại bởi tác giả Đặng Mai Hoa Trong
công trình của mình, cũng như người tiền nhiệm, tác giả khẳng định sự cần thiết và tính tất yếu của việc nội luật hóa Công ước 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp với lập luận Công ước này chỉ đưa ra những quy định mang tính định hướng, không đủ rõ, đủ chi tiết để có thể áp dụng trực tiếp nên cần có sự chuyển hóa vào pháp luật trong nước Luận văn cũng phân tích sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam để phù hợp với Công ước 111 nhưng lại không giải quyết được thấu đáo mối quan hệ giữa việc “nội luật hóa” với việc “hoàn thiện
hệ thống pháp luật”
Trên tạp chí Khoa học pháp lý (số 3/2019), tác giả Lê Thị Thúy Hương có bài
viết: “Về khả năng thực thi các cam kết lao động trong hiệp định thương mai tự do
và một số thách thức đối với Việt Nam” Nghiên cứu đã chỉ ra một loạt nguyên nhân
dẫn đến những khó khăn trong việc chuyển hóa và thực thi các Công ước của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn như: độ vênh giữa pháp luật Việt Nam và PLQT, hạn chế về mặt nhận thức của cộng đồng, sự yếu kém trong thực thi pháp luật, thiếu số liệu thống
kê, hạn chế truyền thông và phổ biến thông tin pháp lý, hạn chế về nguồn lực… Một số nhà nghiên cứu khác cũng có dịp bàn đến nội dung này có thể kể đến
như: tác giả Trần Thị Thúy Lâm với bài viết “Công ước về phân biệt đối xử trong
việc làm, nghề nghiệp và sự nội luật hóa trong pháp luật lao động Việt Nam” (tạp
chí Luật học, số 1/2011); tác giả Đào Mộng Điệp và Mai Đăng Lưu với bài viết “Nội
luật hóa quy định của công ước 29 về lao động cưỡng bức và bắt buộc năm 1930”
(tạp chí Nghề luật, số 2/2015); tác giả Trần Thị Mai Sương với luận văn thạc sĩ luật
học “Đảm bảo các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản trong pháp luật lao động Việt
Nam” (2017)…
2.2.4 Trong lĩnh vực hình sự
Nổi bật có sách chuyên khảo “Nội luật hóa các quy định của Công ước Chống
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong Bộ luật Hình sự Việt Nam” (Nxb Hồng
Đức, 2016) của tác giả Nguyễn Phương Hoa (sản phẩm của đề tài cấp Bộ cùng tên)
Trang 36Đây là công trình khoa học khá công phu, giải quyết cả những vấn đề lý luận và thực tiễn về nội luật hóa liên quan đến lĩnh vực được nghiên cứu Đặc biệt tác giả đã dành hẳn một phần của cuốn sách để trình bày về kinh nghiệm của pháp luật hình sự một
số nước trong việc tội phạm hóa các hành vi nêu trong công ước chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia
Một công trình đáng chú ý khác là báo cáo “Chuyển hóa điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên vào Bộ luật Hình sự” của Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp
đăng trên tạp chí Dân chủ pháp luật (Số chuyển đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, năm 2015) Tại đây, các tác giả khẳng định việc thực thi ĐƯQT bằng cách thức nào
là xuất phát từ ý chí của quốc gia chứ không phải là một nguyên tắc bắt buộc, dẫn chứng là trong thực tiễn Việt Nam, nhiều ĐƯQT không cần phải chuyển hóa mà vẫn được thực hiện (áp dụng trực tiếp) Tuy nhiên, việc chuyển hóa các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên vào Bộ luật Hình sự thông qua thao tác sửa đổi, bổ sung bộ luật này là rất cần thiết (được nêu thành một định hướng lớn) bởi có ĐƯQT đòi hỏi quốc gia thành viên phải thực thi theo hướng chuyển hóa/nội luật hóa, như ví dụ mà nhóm
tác giả dẫn ra: “Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều
là tội phạm theo pháp luật hình sự của nước đó” (Khoản 1 Điều 4 Công ước CAT)
Cũng trong năm này, tác giả Ngô Hữu Phước có bài viết “Nội luật hóa các điều
ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay” đăng trên
tạp chí Nhà nước và pháp luật Bên cạnh việc giải quyết một số vấn đề lý luận như
