Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ dạy học đại học, vận dụng xác định các nhiệm vụ dạy học của một bài dạy cụ thể thuộc chuyên ngành của anhchị. Các nhiệm vụ dạy học: Nhiệm vụ 1: Làm cho học sinh nắm vững hệ thống những tri thức PT cơ bản, hiện đại. phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhờ vậy mà tích luỹ và khái quát những kinh nghiệm dưới dạng những khái niệm, định luật, định lý, học thuyết, tư tưởng mà người ta gọi là những tri thức. Những tri thức đó có tính chất xã hội. Đối với học sinh PT, chỉ đòi hỏi họ nắm vững tri thức cơ bản được lựa chọn từ vốn tri thức vô cùng to lớn của loài người. Tri thức PT cơ bản là những tri thức tối thiểu, cần thiết cho tất cả mọi người, dù sau này họ có làm bất cứ nghề gì, họ cần phải có để trực tiếp đi vào hoạt động sản xuấtvà các dạng hoạt động khác, để có một cuộc sống có văn hoá phong phú, để đi vào các loại trường và có thể tiếp tục tự học. Tri thức PT cơ bản cần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ phải là những tri thức hiện đại, nghĩa là những tri thức mới và phù hợp với chân lý khách quan. Đồng thời tri thức PT cơ bản đó phải phù hợp với thực tiễn đất nước ta, với trình độ nhận thức của học sinh để giúp họ giải quyết những vấn đề đất nước đặt ra, và qua đó, giúp họ tìm được việc làm phù hợp sau này. Tri thức PT cơ bản đó phải đảm bảo tính hệ thống, nghĩa là một mặt phải đảm bảo tính logic nội tại của từng môn học, mặt khác phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa những tri thức của những môn học khác nhau, đặc biệt là những môn lân cận nhau.Trên cơ sở những tri thức đã nắm vững, cần rèn luyện để hình thành cho họ những kỹ năng, kỹ xảo nhất định, bao gồm kỹ năng, kỹ xảo chung và kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt của từng môn học. Đặc biệt là Các kĩ năng sau : + Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội. + KN hợp tác và làm việc có hiệu quả. + KN nhận thức về xã hội và nhân văn. + KN nhận thức về tự nhiên và toán học. + KN sử dụng ngoại ngữ và vi tính . + KN cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật. + KN phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử. + KN tổ chức và điều hành. + KN phòng vệ sự sống và gia tăng sức khỏe. + KN tụ học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ. Điều quan trọng là phải hình thành cho người học kỹ năng tự học để từ đó chuyển hoá thành tiềm lực nhận thức – đó mới là chiếc chìa khoá vàng để họ bước vào kho tàng tri thức. Nhiệm vụ 2: Phát triển trong học sinh năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo. Năng lực hoạt động trí tuệ được đặc trưng bởi hai mặt sau: Năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ và sự tích luỹ các tri thức cơ bản, thiết yếu nhất. Trong quá trình nắm tri thức diễn ra sự thống nhất giữa một bên là những tri thức với tư cách là cái được phản ánh và một bên là thao tác trí tuệ với tư cách là phương thức phản ánh. Những tri thức nắm được là nhờ các thao tác trí tuệ, và ngược lai, các thao tác trí tuệ được hình thành và phát triển trong quá trình nắm tri thức. Vì vậy, phát triển năng lực trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức cơ bản và thiết yếu nhất, sự thành thạo và độ vững chắc của những thao tác trí tuệ. Nó được thể hiện trong các phẩm chất trí tuệ sau:
Trang 1ĐỀ ÔN TẬP
1 MÔN LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ dạy học đại học, vận dụng xác định các nhiệm vụ dạy học của một bài dạy cụ thể thuộc chuyên ngành của anh/chị.
