1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập bài giảng tâm lý học ứng dụng 2020

48 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tâm Lý Học Ứng Dụng 2020
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tâm Lý Học
Thể loại Tập bài giảng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 392,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tâm lý là những hiện tượng tinh thần tồn tại và phát triển trong các dạng vận động của cơ thể sống (có cả ở người và động vật). Đây là một định nghĩa chung. Tâm lý người bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần nào nảy sinh trong đầu óc con người, nó gắn liền và điều hành mọi hoạt động và hành động của con người. Ví dụ như cảm giác lo lắng, hồi hộp, xúc động…sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công việc, kết quả của hành động. Như vậy, tâm lý con người có sức mạnh to lớn trong đời sống của mỗi con người, nó giúp cho họ vượt qua mọi trở ngại đẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu họ có sự thoải mái về mặt tinh thần, ngược lại làm cho họ chóng mệt mỏi, gây bệnh tật nếu họ bị xúc phạm và bị ép buộc về mặt tinh thần.

Trang 1

PHẦN I: TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Tâm lý người bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần nào nảy sinh trong đầu óc con người,

nó gắn liền và điều hành mọi hoạt động và hành động của con người Ví dụ như cảm giác lo lắng, hồi hộp, xúc động…sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công việc, kết quả của hành động Như vậy, tâm lý con người có sức mạnh to lớn trong đời sống của mỗi con người, nó giúp cho họ vượt qua mọi trở ngại đẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu họ có sự thoải mái về mặt tinh thần, ngược lại làm cho họ chóng mệt mỏi, gây bệnh tật nếu họ bị xúc phạm và bị ép buộc về mặt tinh thần

2.1 Đối tượng của tâm lý học

- Là các hiện tượng tâm lý với tư cách là hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hiện tượng tâm lý

- Tâm lý học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý gộp lại thành hoạt động tâm lý, những hiện tượng này có cơ sở hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người và gắn bó mật thiết với các quan hệ xã hội

2.2 Nhiệm vụ của tâm lý học

Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học bao gồm các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý cả về mặt số lượng và chất lượng

- Nghiên cứu các quy luật hình thành và phát triển tâm lý

- Tìm ra cơ chế diễn biến và thể hiện của các hoạt động tâm lý

- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý

Trên cơ sở các thành tựu nghiêm cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng tâm lý trong các mối quan hệ người - người có hiệu quả nhất

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, tâm lý học phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhiều khoa học khác

2.3 Vị trí của tâm lý học

Tâm lý học là bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống khoa học về con người Đồng thời nó là

bộ môn nghiệp vụ trong hệ thống các khoa học tham gia vào việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng

Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Mỗi một môn khoa học nghiên cứu một mặt nào đó của con người, trong đó tâm lý học chiếm một vị trí đặc biệt

Theo viện sĩ triết học Kêđơrov (Liên Xô): tâm lý học là một khoa học trung gian nằm giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học

Triết học cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận chỉ đạo cho tâm lý học Ngược lại, tâm lý học đóng góp nhiều thành tựu làm cho triết học trở nên phong phú hơn

Trang 2

Tâm lý học có quan hệ với khoa học tự nhiên: giải phẫu sinh lý người, hoạt động thần kinh cấp cao là cơ sở tự nhiên của hoạt động tâm lý

Tâm lý nghiên cứu con người, mà con người về mặt bản chất là một thực thể xã hội Do đó, tâm

lý học và khoa học xã hội có mối quan hệ với nhau

2.4 Ý nghĩa của tâm lý học

- Khẳng định quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp giáo dục

- Giúp giải thích mọi hiện tượng tâm lý: cá nhân, người khác và xã hội

- Có ý nghĩa thực tiễn với nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội

2.4 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý học

2.4.1 Các nguyên tắc, phương pháp luận của tâm lý học

a Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não con người, thông qua “lăng kính chủ quan” của con người Tâm lý định hướng, điều khiển điều chỉnh hoạt động hành vi của con người tác động trở lại thể giới, trong đó yếu tố xã hội đóng vai trò quyết định

b Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động

Hoạt động là phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức nhân cách Ngược lại, tâm lý ý thức nhân cách là cái điều khiển hoạt động

Cần phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó Nghiên cứu tâm lý qua sự diễn biến và qua sản phẩm của hoạt động

c Nghiên cứu tâm lý trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác

Các hiện tượng tâm lý không tồn tại một cách biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau,

bổ sung cho nhau Đồng thời, chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của các hiện tượng khác

d Phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể

Trong tâm lý học không nghiên cứu một cách chung chung, không nghiên cứu tâm lý ở một con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng, mà phải nghiên cứu một con người cụ thể

2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Muốn quan sát có hiệu quả cần chú ý những yêu cầu sau:

+ Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát;

+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt;

+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận, có hệ thống;

+ Ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực

b Phương pháp thực nghiệm

Đây là phương pháp có nhiều hiệu quả trong nghiên cứu tâm lý

- Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ quan trong những điểu kiện đã được khống chế, để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan hệ nhân quả, tính quy luật, cơ

Trang 3

cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và đo đạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu

- Có hai loại thực nghiệm cơ bản:

+ Thực nghiệm tự nhiên: Được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống và hoạt động Trong quá trình quan sát, nhà nghiên cứu chỉ thay đổi những yếu tố riêng rẽ của hoản cảnh, còn trong thực nghiệm tự nhiên, nhà thực nghiệm có thể chủ động tạo ra các biểu hiện và diễn biến tâm lý bằng cách khống chế một nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nỏi bật những yếu tố cần thiết có khả năng giúp cho việc khai thác, tìm kiếm các nội dung cần thực nghiệm

Tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà người ta phân thực nghiệm tự nhiên thành: thực nghiệm nhận định và thực nghiệm hình thành:

• Thực nghiệm nhận định: Chủ yếu nêu lên thực trạng của vấn đề nghiên cứu trong một thời gian

Tuy nhiên, dù thực nghiệm tự nhiên hay thực nghiệm trong phong thí nghiệm thì cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan của người bị thực nghiệm.Vì thế phải tiến hành thực nghiệm một số lần và phối hợp đồng bộ với nhiều phưong án và phương pháp khác

c Trắc nghiệm (Test)

- Test là một phép thử để “đo lượng” tâm lý đã được chuẩn hoá trên một số lượng người đủ tiêu biểu

- Ưu điểm cơ bản của test:

+ Có khả nảng làm cho hiện tượng tâm lý cần đo được trực tiếp bộc lộ qua việc giải bài tập test; + Có khả năng tiến hành nhanh, tương đối đơn giản bằng giấp, bút, tranh vẽ…

+ Có khả năng lượng hoá, chuẩn hoá chỉ tiêu tâm lý cần đo

- Test có khó khăn, hạn chế:

+ Khó soạn một bộ test đảm bảo tính chuẩn hoá;

+ Test cho ta biết kết quả gián tiếp là chủ yếu, ít bộc lộ quá trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết

d Phương pháp đàm thoại

- Là cách đặt ra các câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ để trao đổi, hỏi thêm, nhằm thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu

- Để đàm thoại có kết quả tốt cần:

+ Xác định rõ mục đích yêu cầu (vấn đề cần tìm hiểu);

+ Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng đàm thoại với một số đặc điểm của họ;

+ Có kế hoạch trước để “lái hướng” câu chuyện;

+ Cần linh hoạt trong việc “lái hướng” câu chuyện để câu chuyện vừa đảm bảo tính lôgic của nó, vừa đáp ứng yếu cầu của người nghiên cứu

e Phương pháp điều tra

Trang 4

Là phương pháp dùng một câu hỏi nhất loại đặt ra cho một số lượng lớn đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó Có thể trả lời bằng văn bản nhưng cũng có thể trả lời bằng miệng và có người ghi lại

Có thể điều tra thăm dò chung hoặc điều tra chuyên đề để đi sâu vào một khía cạnh Câu hỏi dùng để điều tra có thể là câu hỏi đóng, tức là có nhiều đáp án sẵn để đối tượng chọn một trong các đáp án, cũng có thể là câu hỏi mở để họ tự do trả lời

