1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Theo anh chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anhchị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới, Tiểu luận giáo dục đại học thế giới và việt nam lớp nghiệp vụ sư phạm

12 64 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Theo anh/chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anh/chị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Nghiệp vụ sư phạm
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo anh chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anhchị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới. Liên hệ thực tiễn một giải pháp tại cơ sở anhchị đang công tác hoặc cơ sở anhchị quan tâm.

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI TIỂU LUẬN/BÀI THI KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ

“GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM”

LỚP NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Đề bài Theo anh/chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anh/chị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới Liên hệ thực tiễn một giải pháp tại cơ sở anh/chị đang công tác hoặc cơ sở anh/chị quan tâm.

Bài làm

Thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay.

Thành tựu.

Đa dạng hoá về loại hình trường và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng.Nếu như năm 1987, cả nước mới chỉ có 101 trường đại học và cao đẳng thì đến tháng 9/2009 đã có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần Ở bậc đào tạo sau đại học, đến nay cả nước có 159 cơ sở đào tạo (71 viện nghiên cứu và

88 trường đại học), trong đó có 121 cơ sở đào tạo tiến sĩ và 100 cơ sở đào tạo thạc sĩ

Về loại hình trường và sở hữu cũng có nhiều thay đổi, trong số 101 trường đại học và cao đẳng năm 1987 không có trường nào ngoài công lập thì chỉ 10 năm sau, năm 1997

đã có 15 trường đại học ngoài công lập trên tổng số 126 trường đại học và cao đẳng Đến tháng 9/2009, con số này tăng lên 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nên tổng số 376 trường, chiếm 21,5%

Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đã phủ gần kín cả nước Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học; 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%)

Quy mô đào tạo cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được mở rộng Năm 1987, số sinh viên tuyển mới là 34.110 thì năm 1997 là 123.969 và đến năm 2009 là 503.618 (tăng 14,7 lần so với năm 1987) Số con em diện chính sách, miền núi, dân tộc, vùng sâu, vùng xa được thu hút ngày càng đông vào các trường đại học và cao đẳng

Trang 2

Số sinh viên tăng dần qua các năm, năm 1987 tổng số sinh viên là 133.136, năm

1997 là 715.231 và năm 2009 là 719.499 (tăng 13 lần so với năm 1987) Năm 1987,

có 19.900 sinh viên tốt nghiệp thì năm 1997 con số này tăng lên 73.736 sinh viên và năm 2009 là 222.665 sinh viên Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng đã từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực qua đào tạo cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ở bậc sau đại học, từ năm 2000 đến nay, các cơ sở đào tạo trung bình mỗi năm

650 tiến sĩ trong nước Năm 2008, các cơ sở đào tạo sau đại học đã tuyển được 1.805 nghiên cứu sinh và 22.885 học viên cao học Năm 2009, các cơ sở đào tạo sau đại học trong nước đã đăng ký 2.504 chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ và 30.628 chỉ tiêu đào tạo thạc sĩ Những con số này đã cho thấy vai trò quan trọng của đào tạo sau đại học trong nước đối với việc cung ứng nhân lực trình độ cao cho đất nước

Cơ cấu trình độ, ngành nghề đạo tạo thay đổi theo xu hướng hợp lý và hình thức đào tạo đa dạng hơn Quy mô đào tạo đại học giảm từ 79,4% (năm 1997) xuống 72,3% (năm 2009) Tỷ lệ đào tạo các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư, y dược, văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao tăng lên Đặc biệt, đào tạo nguồn nhân lực thuộc các lĩnh vực công nghệ, thông tin, sinh học, vật liệu mới được ưu tiên

Hình thức đào tạo cao đẳng, đại học được đa dạng hóa, gồm đào tạo chính quy tập trung và giáo dục thường xuyên/đào tạo không chính quy Tổng quy mô đào tạo không chính quy hiện nay khoảng gần 900.000 sinh viên (trong đó đào tạo từ xa khoảng 220.000 sinh viên), chiếm gần 50% tổng quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng Đào tạo không chính quy đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chất lượng giáo dục đại học bước đầu được kiểm soát và từng bước cải thiện Trước năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng giáo dục, thì năm 2004 Bộ đã thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, sau đó hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng hình thành 77 tổ chức chuyên trách về đảm bảo chất lượng ở các trường đại học, cao đẳng Trên cơ sở đó, đến nay đã

có 114 trường đại học, cao đẳng tiến hành tự đánh giá chất lượng, chiếm trên 70% số trường đại học cả nước

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế thực hiện 3 công khai (công khai chất lượng đào tạo và chất lượng thực tế của cơ sở đào tạo; công khai nguồn lực phục