Các nhiệm vụ dạy học:
* Nhiệm vụ 1: Làm cho học sinh nắm vững hệ thống những tri thức PT cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhờ vậy mà tích luỹ
và khái quát những kinh nghiệm dưới dạng những khái niệm, định luật, định lý, học thuyết, tư tưởng mà người ta gọi là những tri thức Những tri thức đó có tính chất xã hội.
Đối với học sinh PT, chỉ đòi hỏi họ nắm vững tri thức cơ bản được lựa chọn từ vốn tri thức vô cùng to lớn của loài người Tri thức PT cơ bản là những tri thức tối thiểu, cần thiết cho tất cả mọi người, dù sau này
họ có làm bất cứ nghề gì, họ cần phải có để trực tiếp đi vào hoạt động sản xuấtvà các dạng hoạt động khác, để có một cuộc sống có văn hoá phong phú, để đi vào các loại trường và có thể tiếp tục tự học Tri thức PT cơ bản cần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ phải là những tri thức hiện đại, nghĩa là những tri thức mới và phù hợp với chân lý khách quan Đồng thời tri thức PT cơ bản đó phải phù hợp với thực tiễn đất nước ta, với trình độ nhận thức của học sinh để giúp họ giải quyết những vấn đề đất nước đặt ra, và qua
đó, giúp họ tìm được việc làm phù hợp sau này.
Tri thức PT cơ bản đó phải đảm bảo tính hệ thống, nghĩa là một mặt phải đảm bảo tính logic nội tại của từng môn học, mặt khác phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa những tri thức của những môn học khác nhau, đặc biệt là những môn lân cận nhau.Trên cơ sở những tri thức đã nắm vững, cần rèn luyện để hình thành cho họ những kỹ năng, kỹ xảo nhất định, bao gồm kỹ năng, kỹ xảo chung và kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt của từng môn học.
Đặc biệt là Các kĩ năng sau :
+ Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội + KN hợp tác và làm việc có hiệu quả + KN nhận thức về
xã hội và nhân văn + KN nhận thức về tự nhiên và toán học + KN sử dụng ngoại ngữ và vi tính + KN cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật + KN phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử + KN tổ chức và điều hành + KN phòng vệ sự sống và gia tăng sức khỏe + KN tụ học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ Điều quan trọng là phải hình thành cho người học kỹ năng tự học để từ đó chuyển hoá thành tiềm lực nhận thức – đó mới là chiếc chìa khoá vàng để họ bước vào kho tàng tri thức.
* Nhiệm vụ 2: Phát triển trong học sinh năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
Năng lực hoạt động trí tuệ được đặc trưng bởi hai mặt sau: Năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ và sự tích luỹ các tri thức cơ bản, thiết yếu nhất Trong quá trình nắm tri thức diễn ra sự thống nhất giữa một bên là những tri thức với tư cách là cái được phản ánh và một bên là thao tác trí tuệ với tư cách là
Trang 2phương thức phản ánh Những tri thức nắm được là nhờ các thao tác trí tuệ, và ngược lai, các thao tác trí tuệ được hình thành và phát triển trong quá trình nắm tri thức Vì vậy, phát triển năng lực trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức cơ bản và thiết yếu nhất, sự thành thạo và độ vững chắc của những thao tác trí tuệ Nó được thể hiện trong các phẩm chất trí tuệ sau:
1.Tính định hướng của hoạt động trí tuệ nghĩa là nhanh chóng và chính xác xác định con đường tối ưu để đạt được mục đích hoạt động trí tuệ.
2 Bề rộng của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh có thể tiến hành hoạt động trong nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết với nhau.
3 Chiều sâu của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh tiến hành hoạt động trí tuệ và càng ngày càng nắm sâu sắc bản chất sự vật và hiện tượng.
4 Tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ tiến hành hoạt động trí tuệ không những nhanh mà còn di chuyển nhạy bén hoạt động từ tình huống này sang tình huống khác.
5 Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ hoạt động tư duy của học sinh được tiến hành theo hướng xuôi lẫn ngược cũng được.