Phương pháp này có thể dùng trong một thời gian ngắn, thu thập được một số ý kiến của một số người nhưng là ý kiến chủ quan

g Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động

Đó là phương pháp dựa vào các kết quả sản phẩm (vật chất, tinh thần) của hoạt động do con người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của người đó Bởi vì, trong sản phẩm do con người làm ra có chứa “dấu vết” tâm lý, ý thức, nhân cách của con người

Sử dụng phương pháp này cần chú ý: các kết quả hoạt động phải được xem xét trong mối liên hệ với những điều kiện cụ thể khi tiến hành hoạt động

h Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân

Có thể nhận ra các đặc điểm cá nhân thông qua việc phân tích tiểu sử cuộc sống của cá nhân đó, góp phần cung cấp một số tài liệu cho việc chuẩn đoán tâm lý

Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu tâm lý con người khá phong phú, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Muốn nghiên cứu chức năng tâm lý một cách khoa học, khách quan, chính xác cần phải:

+ Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề cần nghiên cứu;

+ Sử dụng và phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả khách quan, toàn diện

3 Một số quan điểm khác nhau về hiện tượng tâm lý

3.1 Quan niệm duy tâm

+ Từ thời cổ đại đến nay vẫn còn tồn tại quan điểm cho linh hồn là lực lượng siêu nhiên bất diệt,

do thượng đế trời phật ban cho con người, tức là do trời định Tâm lý con người không phụ thuộc vào thế giới khách quan cũng như điều kiện thực tại của cuộc sống

+ Theo các nhà duy tâm chủ quan, tâm lý con người là một trạng thái tinh thần có sẵn ở trong mối con người, nó không gắn gì với thế giới bên ngoài và cũng không phụ thuộc vào cơ thể Bằng phương pháp nội quan mỗi con người tự quan sát, tự thể nghiệm tâm lý của bản thân rồi suy diễn chủ quan sang tâm ý người khác «lòng vả cũng như lòng sung », «suy bụng ta ra bụng người »

Nhược điểm: Không giải thích được bản chất hiện tượng tâm lý, dẫn đến chỗ hiểu tâm lý như một cái gì thần bí không thể nghiên cứu được

3.2 Quan niệm duy vật thô sơ

Tâm hồn cũng như mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo từ vật chất, do vật chất trực tiếp sinh

ra giống như gan tiết ra mật, họ đem đồng nhất cái vật lý, cái sinh lý với cái tâm lý, phủ nhận vai trò của chủ thể tính tích cực năng động của tâm lý, ý thức, phủ nhận bản chất xã hội và tính lịch

sử của tâm lý con người

Tiêu biểu là Đêmôrits cho rằng tâm hồn là do các nguyên tố tạo nên giống như nước lửa, không khí; Aritxtốt trong cuốn sách “bàn về tâm hồn” đã mô tả thế giới tâm hồn con người một cách cụ thể, rất gần gũi với cuộc sống thực

3.3 Quan niệm của S.Feud

S Freud (1856-1939) là bác sỹ tâm thần nổi tiếng người Áo, từ quá trình nghiên cứu chữa bệnh, ông đã hình thành nên trường phái Phân tâm học Ông có công lao to lớn nghiên cứu các hiện

Trang 5

tượng tâm lý ở “tầng sâu” thầm kín nhất của con người và phân tích nó gắn với việc lý giải mọi hiện tượng trong đời sống hàng ngày nhất là những hành vi của người bệnh

Ông coi bản năng, đặc biệt là bản năng sinh dục của con người là nguồn gốc thúc đẩy mọi hành

vi của con người, thậm chí cả những sáng tạo khoa học nghệ thuật…Ông cho rằng cấu trúc tâm

lý trong con người gồm ba khối: vô thức, tiền ý thức và ý thức Nhân cách của con người bao gồm:

+ “Cái ấy” (vô thức): ăn uống, tình dục, tự vệ trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm, quyết định đời sống tâm lý và hành vi của con người “Cái ấy” tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn

3.4 Quan niệm tâm lý học hành vi

Tâm lý học hành vi do nhá tâm lý học người Mỹ J Watson (1879-1958) sáng lập, sau đó học trò của ông đã kế thừa và phát triển Họ cho rằng: tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái

ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể con người cũng như ở động vật Hành vi được hiểu

là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ảnh bằng công thức: Kích thích - phản ứng (S- R) Họ quan niệm chỉ cần nghiên cứu hệ thống những kích thích và các kích thích nào đó tạo

ra được những hành vi phản ứng có lợi là được

Quan điểm và công thức S- R cho thấy:

- Ưu điểm: đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học: coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được một cách khách quan Từ đó, có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử - sai”

+ Con người chỉ hành vi, phản ứng trong thế giới một cách cơ học máy móc Đây là quan niệm

tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử và thực dụng

Về sau các đại biểu của chủ nghĩa hành vi như: Tonmen, Hull, Skinrnơ…đã đưa vào công thức S

- R “những biến số trung gian” như: nhu cầu, trạng thái chờ đợi, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi tái tạo Tuy nhiên về cơ bản chủ nghĩa hành vi mới vẫn mang tính máy móc, thực dụng chủ nghĩa hành vi cổ điển Watson

Trang 6

4 Quan điểm Mác - Xít về hiện tượng tâm lý

4.1 Bản chất hiện tượng tâm lý

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể Tâm lý người có bản chất xã hội lịch sử

a.Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua ý thức chủ quan

* Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt:

- Tâm lý là sự tác động của hiện thực khách quan vào một thứ vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất, đó là bộ não, là hệ thần kinh, tâm lý là hoạt động của não Chỉ có hệ thần kinh và não người mới có khả năng tiếp nhận tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trong não hình ảnh tinh thần (tâm lý) chứa đựng trong vết vật chất, đó là các quá trình sinh lý, sinh hoá ở trong hệ thân kinh và não bộ

- Phản ánh tâm lý tạo ra “hình ảnh tâm lý” như “một bản sao chép” về thế giới khách quan Hình ảnh tâm lý khác xa về chất so với các hình ảnh cơ, lý, hóa, sinh vật ở chỗ:

+ Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo;

+ Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân (hay nhóm người) hay nói cách khác hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Tính chủ thể trong sự phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ:

• Mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, cái riêng của mình về nhu cầu, xu hướng, tính cách, năng lực, tình cảm….vào trong hình ảnh đó làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan Nói cách khác, con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lý thông qua “lăng kính chủ quan” của mình

• Cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện thực khách quan, nhưng ở những chủ thể khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lý với các mức độ và sắc thái khác nhau

• Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động đến cùng một chủ thể duy nhất nhưng vào những thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau, với trạng thái cơ thể, trạng thái tinh thần khác nhau có thể cho ta những mức độ biểu hiện và các sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy

• Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện rõ nhất Thông qua các mức độ và sắc thái tâm lý khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực

• Tâm lý của mỗi người không đồng nhất với nhau Bởi vì, mỗi người có những đặc điểm riêng

về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ; Mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục không giống nhau; Mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống Vì vậy, tâm lý của mỗi người thể hiện khác nhau

b Tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử

Tâm lý người khác xa với tâm lý của một số loài động vật cao cấp ở chỗ: Tâm lý có bản chất xã hội và mang tính lịch sử

- Tâm lý người có nguồn gốc hiện thực khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội), trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định Ngay cả phần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hoá Phần xã hội hoá thế giới quyết định tâm lý con người thể hiện qua:

+ Các quan hệ kinh tế - xã hội;

+ Các mối quan hệ đạo đức, pháp quyền;

+ Các mối quan hệ giữa con người với con người từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, cho đến các quan hệ nhóm, quan hệ cộng đồng…Các mối quan hệ này quyết định bản chất tâm lý con người

Trang 7

Trên thực tế, nếu con người thoát lý khỏi các quan hệ xã hội, quan hệ người - người đều làm cho tâm lý người mất đi bản tính người Đặc biệt, những trẻ em do động vật nuôi từ bé, tâm lý của trẻ này không hơn hẳn tâm lý loài vật

- Tâm lý người là sản phẩn của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội Con người là một thực thể tự nhiên, nhưng điều chủ yếu và quyết định là con người là một thực thể xã hội

+ Con người là một thực thể tự nhiên như đặc điểm cơ thể, giác quan, thần kinh, bộ não, được xã hội ở mức cao nhất