khái niệm nội luật hóa, cơ sở pháp lý (quốc tế và quốc gia) của việc nội luật hóa, định hướng nội luật hóa… Đây là công trình có giá trị tin cậy cao với việc thống kê các ĐƯQT về đấu tranh phòng, chống tội phạm mà Việt Nam là thành viên và đối chiếu với các quy định tương ứng của BLHS nhằm chuyển hóa chúng Trên cớ sở đó, tác giả kiến nghị tiếp tục nội luật hóa một số nội dung trong các ĐƯQT Việt Nam đã ký kết, gia nhập nhưng chưa được chuyển hóa đầy đủ
Cùng với cách tiếp cận thuần túy từ thực tiễn và đối chiếu với pháp luật thực định, nội luật hóa trong lĩnh vực hình sự dành được sự quan tâm của rất nhiều tác giả
khác nhau: tác giả Trần Văn Dũng với bài viết “Nội luật hóa các điều khoản bắt buộc
của Công ước phòng, chống tham nhũng trong Bộ luật Hình sự - Vấn đề còn nhiều thách thức” (tạp chí Thanh tra, số 4/2013); tác giả Vũ Thị Thúy với hai bài viết “Nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế về quyền miễn trừ trong Luật Hình sự Việt Nam” và “Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam trong việc nội luật hóa quy định của công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
về tội phạm hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công” lần lượt đăng trên tạp chí
Trang 37Khoa học pháp lý số 5 và số 6 năm 2015; tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa với bài
viết “Nội luật hóa quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc
gia về tội rửa tiền trong Bộ luật hình sự Việt Nam - Các kiến nghị” (tạp chí khoa học
pháp lý, số 6/2015); tác giả Mai Bộ với bài viết “Sửa đổi, bổ sung tội mua bán người
và tội mua bán trẻ em theo hướng nội luật hóa công ước quốc tế về tội buôn bán người” (tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2015); tác giả Trịnh Duy Thuyên với bài viết
“Cần nội luật hóa Công ước chống tra tấn (CAT) khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự” (tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề năm 2015); tác giả Bùi Đình Tiến
với bài viết “Nhóm tội phạm có tổ chức theo Công ước về Chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam” (tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 6/2015); tác giả Nguyễn Quyết Thắng với bài viết “Quyền tài phán
trong các điều ước đa phương về chống khủng bố và vấn đề nội luật hóa trong pháp luật hình sự Việt Nam” (tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2016); tác giả Nguyễn
Anh Tuấn với bài viết “Bộ luật Hình sự năm 2015 với việc nội luật hóa các quy định
của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (tạp chí Kiểm sát, số 8/2016); tác
giả Lưu Thanh Hùng với bài viết “Hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư theo công
ước UNCAC của liên hợp quốc và vấn đề hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam” (tạp
chí Kiểm sát, số 6/2017)…
2.2.5 Trong lĩnh vực môi trường
Với bài viết “Vấn đề nội luật hóa các Công ước quốc tế và hoàn thiện hệ thống
pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam” (Tạp chí Điện tử Tòa án, tháng
7 năm 2020), tác giả Đinh Thế Hưng trình bày một cách chi tiết các kết quả của Việt Nam trong việc nội luật hóa các công ước về bảo vệ động vật hoang dã (CITES, CBD, RAMSAR…) Bên cạnh việc phân tích các cơ sở pháp lý, tác giả cũng tập trung luận giải tác động từ những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng đến việc nội luật hóa các ĐƯQT nói trên Tổng kết công trình, tác giả nêu ra bốn hạn chế lớn trong nội luật hóa các ĐƯQT về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến có một số quan điểm đáng chú ý thể hiện trong
báo cáo chuyên đề “Nội luật hóa và thực trạng nội luật hóa các điều ước quốc tế về
môi trường tại Việt Nam”1 Tại đây tác giả khẳng định hầu hết các ĐƯQT mà Việt
Nam là thành viên đều được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thông qua con đường nội luật hóa Từ những bất cập thực tiễn, tác giả đề xuất bổ sung thêm các điều khoản quy định trực tiếp về quy trình, cách thức tiến hành nội luật hóa các quy định của
1Nằm trong khuôn khổ đề tài “Hoàn thiện quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT
mà Việt Nam là thành viên - Cơ sở lý luận và thực tiễn” - Viện Nghiên cứu lập pháp 2013.