6 Tính độc lập của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh tự mình đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề.
7 Tính nhất quán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở tính logic, sự thống nhất của tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không có mâu thuẫn.
8 Tính phê phán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh biết phân tích, biết đánh giá các quan điểm, lý luận, phương pháp của người khác và đồng thời đưa ra được ý kiến riêng của mình và bảo vệ ý kiến đó.
9 Tính khái quát của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ nhận thức nhất định ở học sinh sẽ hình thành mô hình giải quyết những nhiệm vụ cùng loại.
Tất cả những phẩm chất hoạt động trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động
đó đạt được kết quả.
* Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở vũ trang tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và thực hành mà hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức của con người mới.
+ Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, về những hiên tượng trong tự nhiên, xã hội Người ta phân biệt thế giới quan giai cấp và thế giới quan cá nhân Thế giới quan giai cấp là ý thức xã hội của giai cấp Thế giới quan cá nhân là hệ thống những quan điểm về tự nhiên, về xã hội và về bản thân được hình thành ở mỗi cá nhân Nó quy định xu hướng chính trị, đạo đức, phẩm chất tư tưởng khác Nó
là biểu hiện của toàn bộ nhân cách, nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của mỗi cá nhân Trong xã hội có giai cấp, thế giới quan cá nhân mang tính giai cấp Chính vì thế trong quá trình dạy học cần phải quan tâm đầy đủ đến việc hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh để họ có suy nghĩ đúng, có thái độ và hành động đúng.
Trang 3+ Lý tưởng là biểu tượng của con người về cái mà họ cảm thấy rất đẹp và mong muốn đạt tới Vì vậy nó
là lẽ sống của con người Nó có sức lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của cá nhân vào những hoạt động để vươn tới mục tiêu cao cả đã định.
Bồi dưỡng cho học sinh lý tưởng cách mạng là phải giúp họ có ước mơ, hoài bão cao đẹp, có phương hướng sống đúng đắn Trước mắt, phải giúp họ có nhu cầu học, ham học, có cái tâm chịu học, tinh thần sang tạo, ý thức rõ ràng trách nhiệm học tập của mình đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và đối với bản thân mình mà phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và tu dưỡng của bản thân.
* Ba nhiệm vụ dạy học nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành mục đích giáo dục Nếu không có khối lượng tri thức cơ bản, đúng đắn và phương pháp nhận thức thì sẽ không phát triển được trí tuệ và cũng thiếu cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng
và niềm tin Phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều kiện của việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thế giới quan, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức khác Phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh biết cách nhìn nhận, biết tỏ thái độ và biết hành động đúng, mới biến tri thức thành niềm tin, lý tưởng Nhiệm vụ thứ ba vừa là kết quả, vừa là mục đích của hai nhiệm vụ trên.
Nó là yếu tố kích thích và chỉ đạo việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức Đúng vậy! Tri thức không thể thiếu được trong thành phần của học vấn song nó không phải là thành phần duy nhất và cốt lõi Cái sinh ra tri thức chủ yếu không chỉ từ tri thức mà bao gồm cả thái độ, niềm tin, lý tưởng, lòng ham học hỏi, thái độ cầu thị, khiêm tốn…
Chính vì vậy mà từ những năm 80, cấu trúc và thành phần của học vấn đã quay ngược trở lại: Thái độ –
kỹ năng – kiến thức Trong khi đó vào những năm 60, cấu trúc của nó như sau: Kiến thức – kỹ năng – thái độ.