+ Con người là một thực thể xã hội: Con người là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động giao tiếp với tư cách một chủ thể tích, chủ thể sáng tạo Vì thế tâm lý con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội - lịch sử của con người

+ Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp (như hoạt động vui chơi, học tập, lao động, công tác xã hội) Trong đó, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của con người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội đóng vai trò quyết định trực tiếp

+ Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử

cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng

Tóm lại, tâm lý của con người có nguồn gốc xã hội, vì thế khi nghiên cứu phải nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hoá xã hội, quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động Đồng thời, cần phải tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục cũng như các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau để hình thành và phát triển tâm lý con người

4.2 Phân loại hiện tượng tâm lý

Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý

4.2.1 Căn cứ vào thời gian tồn tại và vị trí tương đối của các hiện tượng tâm lý: có 3 loại chính:

- Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có

mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Người ta thường phân biệt có quá trình tâm lý

cơ bản:

+ Quá trình nhận thức: gồm có cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng

+ Các quá trình cảm xúc

+ Các quá trình hành động ý chí

- Các trạng thái chú ý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, việc

mở đầu, kết thúc khồng rõ ràng như chú ý, tâm trạng

- Các thuộc tính tâm lý: là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó

mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách Có 4 thuộc tính tâm lý: xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất

Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý bằng sơ đồ sau:

Trang 8

4.2.2 Căn cứ vào hành động của con người, hiện tượng tâm lý có 2 loại:

- Hiện tượng tâm lý có ý thức

- Hiện tượng tâm lý chưa được ý thức

4.2.3 Căn cứ vào biểu hiện tâm lý, người ta chia hiện tượng tâm lý thành 2 loại:

- Hiện tượng tâm lý sống động

- Hiện tượng tâm lý tiềm tàng

4.2.4 Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của tâm lý, hiện tượng tâm lý có 2 loại:

- Hiện tượng tâm lý cá nhân

- Hiện tượng tâm lý xã hội

4.3 Chức năng của tâm lý

- Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động

- Tâm lý là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khó khăn vươn tới mục đích đã đề ra

- Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hành động, làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định

- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xác định, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh thực tế cho phép

4.3 Hoạt động, giao tiếp trong sự phát triển tâm lý

Trong tâm lý học cho rằng: cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau:

+ Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hoá (còn gọi là “xuất tâm”): chủ thể chuyển năng

lượng của mình thành sản phẩm của hoạt động Tâm lý con người được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm Nhờ vậy, chúng ta mới tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ

+ Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hoá (còn gọi là “nhập tâm”): con người chuyển nội

dung khách thể (những quy luật, bản chất, đặc điểm…của khách thê) vào bản thân mình tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân Đây chính là quá trình chiếm lĩnh thế giới

Như vậy, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình hay nói cách khác tâm lý, nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động

b Đặc điểm của hoạt động

+ Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Đối tượng của hoạt động là cái con người cầm làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là đông cơ luôn thúc đẩy con người hoạt động nhằm tác động vào khách thể để thay đổi nó thành sản phẩm hoặc tiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình, tạo nên một cấu trúc tâm lý mới, một năng lực mới

Trang 9

+ Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động do chủ thực hiện Chủ thể có thể là một hoặc nhiều người

+ Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích Mục đích của hoạt đông nhằm làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân mình (chủ thể)

+ Hoạt động được vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động con người “gián tiếp” tác động vào khách thể qua các phương thức: qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, qua sử dụng công cụ lao động, qua sử dụng phương tiện ngôn ngữ

4.3.1.2 Cấu trúc của hoạt động

Chủ nghĩa hành vi cho rằng: hoạt động của con người và động vật có cấu trúc chung là: kích thích - phản ứng (S- R)

Quan điểm của A.N.Lêônchiev đưa ra cấu trúc hoạt động bao gồm có 6 thành tố sau:

Chủ thể Khách thể Hoạt động cụ thể Động cơ

4.3.1.3 Phân loại hoạt động

- Xét về phương diện phát triển cá thể: có 4 loại hoạt động: vui chơi, học tập, lao động và hoạt động xã hội

- Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần) có 2 loại:

+ Hoạt động thực tiễn: hướng vào các vật thể hay quan hệ tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu + Hoạt động lý luận: diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm tạo ra sản phẩm tình thần

- Xét về phương diện đối tượng hoạt động: có 4 loại:

+ Hoạt động biến: là những hoạt động hướng tới làm biến đổi hiện thực

+ Hoạt động nhận thức: là loại hoạt động tinh thần, phản ánh thế giới khách quan

+ Hoạt động định hướng giá trị

+ Hoạt động giao lưu: thiết lập mối quan hệ người - người

4.3.2 Giao tiếp và tâm lý

a Giao tiếp là gì?

Con người để tồn tại và phát triển không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật hiện tượng bằng hoạt động có đối tượng mà còn phải có quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, đó là quan hệ giao tiếp

- Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau

về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau và ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Nói cách khác, giao tiếp là sự xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

- Mối quan hệ giữa con người với con người có thể diễn ra các hình thức khác nhau như:

+ Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân

Trang 10

+ Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm

+ Giao tiếp giữa nhóm với nhóm

+ Giao tiếp giữa nhóm với cộng đồng

b Phân loại giao tiếp

- Theo phương tiện giao tiếp:

+ Giao tiếp vật chất: là hình thức giao tiếp thông qua hành động với vật thể

+ Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt.v.v

+ Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người, xác lập và vận hành mối quan hệ người - người trong xã hội

- Theo khoảng cách:

+ Giao tiếp gián tiếp: qua thư từ, có khi qua ngoại cảm, thần giao cách cảm

+ Giao tiếp trực tiếp: là hình thức giao tiếp mặt đối mặt các chủ thể trực tiếp giao tiếp và nhận tín hiệu với nhau

- Phân theo quy cách:

+ Giao tiếp chính thức: nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách, quy định, thể chế + Giao tiếp không chính thức: là giao tiếp giúp những người hiểu rõ về nhau không câu nệ vào thể thức mà theo kiểu thân tình nhằm mục đích chính là thông cảm, đồng cảm với nhau

Các loại giao tiếp trên luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô cùng đa dạng, phong phú và cũng vô cùng phức tạp

c Chức năng của giao tiếp

- Chức năng thông tin: thông qua giao tiếp con người có thể trao đổi, truyền đạt thông tin, tri thức, kinh nghiệm với nhau

- Chức năng cảm xúc: trong giao tiếp con người không chỉ bộc lộ những cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới

- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: trong giao tiếp mỗi chủ thể tự bộc quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen của mình Các chủ thể có thể nhận thức được về nhau, đánh giá lẫn nhau, từ đó đánh giá bản thân mình

- Chức năng điều chỉnh hành vi: trên cơ sở nhận thức, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân thì trong giao tiếp chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác động đến động cơ, mục đích và hành động của chủ thể khác

- Chức năng phối hợp hành động: nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó

Tóm lại, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con người và con người, trong đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi lẫn nhau, tự điều chỉnh hành vi của mình

d Vai trò của giao tiếp với tâm lý

- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu giao tiếp cơ bản, xuất hiện sớm ở con người

Thực tế chứng minh rằng, những trường hợp trẻ em do động vật nuôi mất hẳn tính người, mất nhân cách, chỉ còn lại những đặc điểm tâm lý hành vi của con người

- Nhờ có giao tiếp mà con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội, đồng thời nhận thực được bản thân mình, tự đánh giá được bản thân mình Hay nói cách khác, qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức

4.3.3 Quan hệ giao tiếp và hoạt động

Trang 11

Nhiều nhà tâm lý học cho rằng, giao tiếp như một dạng đặc biệt của hoạt động: giao tiếp cũng diễn ra bằng các hành động và có cả các thao tác cụ thể, sử dụng các phương tiện khác nhau nhằm đạt được những mục đích xác định, thoả mãn nhu cầu cụ thể

Một số nhà tâm lý học khác cho rằng giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù đồng đẳng, có quan

hệ qua lại với nhau trong cuộc sống của con người

+ Có trường hợp giao tiếp là điều kiện của một hoạt động khác, ví dụ như trong lao động sản xuất thì giao tiếp là điều kiện của con người phối hợp với nhau, quan hệ với nhau để cùng tiến hành làm ra sản phẩm lao động chung