Trang 3

vụ đào tạo; công khai thu chi tài chính) đối với các cơ sở giáo dục từ tháng 5/2009 để tạo sự giám sát xã hội về chất lượng đào tạo Cũng để tạo động lực cho quá trình nâng cao chất lượng đào tạo, từ năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai chủ trương

"Đào tạo theo nhu cầu xã hội" Theo đó, nhà trường cần xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của mỗi ngành đào tạo Đến nay có khoảng 10 trường đại học, cao đẳng công bố chuẩn đầu ra của mình

Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh.Trong thời gian qua, chúng ta đã đàm phán ký kết được thoả thuận công nhận tương đương bằng cấp giữa Việt Nam với 10 nước trên thế giới, gia hạn và đàm phán mới nhiều hiệp định hợp tác về giáo dục với nước ngoài Trong gần 10 năm từ năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cử 7.039 lưu học sinh đi học nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước và Hiệp định Có trên 30 trường đại học có chương trình hợp tác quốc tế tốt, hiệu quả, đã đạt được thoả thuận công nhận liên thông chương trình với các trường đại học nước ngoài Số sinh viên nước ngoài đến học tại Việt Nam ngày một tăng, theo thống kê chưa đầy đủ hiện có khoảng 10.000 sinh viên nước ngoài đang theo học

Hạn chế.

Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường Nhưng giáo dục khi xã hội chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thì lại nảy sinh nhiều vấn đề tranh cãi gay gắt Thực trạng GDĐH Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn như gian lận trong tổ chức thi cử; nạn mua bán bằng cấp; phương pháp dạy, giáo trình, cơ sở vật chất lạc hậu; trình độ tiếng Anh của sinh viên không đạt yêu cầu, vấn đề tự chủ đại học Đây là những vấn đề mang tính phổ biến mà các nhà nghiên cứu giáo dục và người dân cả nước đang rất quan tâm hiện nay

Ngân sách đầu tư cho GDĐH còn thấp Hiện Việt Nam phân bổ 5% tổng GDP của cả nước cho giáo dục, riêng giáo dục bậc đại học được đầu tư 0,33% (chiếm 6,1% tổng mức đầu tư của Chính phủ cho giáo dục) Mức đầu tư này rất thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Trang 4

Hình 1 So sánh mức đầu tư cho GDĐH của Việt Nam và một số nước trên thế giới

(Nguồn: Hội thảo Giáo dục 2020; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên

và Nhi đồng của Quốc hội)

Về xếp hạng các trường đại học, theo bảng xếp hạng của Times Higher Education (2020), có 3 trường đại học của Việt Nam được xếp hạng trong top 500 trường đại học nền kinh tế hàng đầu ở các mới nổi Cụ thể, Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 201-250; Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thuộc nhóm 251-300; tiếp theo là Đại học Quốc gia TPHCM thuộc nhóm 401-500

Số lượng sinh viên đạt yêu cầu tiếng Anh thực sự không nhiều và số này hầu hết thuộc nhóm chuyên ngành, còn lại rất đáng lo ngại Được học tiếng Anh từ bậc tiểu học cho tới khi lên đại học, chưa kể việc học thêm ở các trung tâm Anh ngữ, nhưng nhiều sinh viên không đủ điều kiện tốt nghiệp do còn nợ môn tiếng Anh Điều này gây lãng phí cho xã hội, gia đình và cho chính bản thân người học Năng lực ngoại ngữ kém còn dẫn đến một thực trạng khác cũng phổ biến là sinh viên khó xin việc làm Không ít sinh viên khi xin việc không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng, khả năng giao tiếp tiếng Anh của các doanh nghiệp khi cần tuyển dụng nhân lực có trình độ cao

Thiếu định hướng nghề nghiệp là một trong những vấn đề lớn nhất mà sinh viên

VN gặp phải Nhiều sinh viên chưa có định hướng rõ ràng về ngành học của mình Một số chọn ngành theo sự sắp đặt của cha mẹ, hoặc theo xu hướng đám đông mà không biết có thật sự phù hợp với khả năng của mình hay không Chính điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực đầu ra yếu kém, khó đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp

Trang 5

Chú trọng lý thuyết hơn thực hành trong phương pháp giảng dạy đã khiến cho sinh viên không nắm bắt được thực tế công việc, bởi luôn có khoảng cách từ lý thuyết đến thực hành, dẫn đến số lượng sinh viên xin việc rất nhiều nhưng ít người có thể đáp ứng nhu cầu công việc thực tế ở các doanh nghiệp