5.3 Cho ví dụ
Ví dụ dạy bài “Những biến chuyển về kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam từ 1919 đến 1930”, môn Lịch
sử 12; Với bài dạy này cần thực hiện 3 nhiệm vụ như sau:
+ Nhiệm vụ 1:
Cần trang bị cho học sinh hiểu biết sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp Đó là sự phân hoá xã hội ngày càng thêm sâu sắc, là cuộc sống của nhân dân ngày càng thêm lầm than, cực khổ (trừ bọn bè lũ tay sai); Đó còn là sự phát triển què quặt về văn hoá – giáo dục…
+ Nhiệm vụ 2:
Trên cơ sở nắm vững những tri thức cơ bản đó, bằng các thao tác tư duy, cần giúp cho học biết phân tích, tổng hợp, đánh giá, bình luận… các vấn đề xung quanh bài học; Qua đây nhằm giúp học sinh rèn luyện hoạt động trí tuệ và hiểu sâu sắc hơn các sự kiện lịch sử Học sinh phải suy nghĩ để trả lời các câu hỏi như: “Tại sao thực dân Pháp lại đẩy mạnh khai thác ở Việt Nam ngay sau chiến tranh thế giớ lấn thứ nhất? Tại sao chúng lại hạn chế phát triển công nghiệp nặng ở nước ta? Chúng hạn chế phát triển giáo dục là nhằm mục đích gì?”…
+ Nhiệm vụ 3:
Trang 4Qua bài học, củng cố thêm cho học sinh lòng yêu nước, biết trân trọng những giai đoạn lịch sử khó khăn của đất nước để mà thêm yêu quý hiện tại , thêm quyết tâm cho những hoài bão cao đẹp trong tương lai Bài học còn khơi dậy ở học sinh lòng tự hào dân tộc – một dân tộc anh hùng đã “Rũ bùn đứng dậy sáng loà”…
Kim Hoàng - SP Lý - KTCN k37 - CĐSP Nha Trang
Khái niệm về PP dạy học
Phương pháp dạy học chính là hình thức, cách thức hoạt động giữa người dạy và người học một cách phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện dạy học cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu dạy học xác định
Một số phương pháp dạy học cụ thể có thể kể đến như đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình,…
Phương pháp dạy học là gì?
Tính đến nay, thì vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể cho phương pháp dạy học là gì? Có định nghĩa cho rằng: Phương pháp dạy học là cách làm việc giữa người dạy và người học, qua đó người học có thể nắm bắt được các kiến thức, kỹ năng và hình thành năng lực cũng như thế giới quan.
Bên cạnh đó cũng có quan niệm cho rằng: phương pháp dạy học thực ra là các hình thức kết hợp các hoạt động của người dạy và người học mục tiêu là hướng về một việc để đạt được một mục đích nào đó Trong hai quan điểm này thì quan điểm thứ nhất nhận được rất nhiều sự đồng tình của mọi người Nhưng vì không hiểu rõ nghĩa của hai từ “cách thức" nên dẫn đến có nhiều phương pháp khác nhau Vậy
để hiểu rõ phương pháp dạy học là gì, phải phân biệt với khái niệm thủ pháp dạy học, phương pháp luận, môn học phương pháp và hình thức dạy học.
2 MÔN ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC ĐH
Trình bày mục đích của kiểm tra đánh giá trong dạy học, các phương pháp và công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV, cho VD minh họa.
Hệ thống kiểm tra đánh giá tốt nhất cần có sự tập trung tuyệt đối vào sự tiến bộ của
cả người dạy và người học:
Trang 5- Vì sự tiến bộ cho phép giáo viên đề ra mục tiêu học tập được cá nhân hóa phù hợp với tất cả người học khi bắt đầu quá trình học tập.
- Giáo viên có thể đánh giá từng người học và đánh giá tác động của các phương pháp giảng dạy và học tập khác nhau.
- Tác động của giáo viên đối với việc học tập của học sinh là không giống nhau (do các yếu tố khách quan ngoài tầm kiểm soát của giáo viên).
- Và, quan trọng nhất, việc tập trung vào sự tiến bộ cho phép người học ở mọi cấp độ thể hiện sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra để đo lường thành tích học tập trong suốt năm học.