+ Có trường hợp hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người, chẳng hạn như diễn viên múa, kịch câm làm các hành động tay chân, điệu bộ, cử chỉ là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp giữa anh ta với khán giả

4.3.4 Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp

- Hoạt động và giao tiếp có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau: giao tiếp là điều kiện của một hoạt động Hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người Ví dụ như trong giao tiếp vật chất, giao tiếp phi ngôn ngữ, các hành động,

cử chỉ, điệu bộ là điều kiện để trao đổi thông tin, cảm xúc

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Tâm lý con người có nguồn gốc từ bên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào trong não mỗi người Trong thế giới khách quan thì quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội là cái quyết định tâm lý con người

Tâm lý con người là kinh nghiệm xã hội - lịch sử chuyển thành kinh nghiệm của bản thân thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp

II Nhân cách

1 Khái niệm nhân cách

1.1 Nhân cách là gì?

a Khái niệm con người, cá nhân, cá tính, chủ thể nhân cách

- Con người: con người vừa là một thành viên của một cộng đồng, một xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội

+ Bằng thực thể tự nhiên, máu thịt và bộ não của con người thuộc về thế giới tự nhiên, tuân theo quy luật của tự nhiên

+ Bằng thực thể xã hội, con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong các mối quan hệ xã hội

- Cá nhân: Là thuật ngữ dùng để chỉ một con người với tư cách đại diện cho loài, là thành viên của xã hội loài người Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật – văn hoá nhưng được xem xét một cách cụ thể, riêng từng người với đặc điểm sinh vật – tâm lý- xã hội để phân biệt họ với những người khác nhau, với cộng đồng

- Cá tính: là thuật ngữ dùng để chỉ cái đơn nhất, cái độc đáo, có một không hai không lặp lại trong tâm lý (hoặc sinh lý) của cá thể động vật hoặc cá thể người, là đặc thù nói lên cái riêng của một cá thể cá nhân

- Chủ thể: Khi cá nhân thực hiện một cách có ý thức, có mục đích một hoạt động hay một quan

hệ xã hội thì cá nhân đó gọi là một chủ thể

- Nhân cách: chỉ bao hàm phần xã hội - tâm lý của cá nhân với tư cách thành viên của xã hội, là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức

b Khái niệm nhân cách trong tâm lý học

- Một số quan niệm sai lầm về nhân cách:

+ Quan niệm sinh vật hoá nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể, ở góc mặt, ở thể tạng, ở bản năng vô thức

Trang 12

+ Quan niệm xã hội hoá nhân cách: quan điểm này lấy các quan hệ xã hội như gia đình, họ hàng, làng xóm…để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lý của cá nhân đó Quan điểm này chỉ chú ý đến cái chung của gia đình, làng xóm, cộng đồng mà bỏ qua cái riêng, cái đơn nhất độc đáo của con người Họ không thấy rằng, chính cái chung chỉ đạo cái riêng, cái chung biểu hiện qua cái riêng, cái riêng làm phong phú cái riêng

- Quan niệm khoa học về nhân cách: Các nhà khoa học tâm lý cho rằng, khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể, của một xã hội cụ thể chuyển thành đặc điểm nhân cách của từng người

A.G Côvaliov: nhân cách là một cá thể có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định

E.V.Sôđrôkhôva: nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định của hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội

Từ những định nghĩa trên, có thể nêu lên một khái quát: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con người

Như vậy, nghiên cứu nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý mới Nhân cách là tổng hợp những đặc điểm tâm lý đặc trưng với một có cấu trúc xác định Nhân cách quy định bản sắc riêng của cá nhân, nó biểu hiện ở cả 3 cấp độ: bên trong cá nhân, liên nhân cách và siêu nhân cách

1.2 Đặc điểm của nhân cách

a Tính thống nhất của nhân cách

- Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất các thuộc tính tâm lý, thống nhất giữa phẩm chất và năng lực; giữa đức và tài của con người Các phần tử tạo nên nhân cách liên hệ hữu cơ với nhau làm cho nhân cách mang tính trọn vẹn

- Nhân cách có sự thống nhất giữa ba cấp độ: Cấp độ bên trong cá nhân; cấp độ liên cá nhân; cấp

độ siêu cá nhân Đó là sự thống nhất giữa ý thức, tâm lý với hoạt động, giữa giao tiếp với nhân cách

X.L.Rubinstêin: “Khi giải quyết bất cứ hiện tượng tâm lý nào, nhân cách nổi lên như một tổng thể liên kết thống nhất của các điều kiện bên trong và tất cả các điều kiện bên ngoài đều bị khúc xạ”

b Tính ổn định của nhân cách

- Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lý ổn định, tiềm tàng trong mỗi cá nhân

- Những đặc điểm tâm lý nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội của cá nhân, quy định giá trị xã hội làm người của mỗi cá nhân Vì thế, nhân cách là cái sinh thành và phát triển trong suốt cuộc đời của con người, biểu hiện trong hoạt động và mối quan hệ giao lưu của cá nhân trong xã hội Do đó, các đặc điểm nhân cách, các phẩm chất nhân cách khó hình thành và khó mất đi

- Tính tích cực của nhân cách là con người không thoả mãn những gì mà bản thân và xã hội có nhu cầu, là nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của nhân cách Con người không thoả mãn

Trang 13

bằng các đối tượng đã có sẵn nhờ có công cụ và lao động, con người đã biến đổi, đã sáng tạo ra các đối tượng làm cho nó phù hợp với nhu cầu của bản thân

- Con người tích cực là con người luôn tìm kiếm những cách thức, phương thức thoả mãn các loại nhu cầu ngày càng cao vì có mục đích nhất định

d Tính giao lưu của nhân cách

- Nhân cách chỉ có thể hình thành và phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác

- Nhu cầu giao lưu là nhu cầu bẩm sinh của con người, thông qua giao lưu con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội Qua giao lưu con người được đánh giá, được nhìn nhận theo giá trị xã hội

- Qua giao lưu con người được đóng góp các giá trị phẩm chất nhân cách của mình cho người khác, cho xã hội

2 Cấu trúc của nhân cách

Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc nhân cách, tuỳ theo quan niệm về bản chất của nhân cách của nhân cách mà mỗi tác giả đưa ra một cấu trúc khác nhau

- A.G.Côvaliov, câú trúc nhân cách bao gồm: các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân

- Theo K.K.Platônov cho rằng: nhân cách có 4 tiểu cấu trúc:

+ Tiểu cấu trúc có nguồn gốc sinh học: khí chất, giới tính, lứa tuổi và cả những đặc điểm bệnh

+ Tiểu cấu trúc có đặc điểm của các quá trình tâm lý: các phẩm chất trí tuệ, trí nhớ, ý chí, đặc điểm xúc cảm tình cảm…

+ Tiểu cấu trúc về vốn kinh nghiệm: tri thức, kỹ năng kỹ xảo, thói quen…

+ Tiểu cấu trúc xu hướng nhân cách: nhu cầu, hứng thú, ý tưởng, thế giới quan, niềm tin…

- Quan điểm coi cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt thống nhất với nhau là đức và tài (phẩm chất và năng lực):

+ Phẩm chất (đức):

• Phẩm chất xã hội (đạo đức, chính trị): thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, lập trường…

• Phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư cách): các nết, đức tính, các thói, tật…

• Phẩm chất ý chí: tính mục đích, tính tự chủ, tính kỷ luật, tính quả quyết, tính phê phán

• Cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí

• Năng lực hành động: khả năng hành động có mục, chủ động tích cực có hiệu quả

• Năng lực giao tiếp: khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ với người khác

- Có một số tài liệu tâm lý học xem nhân cách bao gồm 4 khối (4 bộ phận) sau:

+ Xu hướng nhân cách

+ Những khả năng của nhân cách

+ Phong cách hành vi của nhân cách

+ Hệ thống “cái tôi” - hệ thống điều khiển, điều chỉnh hành vi của nhân cách

- Quan điểm khá phổ biến xưa nay coi nhân cách bao gồm 4 thuộc tính tâm lý phức tạp, điển hình của cá nhân: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực

Tóm lại: cấu trúc nhân cách khá phức tạp có mối quan hệ với nhau

Trang 14

3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách

3.1 Vai trò của bẩm sinh – di truyền

a Thế nào là bẩm sinh di truyền?