Trang 38ĐƯQT tại Việt Nam Tác giả cũng đưa ra kiến nghị phải chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cơ quan đảm nhiệm công tác nội luật hóa để từ đó tăng cường việc giám sát hoạt động nội luật hóa ở nước ta
2.2.6 Trong lĩnh vực thương mại
Trong bài viết “Một số thách thức khi thực thi các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới của Việt Nam từ việc chuyển hóa điều ước vào pháp luật trong nước”
(Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2019), tác giả Nguyễn Ngọc Hà đã chỉ ra những bất cập của Luật Điều ước quốc tế năm 2016 về lựa chọn phương pháp thực thi điều ước
và phân tích những hạn chế từ thực tiễn nội luật hóa các quy định trong các FTA mà Việt Nam tham gia dựa trên những dẫn chứng rất cụ thể
3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
• Vấn đề nội luật hóa ĐƯQT đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các tác giả từ nhiều truyền thống pháp luật khác nhau, nhiều trường phái chủ thuyết khác nhau Nội luật hóa ĐƯQT ngày càng chứng tỏ tư cách như
là đối tượng nghiên cứu của không chỉ luật quốc tế mà còn là rất nhiều chuyên ngành khoa học pháp lý khác
• Các khía cạnh lý luận của nội luật hóa ĐƯQT mới chủ yếu được tiếp cận và xây dựng bởi công pháp quốc tế mà chưa được quan tâm đúng mức trong lý luận chung về nhà nước và pháp luật Khung lý thuyết về nội luật hóa ĐƯQT
dù đã hình thành nhưng còn nằm tản mạn trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, chưa có sự hệ thống hóa trong các giáo trình luật của Việt Nam
• Xoay quanh nội hàm của khái niệm “nội luật hóa” đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thuật ngữ “nội luật hóa” do đó vẫn mang tính ước lệ khá cao, tồn tại nhiều cách diễn đạt tương đương hoặc gần nghĩa tùy từng góc độ tiếp cận Đây là tình trạng chung trong khoa học pháp lý thế giới cũng như ở Việt Nam nói riêng
• Số lượng công trình đề cập đến nội luật hóa ĐƯQT như một nội dung/khía cạnh trong việc giải quyết mối quan hệ PLQG-PLQT nhiều hơn hẳn so với
số công trình tiếp cận trực diện và coi nội luật hóa ĐƯQT là đối tượng nghiên cứu trọng tâm
• Phần lớn các khoa học pháp lý chuyên ngành mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của nội luật hóa ĐƯQT khi vấp phải hiện tượng này trong thực tế Thuật ngữ “nội luật hóa” thường được sử dụng như một khái niệm công cụ để giải quyết các nội dung liên quan, thường được đặt trong những ngữ cảnh mà người đọc được coi là đã hiểu nội dung, ý nghĩa của nó từ trước
Trang 39• Các khoa học pháp lý chuyên ngành ít quan tâm đến khía cạnh lý luận về nội luật hóa ĐƯQT mà hướng sự chú ý vào các biểu hiện thực tiễn của nó Một số tác giả tập trung vào việc trình bày những thành tựu, những sự tương thích đạt được nhờ quá trình nội luật hóa, số khác tập trung vào việc chỉ ra những nội dung sau nội luật hóa mà còn chưa tương thích hoặc chưa hợp lý, thiếu tính khả thi Ở một số chuyên ngành, các tác giả có xu hướng đi sâu hơn do yêu cầu nội luật hóa trong lĩnh vực của họ có tính “bắt buộc đặc thù”, điển hình như lĩnh vực hình sự
• Nội luật hóa ĐƯQT mới chủ yếu được nhìn nhận như một phương thức thực thi các cam kết quốc tế mà hầu như chưa được nghiên cứu với tư cách là một phần (giao thoa) của hoạt động xây dựng pháp luật Rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến quy trình nội luật hóa ĐƯQT và xem xét nó trong mối liên
hệ với quy trình xây dựng pháp luật của quốc gia
• Nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thiện HTPL quốc gia khi muốn nội luật hóa một ĐƯQT nhất định nhằm đáp ứng các đòi hỏi quốc tế nhưng không nhiều công trình đề cập đến chiều tác động ngược lại: chủ động nội luật hóa các ĐƯQT nói chung cũng là một phương thức hiệu quả để quốc gia hoàn thiện HTPL của mình Nói cách khác, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về sự liên hệ giữa nội luật hóa ĐƯQT với việc xây dựng và hoàn thiện HTPL, xem cái này là nhu cầu của cái kia