Đồng thời, tập trung vào sự tiến bộ của người học sẽ khuyến khích và công nhận sự chăm chỉ khi người học thể hiện sự cố gắng trên hành trình học tập cá nhân.
Kiểm tra đánh giá trong giáo dục
Trang 6Đo lường trong giáo dục (educational measurement) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng về các đại lượng đặc trưng như nhận thứ, tư duy,
kĩ năng và các phẩm chất nhân cách khác trong quá trình giáo dục Đo lường
có thể thông qua việc thi kiểm tra để xác định mức độ người học nắm được kiến thức một môn học hoặc mức độ hiểu biết về một vấn đề nào đó Kết quả thể hiện dưới dạng một đại lượng định lượng
Các giáo viên sử dụng các bài kiểm tra đánh giá cho nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như cung cấp thông tin mô tả trình độ, năng lực của người học tại thời điểm đánh giá; nhận biết sự khác biệt giữa các người học, đánh giá đầu vào và đầu ra để đo lường thành tích học tập của người học,
Sự khác biệt giữa 3 loại hoạt động kiểm tra đánh giá
Dựa vào những thông tin giáo viên thu được các hoạt động kiểm tra đánh giá của bản thân, giáo viên có thể xây dựng một hệ thống đánh giá thường bao gồm 3 loại đánh giá giáo dục khác nhau phục vụ các mục đích khác nhau tùy thuộc vào thời điểm được thực hiện: đánh giá chẩn đoán (diagnostic
assessment), đánh giá quá trình (formative assessment) và đánh giá tổng kết (sumative assessment)
- Đánh giá chẩn đoán (diagnostic assessment): Khi đánh giá diễn ra trước hoạt động học tập thì được gọi là chẩn đoán vì kết quả thu được có thể được sử dụng để chẩn đoán các vấn đề cần tập trung trong quá trình giảng dạy sắp tới
- Đánh giá quá trình (formative assessment): Khi đánh giá diễn ra trong quá trình học tập thì được gọi là đánh giá quá trình vì kết quả có thể được sử dụng
để thông báo những việc cần làm tiếp theo cho cá nhân hoặc nhóm học sinh khi quá trình học tập đang diễn ra Cả chẩn đoán và quá trình đều là các loại đánh giá cho việc học – nghĩa là giáo viên đánh giá việc thực hiện mục tiêu giáo dục, dạy học và hỗ trợ người học làm chủ kiến thức, kĩ năng
- Đánh giá tổng kết (sumative assessment): Khi đánh giá diễn ra sau hoạt độnghọc tập thì được gọi là đánh giá tổng kết vì đây đánh giá kết quả sau quá trình học tập đã diễn ra
Trang 7Hình 1: Sơ đồ về mối quan hệ giữa Đánh giá chẩn đoán – Đánh giá quá trình và Đánh giá tổng kết trong dạy và học
Đánh giá chẩn đoán
Trong bài viết, Julie Miles đi sâu vào từng loại đánh giá Bắt đầu với hoạt động đánh giá chẩn đoán Nói chung, các giáo viên sử dụng loại đánh giá này để xácđịnh những gì học sinh chưa học, chẩn đoán đầu vào, những thiếu sót nào trong kiến thức sẽ cản trở tiến trình hướng tới các mục tiêu học tập hoặc phát hiện ra điểm mạnh để có thể khuyến khích người học Sau đó, giáo viên có thể
sử dụng thông tin này để lập mục tiêu giáo dục, dạy học Đánh giá chẩn đoán thường được sử dụng vào đầu năm học nhưng cũng bất cứ sử dụng bất cứ lúc nào trong suốt năm học (ví dụ: để đánh giá kiến thức tiên quyết trước khi chuyển sang kiến thức mới)
Đánh giá chẩn đoán có thể đặc biệt hữu ích cho giáo viên Giáo viên có thể sử dụng thông tin đánh giá chẩn đoán để xây dựng mục tiêu giáo dục, dạy học cần thiết để hỗ trợ người học Đồng thời, giáo viên cũng có thể sử dụng kết quả
để xây dựng kế hoạch học tập cá nhân hóa cho từng cá nhân và chỉ định người học vào các nhóm để hướng dẫn theo nhóm nhỏ
Đánh giá quá trình
Đánh giá quá trình được thực hiện trong suốt cả năm học, thường là bởi các giáo viên đứng lớp Mục đích chính của đánh giá quá trình là thông báo cho giáo viên biết người học đang tiến bộ như thế nào, còn tồn tại những lỗ hổng
Trang 8nào trong quá trình học tập của người học và cách hướng dẫn người học điều chỉnh để cải thiện học tập, có thể bằng cách giảng lại kiến thức hoặc thậm chí thử thách một số người học với nhiệm vụ học tập mới có tính chất nâng cao.