Tục ngữ có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính” Đánh giá yếu tố bẩm sinh di truyền là yếu tố tiền định về “số phận, tính cách” của con người Vậy khoa học giáo dục quan niệm như thế nào

- Bẩm sinh là những thuộc tính những đặc điểm sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh như màu tóc, da, thể trạng, hệ thần kinh…

b Vai trò của di truyền, bẩm sinh

- BSDT tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực hoạt động nhất định Các nhà giáo dục cần phải quan tâm đúng mức để phát huy hết các bản chất tự nhiên của học sinh Ví dụ như người có thanh quản tốt

có thể trở thành ca sỹ; bàn tay khéo có thể trở thành nhà điêu khắc…

- BSDT tạo nên tiền đề vật chất (mầm mống) cho sự phát triển nhân cách, ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm Ví dụ những đứa trẻ có gien di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó

- Những tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan vận động…là điều kiện để thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể

* KLSP: nhà giáo dục cần phải quan tâm đúng mức để phát huy hết các bản chất tự nhiên của con người Sớm phát hiện, xác định rõ những tư chất của học sinh để có kể hoạch chăm sóc bồi dưỡng kịp thời

Lưu ý: Di truyền không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội con người Vì vậy,

những đặc điểm sinh học có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm, sức khoẻ của con người nhưng nó chỉ tạo tiền đề cho sự phát triển nhân cách

3.2 Vai trò của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

a Khái niệm môi trường

Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả điều kiện tự nhiên và xã hội,

có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến cuộc sống, hoạt động và phát triển nhân cách

b Phân loại môi trường

Có 2 loại môi trường: tự nhiên và xã hội

+ Môi trường tự nhiên: là điều kiện tự nhiên( khí hậu, đất, nước ), hệ sinh thái phục vụ cho hoạt động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất, vui chơi giải trí của con người

+ Môi trường xã hội: là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tập thể, xã hội

Gia đình là môi trường đầu tiên của đứa trẻ, là nơi sinh ra và cũng là nơi giáo dục đứa trẻ Mức sống, trình độ học vấn, thói quen nếp sống của gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến đứa trẻ

Tập thể học sinh cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách

c Vai trò của môi trường

Trang 15

Mỗi một con người từ khi sinh ra đã phải sống trong một môi trường nhất định có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát triển

Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, thông qua đó cá nhân chiếm lĩnh được kinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình

Ngay cả khi con người cùng sống chung trong môi trường nhưng nhân cách của họ lại phát triển khác nhau

Mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tuỳ thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân, tuỳ vào xu hướng, năng lực của cá nhân tham gia cải biến môi trường Như vậy, tác động của môi trường đối với sự phát triển cá nhân có thể tốt,

có thể xấu, có thể tích cực hoặc tiêu cực còn tuỳ thuộc vào rất nhiều các yếu tố Có khi con người sống trong một môi trường thấp kém nhưng phẩm chất năng lực không bị hoen ố “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” C.Mác đã khẳng định rằng: hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người, trong một mức độ con người lại sáng tạo ra hoàn cảnh

KLSP: Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cần đánh giá đúng mức vai trò của môi trường, không nên tuyệt đối hoá vai trò của môi trường Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặt từng bước giáo dục và học tập với thực tiễn cải tạo xã hội, phải hướng học sinh vào việc hình thành định hướng giá trị, tạo điều kiện để các em tích cực tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường Đồng thời, trong giáo dục cần hình thành ở học sinh những định hướng giá trị đúng đắn, xây dựng cho các em một bản lĩnh vững vàng, tạo cho các em tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường

3 3 Vai trò chủ đạo của của nhân tố giáo dục

a Khái niệm giáo dục

Giáo dục là quá trình tác động của nhân cách này đến nhân cách khác, là hoạt động phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội Đây là quá trình tác động có mục đích, có nội dung, phương pháp, phương tiện, có tổ chức có kế hoạch giúp cho cá nhân chiếm lĩnh được những kinh

nghiệm, những giá trị của nhân loại

Giáo dục bao gồm có giáo dục trong gia đình, giáo dục xã hội, giáo dục nhà trường và tự giáo dục Các loại giáo dục này có mối quan hệ với nhau

b Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Ngay từ thời kỳ Trung Hoa cổ đại Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng có quan niệm đánh giá về giáo dục “Viên ngọc không được mài dũa thì không thành đồ ngọc dùng được Con người không học thì không biết gì về đạo lý”, hoặc “Ăn no mặc ấm, ngồi dưng không được giáo dục thì gần như cầm thú” Bác Hồ cũng đã nói:

“Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách thể hiện:

- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách, mà còn tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng đó Điều này được thể hiện thông qua mục tiêu đào tạo của nhà trường

- Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố di truyền, môi trường không thể có được Cho nên giáo dục không những thích ứng với các yếu tố BSDT, môi trường mà còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố đó theo một gia tốc phù hợp

Trang 16

- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật Nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người, phục hồi những chức năng đã mất, giúp họ hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng (ví dụ như nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký )

- Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội

- Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển Đồng thời, sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những điều kiện của sự dạy học và giáo dục

Như vậy, giáo dục vạch ra đường hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

và thúc đẩy quá trình này theo đường hướng đó Nhưng giáo dục không chỉ tác động một chiều

mà bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người được giáo dục Do đó, để giáo dục giữ vai trò chủ đạo thì cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục

3 4 Vai trò quyết định trực tiếp của hoạt động cá nhân

a Khái niệm hoạt động

Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ tác động qua lại với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với bản thân Từ đó tạo ra sản phẩm cả về tự nhiên, xã hội và về phí con người

b Vai trò của hoạt động cá nhân đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

- Thông qua hoạt động, con người chuyển hoá năng lực, phẩm chất tâm lý của bản thân thành sản phẩm thực tế, tiếp thu nền văn hoá biến nền văn hoá của loài người thành vốn riêng của mình

- Thông qua hoạt động con người tiếp thu nền văn hoá xã hội và biến nền văn hoá của loài người thành vốn riêng của mình, vận dụng chúng vào cuốc sống, làm cho nhân cách ngày càng phát triển Hoạt động giúp cho cá nhân hiện thực hoá những khả năng về tố chất thành hiện thực, đồng thời là nguồn quan trọng cung cấp cho cá nhân những kinh nghiệm xã hội

- Thông qua hoạt động con ngưòi có thể cải tạo những nét tâm lý và những nhân cách đang bị suy thoái, hoàn thiện chúng theo chuẩn mực đạo đức của xã hội

- Quá trình giáo dục phải đi đến tự giáo dục tức là cá nhân phải có ý thức nỗ lực, có ý chí quyết tâm khắc phục, vượt qua những khó khăn chủ quan và khách quan để thực hiện việc rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách theo một chương trình, kế hoạch

- Hoạt động của cá nhân quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Muốn phát huy được vai trò của hoạt động cá nhân thì phải:

+ Đưa học sinh vào những hoạt động đa dạng, coi hoạt động là phưong tiện giáo dục cơ bản + Tổ chức các hoạt động tích cực, sáng tạo của học sinh, thay đổi tính chất của hoạt động làm phong phú nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động để lôi cuốn học sinh vào hoạt động + Nhà giáo dục phải nắm được hoạt động chủ đạo ở từng thời kỳ nhất định để tổ chức các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi

Câu hỏi ôn tập Câu 1: So sánh các quan điểm khác nhau về hiện tượng tâm lý, qua đó làm nổi bật quan điểm

Mác – xít về hiện tượng tâm lý?