• Ảnh hưởng của nội luật hóa ĐƯQT ở cấp độ quốc gia mới chủ yếu được làm
rõ ở những tác động đến các quy phạm pháp luật trong nước, những phương diện tác động khác lên các thành tố còn lại của HTPL (theo nghĩa rộng) ít hoặc chưa được luận giải thấu đáo
Tóm lại, so với nhiều quốc gia khác, nghiên cứu về nội luật hóa ở Việt Nam có phần muộn hơn, quá trình này diễn ra chưa đồng bộ và chưa thực sự hiệu quả khi còn thiếu những nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là từ lĩnh vực lý luận chung về nhà nước và pháp luật Trong khi đó, lý thuyết của nước ngoài tuy có nhưng khó có thể vay mượn hoàn toàn do có những khác biệt về góc độ tiếp cận, nhất là trong bối cảnh pháp luật thực định Việt Nam liên quan đến nội luật hóa ĐƯQT còn khá mơ hồ
Không phụ thuộc vào góc nhìn nhất nguyên hay nhị nguyên, PLQG và PLQT vốn luôn có sự giao thoa và tương tác, bởi vậy lý luận về xây dựng pháp luật và lý luận
về nội luật hóa cũng là hai mảng lý thuyết có mối liên hệ với nhau một cách tự nhiên Song ở Việt Nam đang có sự đứt đoạn lý thuyết khi các công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện HTPL chưa thực sự chú trọng đến việc nhận diện và định vị các
Trang 40thao tác nội luật hóa, những tác động và đóng góp của nội luật hóa tới việc hoàn thiện HTPL Việt Nam mới chỉ được nhắc tới mà chưa được khắc họa sâu sắc
4 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt về nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam, luận án triển khai những hướng
đi sau để khai thác sâu hơn các nội dung chưa được nghiên cứu đầy đủ trong các công trình trước đây: (i) Củng cố khung lý thuyết về nội luật hóa ĐƯQT, gắn lý thuyết về nội luật hóa ĐƯQT với lý thuyết về hệ thống pháp luật và xây dựng pháp luật; (ii) Soi chiếu vào thực tiễn ở Việt Nam để làm rõ vai trò cũng như những tác động cụ thể của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (iii) Nghiên cứu vận dụng những kinh nghiệm phù hợp của nước ngoài, thiết kế những giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh việc nội luật hóa các ĐƯQT đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện HTPL và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Về các vấn đề lý thuyết, luận án nghiên cứu và tiếp thu những khía cạnh lý luận
đã có sự thống nhất và được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý thế giới trên quan điểm kế thừa chứ không vay mượn hoàn toàn Trên cơ sở phân tích các góc độ tiếp cận về nội luật hóa ĐƯQT, luận án cần làm nổi bật những đặc điểm của nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL quốc gia Việc chuẩn hóa khái niệm
sẽ là cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số khía cạnh từ đặc thù chuyên ngành như chủ thể, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL… Quy trình, thủ tục và kỹ thuật nội luật hóa ĐƯQT cũng cần được tiếp cận dưới góc độ là hình thức và phương pháp nội luật hóa ĐƯQT trong xây dựng và hoàn thiện HTPL
Nhiều vấn đề thực tiễn xoay quanh nội luật hóa ĐƯQT cũng cần được tiếp tục
mở rộng nghiên cứu Trước hết, nhu cầu thực tế của Việt Nam về nội luật hóa ĐƯQT cần được đánh giá một cách cụ thể hơn, cả về tính chất cũng như mức độ, gắn với bối cảnh và điều kiện hiện nay Thứ hai, những quy phạm thực định của Việt Nam trực tiếp điều chỉnh hoặc gián tiếp liên quan đến nội luật hóa ĐƯQT cần được xem xét một cách có hệ thống, từ đó tìm kiếm những chính sách pháp luật phản ánh bên trong Thứ ba, khi đánh giá thực tiễn hoạt động, kết quả nội luật hóa ĐƯQT cần được bóc tách (tương đối) ra khỏi kết quả thực thi ĐƯQT nói chung, tránh việc đưa ra những kết luận mang tính quy chụp hoặc chung chung Một định hướng nghiên cứu mới mà luận án cũng có thể bám theo để triển khai đó là chỉ ra những tác động cụ thể từ hoạt động nội luật hóa ĐƯQT lên từng yếu tố cấu thành của HTPL Việt Nam cũng như