Đánh giá quá trình không nhất thiết phải là một bài kiểm tra định kì mà có thể
là những hoạt động như giơ tay phát biểu, brain dump (một hình thức người học sẽ ghi nhớ lại những điều mà bản thân suy nghĩ thông qua các phương tiệnkhác như ghi ra giấy nháp, viết trên máy tính, nhằm hiện thực hóa các ý tưởng), bản đồ tư duy, câu đố, Từ đó, các hoạt động này cung cấp phản hồi
về học tập của người học ngay lập tức Giáo viên có thể sử dụng dữ liệu này dưới dạng thông tin định lượng hoặc định tính để điều chỉnh hoạt động dạy và học phù hợp
Trên thực tế, bất kỳ hình thức kiểm tra nào được thu thập và đánh giá một cách có hệ thống đều có thể cung cấp cho giáo viên cái nhìn sâu sắc để họ điều chỉnh hoạt động dạy học phù hợp Bằng cách có đúng dữ liệu vào đúng thời điểm, giáo viên có thể đảm bảo rằng: Giáo viên giảng dạy phù hợp với trình độ và nhu cầu của người học; Giáo viên truyền đạt kiến thức hiệu quả và liền mạch; Hệ thống kiến thức được giáo viên sắp xếp theo trình tự linh hoạt vàphù hợp với sự tiến bộ của từng cá nhân
Bằng cách đánh giá quá trình và điều chỉnh việc dạy và học đúng lúc, giáo viên
sẽ có nhiều khả năng đạt được mục tiêu giáo dục, dạy học đã đề ra mà giáo viên dự định cho người học đạt được
Đánh giá tổng kết
Loại đánh giá cuối cùng là đánh giá tổng kết Đánh giá tổng kết được sử dụng sau khi các hoạt động học tập đã kết thúc Đây là hoạt động đo kết quả học tập và thường tập trung vào việc đánh giá mức độ thành thạo hoặc nắm vững nội dung sau khi kết thúc một chương, năm học, Đây là phép đo kết thúc quátrình học tập, chẳng hạn như bài kiểm tra học kì hoặc bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa quy mô lớn và hiếm khi cung cấp thông tin hướng dẫn Các kiểm tra đánh giá chủ yếu tập trung vào việc đo lường xem học sinh đã thành thạo hay hiểu biết về một bộ tiêu chí được xác định trước
Sử dụng dữ liệu đánh giá để đưa ra đánh giá
Có 4 bước cơ bản trong việc sử dụng dữ liệu đánh giá: (1) Thu thập dữ liệu; (2) Biến dữ liệu thành thông tin bằng cách gán ý nghĩa cho dữ liệu; (3) Chuyển đổi thông tin đó thành những hiểu biết có liên quan; (4) Hành động dựa trên nhữnghiểu biết đó
Tóm lại, một hệ thống kiểm tra đánh giá toàn diện sẽ bao gồm các đánh giá chẩn đoán, đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết Mục tiêu của các hoạt động kiểm tra đánh giá như vậy là nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên
Trang 9bằng cách cung cấp cho giáo viên dữ liệu có thể chẩn đoán sự thiếu hụt kỹ năng, đo lường mức độ thành thạo các mục tiêu học tập dự định và lựa chọn phương pháp giảng dạy, học tập phù hợp.