Câu 2: Phân tích vai trò của hoạt động và giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý của con người Câu 3: Nhân cách là gì? Nêu cấu trúc nhân cách

Câu 4: Phân tích vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Trang 17

CHƯƠNG II : QUÁ TRÌNH TÂM LÝ, TRẠNG THÁI TÂM LÝ,

b Đặc điểm của cảm giác

Cảm giác có những đặc điểm cơ bản sau:

- Cảm giác là một quá trình tâm lý có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rõ ràng, cụ thể khi

sự vật hiện tượng tác động một cách trực tiếp vào các giác quan của chúng ta

- Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính bề ngoài của những sự vật riêng lẻ(hình thức, âm thanh, mùi vị, độ lớn…) và phản ánh thuộc tính trạng thái bên trong của cơ thể (đó no, buồn nôn…)

- Cảm giác chỉ phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp tức là các sự vật hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

- Sản phẩm của cảm giác là những cảm giác riêng lẻ

- Cảm giác của con người mang đậm bản chất xã hội lịch sử, khác xa về chất so với cảm giác của con vật

c Vai trò của cảm giác

- Cảm giác là định hướng đầu tiên của con người trong hiện thức khách quan, cảm giác giúp con người định hướng, thích nghi, thích ứng với môi trường xung quanh, trên cơ sở đó nhận thức và cải tạo thế giới

- Cảm giác là nguồn cung cấp những nguyên vật liệu cho hình thức nhận thức cao hơn;

- Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động tinh thần của con người được bình thường

- Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật: câm, điếc, mù…

- Cảm giác là cơ sở cho nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học và giáo dục

1.1.2 Phân loại cảm giác

Căn cứ vào vị trí của nguồn kích thích gây cảm giác nằm ở bên ngoài hay bên trong cơ thể, thì cảm giác được chia làm hai loại: cảm giác bên trong và cảm giác bên ngoài

a Cảm giác bên ngoài: là cảm giác do kích thích bên ngoài cơ thể gây ra bao gồm có 5 loại sau:

- Mắt là bộ máy thụ cảm của của cơ quan phân tích thị giác và là một trong những cơ quan cảm giác cơ bản của con người Vì vậy, mà cảm giác nhìn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nhận thức thế giới

Trang 18

* Cảm giác nghe (thính giác)

- Cảm giác nghe là loại cảm giác được nảy sinh nhờ sóng âm thanh tác động vào các giác quan Cảm giác nghe cho ta biết những thuộc tính của âm thanh như biên độ, cao độ, âm sắc của các dao động âm thanh

- Cảm giác nghe có ý nghĩa rất lớn trong đời sống, đặc biệt là trong giao lưu ngôn ngữ và cảm nhận một số loại hình nghệ thuật

- Cơ sở sinh lý của cảm giác nghe là cơ quan phân tích thính giác Nhờ có tai mà con người có thể tiếp thu được ngôn ngữ của người khác, có thể kiểm tra được nhiều hình thức hoạt động

* Cảm giác ngửi (khứu giác)

Cảm giác ngửi là cảm giác nảy sinh do các phần tử của các chất hoà tan trong nước bọt tác động lên cơ quan thụ cảm vị giác ở đầu lưỡi gây nên

Cảm giác ngửi cho ta biết tính chất của mùi, biết được 4 loại: ngọt, chua, đắng, mặn

b Cảm giác bên trong

Cảm giác bên trong phản ánh trạng thái cơ quan nội tạng của cơ thể mà con người nhận thức được qua các kích thích, có các loại cảm giác sau:

* Cảm giác vận động và cảm giác sờ mó

Cảm giác vận động là cảm giác phản ánh những biến đổi trong cơ quan vận động, báo hiệu độ co của cơ và vị trí các phần của cơ thể

Sự kết giữa cảm giác vận động và cảm giác đụng chạm trở thành cảm giác sờ mó Bàn tay là một

cơ quan sờ mó phát triển rất mạnh, nó trở thành công cụ lao động và nhận thức rất quan trọng

* Cảm giác cơ thể

Cảm giác cơ thể phản ánh tình trạng của các cơ quan nội tạng trong cơ thể để từ đó biết mà chữa trị bệnh

1.1.3 Các quy luật cơ bản của cảm giác

a Quy luật ngưỡng cảm giác

- Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan và kích thích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định

Ngưỡng cảm giác là cường độ kích thích đủ để gây ra được cảm giác hoặc là giới hạn mà ở đó cường độ kích thích (tối đa hay tối thiểu) vẫn còn đủ gây ra cảm giác của con người

- Cảm giác có hai loại ngưỡng:

+ Ngưỡng cảm giác phía dưới (còn gọi là ngưỡng tuyết đối phía dưới): là cường độ tói thiểu đủ

để gây được cảm giác

Trang 19

+ Ngưỡng cảm giác phía trên (còn gọi là ngưỡng tuyệt đối phía trên) là cường độ tối đa mà vẫn còn gây được cảm giác

Kích thích trên ngưỡng và kích thích dưới ngưỡng thì không gây được cảm giác

- Trong khoảng phạm vi từ ngưỡng tuyệt đối phía dưới đến ngưỡng tuyệt đối phía trên là vùng càm giác được Trong vùng càm giác được có một vùng phản ánh tốt nhất gọi là vùng cảm giác tối ưu (vùng phản ánh tốt nhất) - Tính nhạy cảm của cảm giác: là khả năng phản ánh đầy đủ sự vật hiện tượng với một cường độ kích thích nhỏ nhất Tính nhạy cảm của cảm giác có quan hệ với ngưỡng tuyệt đối phía dưới, nó tỉ lệ nghịch với ngưỡng tuyệt đối phía dưới Nếu ngưỡng tuyệt đối phía dưới càng thấp thì độ nhạy cảm càng cao

- Ngưỡng sai biệt và độ nhạy cảm sai biệt:

+ Ngưỡng sai biệt là tỉ lệ giữa lượng kích thích tối thiểu thêm vào để cho ta một cảm giác mới khác với cảm giác khi có kích thích cũ

+ Tính nhạy cảm sai biệt: là khả năng của của giác có thể nhận ra được sai biệt (hay nó là khả năng phân biệt được sự thay đổi của kích thích tạo ra cảm giác mới so với cảm giác cũ)

Tính nhạy cảm sai biệt tỉ lệ nghịch với ngưỡng sai biệt Nếu ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng lớn và ngược lại

Kết luận sư phạm:

+ Đối với người giáo viên cũng cần vận dụng quy luật này trong quá trình dạy học, ngôn ngữ trình bày phải đủ nghe để các em dễ tiếp thu, không nên nói quá nhỏ hoặc quá to sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp thu tri thức của các em Đồng thời, giáo viên cũng cần phải nhạy cảm, tinh tế trong quá trình giảng dạy, giao tiếp để dễ thông cảm, hoà đồng, làm tăng hiệu quả của quá trình giao tiếp

+ Đồ dùng trong dạy học thì màu sắc và độ lớn phải đạt tới một ngưỡng nhất định

+ Phòng học của học sinh phải đủ ánh sáng và tránh sự ồn ào, phải chú ý tới học sinh cá biệt, tức

là những học sinh khuyết tật về các giác quan

+ Phải bảo về và rèn luyện các giác quan cho học sinh

b Quy luật về sự thích ứng của cảm giác

Thích ứng của cảm giác là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác con người cho phù hợp với cường độ kích thích Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cảm

Nguyên nhân nảy sinh quy luật thích ứng là khi một vật nào đó tác động vào cơ thể với một cường độ không đổi sẽ nảy sinh quy luật thích ứng

Vai trò của quy luật:

+ Quy luật thích ứng giúp cho con người phản ánh được tốt nhất và bảo vệ thần kinh

+ Trong hoạt động lao động hàng ngày, quy luật này giúp cho người thợ luyện kim, thợ lặn, những người ở vùng Bắc Cực, thợ hầm lò, nhà du hành vũ trụ trong những điều kiện khắc nghiệt vẫn sống và hoàn thành tốt những công việc được giao

c Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi độ nhạy cảm của một cảm giác dưới ảnh hưởng của một cảm giác kia

Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia và ngược lại sự kích thích mạnh lên một cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia

Sự tác động qua lại của cảm giác diễn ra theo 4 hướng:

+ Sự tác động lẫn nhau của các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên những cảm giác cùng loại hay khác loại, có 2 loại cảm giác tương phản:

Trang 20

• Tương phản nối tiếp

d Quy luật bù trừ của cảm giác

Khả năng con người thật kỳ diệu, khi một cảm giác mất đi hoặc kém thì tính nhạy cảm của các cảm giác khác tăng lên

b Đặc điểm của tri giác

* Những đặc điểm giống cảm giác

- Là một quá trình tâm lý, có mở đầu, diễn biến và kết thúc

- Phản ánh những thuộc tính trực quan, bề ngoài của sự vật hiện tượng

- Tri giác phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp khi chúng đang tác động vào giác quan của chúng ta

* Những đặc điểm khác cơ bản giữa cảm giác và tri giác

- Nếu như cảm giác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng thì tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng, tri giác đem lại cho ta những hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật hiện tượng, vì :

+ Do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật, hiện tượng quy định

+ Do kinh nghiệm của cá nhân tham gia vào quá trình tri giác

- Tri giác phản ánh sự vật theo những cấu trúc nhất định Cấu trúc này không phải là tổng số các cảm giác mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó

- Tri giác là một quá trình tích cực được gắn liền với hoạt động của con người Tri giác mang tính tự giác giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó, là một hành động tích cực trong đó có sự liên kết chặt của các yếu tố cảm giác và vận động

c Vai trò của tri giác

- Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính Nó là điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh Đồng thởi, định hướng không gian và thời gian để nhận biết sự vật hiện tượng một cách chính xác hơn

- Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng là vật điều chỉnh các hoạt động;

- Tri giác thể hiện qua khả năng quan sát của con người Nó cung cấp cho con người những tư liệu, nguyên vật liệu rất cần thiết cho quá trình nhận thức lý tính

1.2.2 Phân loại tri giác

Có hai cách phân loại tri giác:

a Theo cơ quân tích, có các loại tri giác sau: Tri giác nhìn, tri giác nghe Tri giác sờ mó, tri

giác vận động

Trang 21

b Phân loại theo đối tượng phản ánh bằng tri giác, có các loại tri giác sau:

* Tri giác không gian

- Loại tri giác này giữ vai trò quan trọng trong tác động qua lại giữa con người với môi trường

- Tri giác không gian là điều kiện cần thiết để con người định hướng trong môi trường

- Tri giác không gian giúp cho con người tri giác được hình dáng của vật (dấu hiệu quan trọng nhất là phản ánh đường biên của sự vật, độ lớn, chiều sâu, độ xa của sự vật) và phương hướng của chúng

* Tri giác thời gian

- Tri giác thời gian giúp con người phản ánh được độ dài, độ lâu, tốc độ và tính kế tục khách quan của các hiện tượng trong hiện thực Nhờ tri giác này ta phản ánh được những biến đổi trong thế giới khách quan

- Tri giác thời gian giúp con người đánh giá được các khoảng thời gian được xác định bởi các quá trình diễn ra trong cơ thể theo nhịp điệu nhất định (nhịp tim, nhịp thở, nhịp luân chuyển thức ngủ…)

- Hoạt động trạng thái tâm lý và lứa tuổi có ảnh hưởng lớn đến việc tri giác độ dài thời gian (khi chờ đợi, khi hứng thú với công việc…)

* Tri giác vận động

- Loại tri giác này giúp con người phản ánh được những biến đổi về vị trí của các sự vật trong không gian Tri giác vận động giúp ta phản ánh được:

+ Tính chất của động tác (co, duỗi, dậm dật, co kéo…)

+ Hình dáng của động tác (đường thẳng, đường cong, vòng tròn Vòng cung…)

+ Biên độ (quy mô), động tác (đầy đủ hay chưa đầy đủ);

+ Phương hướng của động tác (sang phải, sang trái, lên trên, xuống dưới);

+ Thời gian kéo dài của động tác (một lúc, lâu);

+ Tốc độ của động tác (nhanh hoặc chậm, còn khi động tác mang tính chu kỳ thì nhịp nhanh hay nhịp chậm);

+ Gia tốc của động tác (đều đều, nhanh dần, chậm dần, đều đặn, dật cục)

* Tri giác con người

Quá trình tri giác con người bao gồm tất cả các mức độ của phản ánh tâm lý từ cảm giác cho đến

tư duy Sự tri giác con người bởi con người có ý nghĩa thực tiễn to lớn, vì nó thể hiện chức năng điều chỉnh của hình ảnh tâm lý trong quá trình lao động và giao lưu, đặc biệt là trong học tập và giáo dục

1.2.3 Quy luật của tri giác

a Quy luật về tính đối tượng của tri giác

Do sự tác động của sự vật hiện tượng nhất định của thế giới xung quanh vào giác quan của ta mà tính đối tượng của tri giác được hình thành

Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật hiện tượng nhất định nào đó của thế giới bên ngoài

Quy luật này có vai trò:

+ Tính đối tượng của tri giác giúp con người phản ánh hiện thực khách quan chân thực về một

sự vật hiện tượng nào đó

+ Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người

+ Đối với giáo viên trong giảng dạy nên để học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật hiện tượng để các em nhận biết, phản ánh đúng, chính xác về chúng

b Quy luật về tính lựa chọn của tri giác

Trang 22

Sự vật hiện tượng tồn tại một cách vô cùng vô tận, muôn hình muôn vẻ mà tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật hiện tượng đang tác động Do đó, con người tách đối tượng ra khỏi bối cảnh để tri giác đầy đủ, chính xác hơn

Sự lựa chọn của tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể thay đổi cho nhau tuỳ thuộc vào mục đích cá nhân và điều kiện xung quanh tri giác

Vai trò của quy luật:

+ Quy luật này giúp cho con người nhiều ứng dụng thực tế như: trang trí, kiến trúc, ngụy

trang…

+ Quy luật này có ý nghĩa thực tiễn lớn trong quá trình dạy học, ví dụ như: trình bày chữ viết lên bảng, thay đổi loại mực hoặc gạch dưới những câu, chữ quan trọng

c Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

Khi tri giác về một sự vật hiện tượng nào đó, con người không những chỉ phản ánh trọn vẹn về

sự vật hiện tượng đó mà còn có khả năng gọi được tên của sự vật đó là gì hoặc xếp nó vào cùng một bộ phận hay một nhóm

Quy luật này có vai trò: giúp cho con người tri giác được những tài liệu cảm tính; giúp cho con người dùng ngôn ngữ truyền đạt đầy đủ, chính xác trong dạy học

d Quy luật về tính ổn định của tri giác

Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật hiện tượng không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi

Sự vật hiện tượng được tri giác ở nhưng vị trí và điều kiện khác nhau nên bộ mặt của chúng luôn thay đổi Do đó quá trình tri giác cũng thay đổi một cách tương ứng, nhưng do khả năng bù trừ của hệ thống tri giác (các cơ quan phân tích tham gia) nên ta vẫn tri giác các sự vật hiện tượng

ổn định về hình dáng, kích thước, màu sắc…

Quy luật có vai trò: giúp ta nhận biết một cách đúng đắn, chính xác sự vật hiện tượng đó là gì dù chúng ở trong không gian và thời gian như thế nào Tính ổn định của tri giác giúp cho con người nhận ra và định hướng được trong đời sống và trong hoạt động của con người giữa thế giới đa dạng và biến đổi vô tận này

Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cấu trúc của sự vật hiện tượng tương đối

ổn định, do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh, do vốn kinh nghiệm và do hoạt động của cá thể

e Quy luật tổng giác

Sự phụ thuộc của tri giác vào hoạt động đời sống tâm lý con người, vào đặc điểm nhân cách của

họ được gọi là hiện tượng tổng giác Ngoài việc kích thích bên ngoài tri giác còn bị quy định bởi một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác như: thái độ, nhu cầu, hứng thú, tình cảm…

Quy luật này có vai trò: qua quy luật tổng giác cho thấy: trong dạy học và giáo dục cần phải tính đến kinh nghiệm và hiểu biết của học sinh, xu hướng hứng thú và tâm thế của họ…Đồng thời việc cung cấp tri thức kinh nghiệm, giáo dục niềm tin, nhu cầu cho họ sẽ làm cho việc tri giác hiện thực của con người thêm tinh tế, sâu sắc và xúc tích hơn

g Ảo giác

Trong một số trường hợp với những điều kiện thực tế xác định, tri giác cơ thể khồng cho ta hình ảnh đúng về sự vật Hiện tượng này gọi là ảo giác Nói cách khác, ảo giác là tri giác không đúng

bị sai lệch, những hiện tượng này không nhiều nhưng có tính quy luật

Vai trò của ảo giác: con người đã lợi dụng ảo giác vào trong kiến trúc hội hoạ, trang trí, trang phục để phục vụ cuộc sống của con người Trong dạy học, con người vận dụng quy luật ảo giác vào giảng dạy hình học không gian trong toán học, ảo giác trong vật lý