Hệ thống kiểm tra đánh giá tốt nhất cần có sự tập trung tuyệt đối vào sự tiến
bộ của cả người dạy và người học:
- Vì sự tiến bộ cho phép giáo viên đề ra mục tiêu học tập được cá nhân hóa phùhợp với tất cả người học khi bắt đầu quá trình học tập
- Giáo viên có thể đánh giá từng người học và đánh giá tác động của các
phương pháp giảng dạy và học tập khác nhau
- Tác động của giáo viên đối với việc học tập của học sinh là không giống nhau (do các yếu tố khách quan ngoài tầm kiểm soát của giáo viên)
- Và, quan trọng nhất, việc tập trung vào sự tiến bộ cho phép người học ở mọi cấp độ thể hiện sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra để đo lường thành tích họctập trong suốt năm học
Đồng thời, tập trung vào sự tiến bộ của người học sẽ khuyến khích và công nhận sự chăm chỉ khi người học thể hiện sự cố gắng trên hành trình học tập cá nhân
CÔNG CỤ
Tóm tắt
Đánh giá kết quả học tập có nhiều ý nghĩa với người dạy, người học và các nhàquản lý Khi kết quả học tập được đánh giá một cách chính xác, khoa học, chất lượng đào tạo được cải thiện Để xác định được việc người học có đạt được chuẩn đầu ra như mong đợi, mỗi học phần phải đảm bảo việc đo được năng lựccủa người học ở các cấp độ khác nhau Trong bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề lý thuyết về việc thiết kế công cụ kiểm tra - đánh giá kết quả học tập và biện pháp rà soát, làm cơ sở điều chỉnh công cụ kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
Từ khóa: Công cụ, Kiểm tra, đánh giá, kết quả học tập, chuẩn đầu ra
1 Các công cụ kiểm tra đánh giá khi sử dụng
Xu hướng KT-ĐG hiện nay không chỉ kiểm tra kiến thức đơn thuần mà yêu cầu
Trang 10người học phát triển những năng lực khác như diễn thuyết, tự khám phá tri thức… Việc sử dụng linh hoạt các công cụ kiểm tra hiệu quả sẽ giúp cho việc xác định người học đạt được gần với mục tiêu đào tạo Các công cụ kiểm tra đánh giá thường dùng:
Loại bài
kiểm tra
Những mục tiêu
có khả năng đánh giá được
Một số ưu điểm
có thể có
Một số nhược điểm
dụng thông tin
- Khả năng ngôn ngữ,
- Sự suy nghĩ
- Sinh viên có thểthể hiện năng lựccao hơn
- Gần cuộc sốnghơn
- Không bao hàm được
nhiều nội dung trong
chương trình học
- Khó kiểm soát tiêu cực
- Chưa có phương pháp
chấm điểm chính xác, tin cậy
- Phụ thuộc nhiều vào tốc độ hoạt
Trang 11Loại bài
kiểm tra
Những mục tiêu
có khả năng đánh giá được
Một số ưu điểm
có thể có
Một số nhược điểm
có thể có
nghĩ
- Cách suy nghĩ sâu sắc
Gây nên sự lo lắng trong suốt quá trình trên lớp
hành
- Trực tiếp
- Tương đối chínhxác
- Tuỳ thuộc vào điều kiện thực hành
- Cách lập luận nằm trong suy nghĩ của
cá nhân
- Linh hoạt
- Có ích để khẳngđịnh những đánhgiá khác
- Rất chủ quan
- Hiệu ứng “hào quang”
- Giáo viên cần có kỹ
- Năng lực hệ thống hoá,
vận dụng kiến thức
Cho điểm mộtcách tổng hợp
- Việc cho điểm hoàn
toàn chủ quan, thiếu ổn
định