Trang 23

Nét đặc trưng của trí nhớ là trung thành với tất cả những gì cá nhân đã trải qua, tức là phản ánh đúng, chân thật những sự vật hiện tượng trước đây đã từng tri giác Vì vậy, trí nhớ khác với các quá trình tâm lý khác, đặc biệt là quá trình tưởng tượng Biểu tượng của trí nhớ (hình ảnh, dấu vết về những gì đã trải qua) ít tính khái quát và trừu tượng hơn so với tưởng tượng

b Vai trò của trí nhớ

- Trí nhớ là quá trình tâm lý có liên quan chặt chẽ với toàn bộ đời sống tâm lý con người Vì rằng, nếu con người không có trí nhớ thì không có quá khứ, không có tương lai mà chỉ có hiện tại tức thời, người đó chỉ có thể sống với những hiện tượng đang diễn ra (tức là đang tri

giác)…Nếu không có trí nhớ con người không những không làm được việc gì mà còn không thể trở thành con ngưòi bình thường Đồng thời, không có trí nhớ sẽ không có ý thức bản ngã (ý thức

về bản thân mình hay tự ý thức), như vậy, cũng sẽ không có nhân cách

- Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu để con người có đời sống tâm lý bình thường, ổn định, lành mạnh Trí nhớ cũng là điều kiện để con người có và phát triển được các chức năng tâm lý bậc cao Từ đó, con người tích luỹ vốn kinh nghiệm sống của mình và sử dụng vốn kinh nghiệm đó ngày càng tốt hơn trong đời sống và trong hoạt động, đáp ứng ngày càng cao những yêu cầu của cuộc sống cá nhân và của xã hội,

- Đối với nhận thức, trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn Nó là công cụ để lưu giữ lại các kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác Nhờ đó nhận thức của con người mới phâm biệt cái mới tác động lần đầu tiên và cái cũ đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích hợp

Trí nhớ còn là điều kiện quan trọng cho quá trình nhận thức lý tính (tư duy và tưởng tượng) làm cho quá trình này đạt được kết quả hợp lý Mặt khác, trí nhớ cũng cung cấp các tài liệu do nhận thức cảm tính thu thập cho nhận thức lý tính một cách đầy đủ và trung thành Vì vậy, người ta cho rằng: trí nhớ là giai đoạn trung gian giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Tóm lại, trí nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con người, nhờ có trí nhớ mà những hình ảnh của tri giác, những khái niệm của tư duy, những biểu tượng của tưởng tượng, những dấu vết xúc cảm tình cảm vẫn không mất đi sau khi các quá trình đó kết thúc và sau này chúng sẽ xuất hiện lại khi con người cần đến

1.3.2 Các quá trình của trí nhớ

a Quá trình ghi nhớ (tạo vết, tạo ấn tượng)

- Khái niệm: Quá trình ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết (“ấn tượng”) của đối tượng trên

vỏ não, đồng thời là quá trình hình thành mối liên hệ giữa tài liệu mới với tài liệu cũ đã có

- Có hai loại ghi nhớ:

+ Ghi nhớ không chủ định: là ghi nhớ không có mục đích đặt ra từ trước, không đòi hỏi phải nỗ lực ý chí hoặc không dùng một thủ thuật nào để ghi nhớ Sự ghi nhớ này được thực hiện trong những trường hợp nội dung của tài liệu trở thành mục đích chính của hành động, hơn nữa hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần dưới hình thức nào đó Nếu tài liệu có nội dung, hình thức hấp dẫn tự nhiên khắc ghi nhớ, như vậy sẽ đạt kết quả tối ưu

+ Ghi nhớ có chủ định: là loại ghi nhớ có mục đích được cá nhân tự giác đặt ra, đồng thời tìm ra biện pháp kỹ thuật để đạt được mục đích ghi nhớ Như vậy, ghi nhớ này phải có phương pháp và thủ thuật để ghi nhớ Có hai loại ghi nhớ có chủ định:

Trang 24

• Ghi nhớ máy móc: là loại ghi nhớ do lặp đi lặp lại nhiều lần dưới các hình thức khác nhau, tạo

ra mối liên hệ bề ngoài giữa các phần tài liệu để ghi nhớ, không cần hiểu nội dung của nó

Vai trò của ghi nhớ này: đưa tất cả các tài liệu vào trí nhớ vì thế nó chính xác và chi tiết Tuy nhiên, do không cần hiểu nội dung, học theo kiểu “học vẹt”, vì thế có thể ghi nhớ cả những tài liệu không cần thiết

• Ghi nhớ lôgíc (ghi nhớ có ý nghĩa): là loại ghi nhớ nội dung lôgíc của tài liệu, nắm được bản chất của nội dung tài liệu đó, mối liên hệ giữa các bộ phận của tài liệu

Vai trò: bằng biện pháp ghi nhớ này con người hiểu được nội dung, tức là nội dung được gắn với tri thức, kinh nghiệm hiện có trong trí nhớ và có thể dùng để giải quyết những nhiệm vụ mới Vì vậy, cách ghi nhớ này có vai trò của tư duy và tưởng tượng

b Quá trình giữ gìn

Quá trình giữ gìn là quá trình trí nhớ giữ lại được hình ảnh của sự vật hiện tượng đã tri giác trước đây, tức là củng cố vững chắc những dấu vết hình thành trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ Vai trò: chính nhờ có quá trình này mà mọi sự vật hiện tượng ta tri giác trước đây không bị mất

đi mà vẫn còn lưu giữ trong bộ não Vì vậy, quá trình này đóng vai trò quan trọng cho tư duy, tưởng tượng, tình cảm

Tuy nhiên, quá trình này liên quan chặt chẽ với quá trình ghi nhớ, có ghi nhớ tốt mới giữ gìn tốt

c Quá trình tái hiện

Quá trình tái hiện là quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã ghi nhớ và giữ gìn Tài liệu được tái hiện dưới 3 hình thức:

+ Nhận lại: là hình thức tái hiện khi sự tri giác đối tượng được lặp lại Nhận lại có thể không đầy

đủ và do đó không chính xác được Nhận lại diễn ra là do cái được tri giác trong lúc này giống với cái đã được tri giác trước đây Khi tri giác lại cái đã được tri giác trước đây, sẽ xuất hiện một cảm giác “quen thuộc” đặc biệt Nhận lại có khi đòi hỏi một quá trình phức tạp có thể có sự tham gia của tư duy, tưởng tượng mới nhận lại được

Vai trò của nhận lại: nhận lại giúp cho ta định hướng trong hiện thức tốt hơn, có ý nghĩa trong đời sống mối người

+ Nhớ lại: là quá trình tái hiện không diễn ra sự tri giác đối tượng, tức là các hình ảnh đã được củng cố trong trí nhớ được làm sống lại mà không cần dựa vào sự tri giác lại những đối tượng đã gây nên các hình ảnh đó Có hai loại nhớ lại:

• Nhớ lại không có chủ định: là sự nhớ lại một cách tự nhiên (chợt nhơ hay sực nhớ) một điều gì

đó mà ta không ý thức được, không cần phẩi xác định nhiệm vụ cần nhớ lại

• Nhớ lại có chủ định: là nhớ lại một cách tự giác, có mục đích, có nguyên nhân theo quy luật liên tưởng mang tính lôgíc, chặt chẽ và có hệ thống

Vài trò: nhớ lại là một điều kiện của hoạt động Nhớ lại có chủ định đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh

+ Hồi tưởng: là hình thức tái hiện phải có sự cố gắng rất nhiều của trí tuệ Đây là một hành động trí tuệ phức tạp mà kết quả của nó phụ thuộc vào chỗ cá nhân ý thức rõ ràng, chính xác đến mức nào nội dung của nhiệm vụ tái hiện Trong sự hồi tưởng, những ấn tượng trước đây không được tái hiện một cách máy móc, mà thường được sắp xếp khác đi, gắn liền với những sự kiện mới Vai trò: nhờ có hồi tưởng mà con người đã hình dung, nhớ lại quá khứ, hiện tại, từ đó dặt kế hoạch cho tương lai

d Sự quên

Không phải mọi dấu vết, ấn tượng trong não của chúng ta đều được giữ gìn và làm sống lại một cách như nhau, nghĩa là trong trí nhớ của chúng ta có hiện tượng quên

Ngày đăng: 17/10/2023, 16:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w