Sinh viên yếu về kỹ năng mềm hay còn gọi là kỹ năng thực hành xã hội, như giao tiếp tiếng Anh (cũng do năng lực tiếng Anh kém), kỹ năng làm việc nhóm, xử lý vấn đề, Bên cạnh đó, còn những kỹ năng khác như tin học, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ công việc Sinh viên yếu kỹ năng mềm sẽ khó hòa nhập và làm việc thiếu hiệu quả, do vậy mất đi cơ hội được các doanh nghiệp tuyển dụng

Tự chủ giáo dục đại học được thực hiện từ năm 2015, sau khi có Nghị quyết 77/ NQ-CP của Chính phủ; đặc biệt từ khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học Bước đầu đạt một số kết quả đáng khích lệ, giảm thủ tục hành chính, tăng tính chủ động, linh hoạt trong mọi hoạt động, từ đào tạo và nghiên cứu khoa học đến tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, Tuy vậy vẫn còn một số vướng mắc, khó khăn nhất định trong vấn đề thu chi tài chính, chi trả lương, việc bổ nhiệm, bãi nhiệm hiệu trưởng, trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng trường, Ví dụ điển hình như vụ việc Trường đại học Tôn Đức Thắng gây ồn ào trong dư luận trong thời gian vừa qua

Giáo dục đại học có hai nhiệm vụ là đào tạo nhân lực trình độ cao và nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, việc thực hiện cả hai nhiệm vụ này ở các trường đại học hiện nay còn nhiều hạn chế Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi của các trường tương đối cao nhưng khả năng hòa nhập của nhân lực được đào tạo vào thị trường lao động còn hạn chế Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong số khoảng 200.000 sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng hàng năm chỉ 50% kiếm được việc làm và trong số này cũng chỉ có 30% làm đúng ngành nghề được đào tạo

“Hệ thống giáo dục được mở rộng nhưng không đáp ứng được yêu cầu về mặt chất lượng, không gắn với thị trường, dẫn tới thiếu hụt nghiêm trọng lao động có kỹ năng” Điều này có ảnh hưởng tiêu cực tới vị thế của hệ thống giáo dục Việt Nam và khả năng cạnh tranh trong thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực và trên thế giới, hạn chế việc thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước, gây khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế quốc gia mà tiêu biểu là có 2 hạn chế sau:

Trang 6

Thứ nhất, chương trình đào tạo chưa thực sự hiệu quả, còn nhiều bất cập và hạn chế Điều này dẫn đến chỗ bằng cấp của nước ta cũng chưa được thế giới công nhận về chất lượng, sinh viên khó tham gia các chương trình trao đổi giao lưu với các trường đại học trên thế giới hoặc chuyển ngang sang học tiếp tại các trường đại học quốc tế hoặc xét học tiếp ở cấp độ cao hơn (thạc sĩ, tiến sĩ) đối với các sinh viên đã tốt nghiệp trong nước

Thứ hai, Phương thức giảng dạy và cách thức học tập phần đa còn nhiều bất cập, hạn chế

Bệnh thành tích có nguy cơ quay trở lại Hệ thống thi cử đánh giá thực lực khả năng của học sinh còn bất cập; điều đó khiến học sinh học lệnh, học tủ, quay cóp, dạy

và học thêm; làm mất nhiều thời gian của xã hội

Đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới

Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục.Tổ chức thảo luận trong toàn ngành và xã hội "Làm gì để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo?" Không thể tiếp tục phát triển quy mô giáo dục đại học mà lại buông lỏng quản lý chất lượng như thời gian qua Mỗi người đều có trách nhiệm: Quản lý nhà nước, quản lý nhà trường, giảng viên, sinh viên, người sử dụng lao động và xã hội

Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của nhà trường Quy định về phối hợp và phân cấp quản lý giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ ngành khác và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đối với các trường đại học, cao đẳng

Hoàn thiện quy định về Hội đồng trường và quan hệ giữa Hội đồng trường, Ban giám hiệu, Đảng uỷ trường, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội Xây dựng quy định

về hoàn thiện việc đánh giá quản lý giáo dục đại học: Sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường; các trường đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo, quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ chủ quản và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi trường đóng

Chuẩn hoá và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo Thông qua Hội đồng các Hiệu trưởng đại học, cao đẳng và Trưởng khoa cùng nhóm ngành để thống nhất các chương trình đào tạo khung của các ngành do các trường đào tạo, phân công viết giáo trình dùng chung cho các trường

Trang 7

Chuẩn hoá đội ngũ lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng toàn quốc Hoàn thiện và tiếp tục chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng

Thực hiện thi và xét tuyển vào đại học nghiêm túc, thực hiện tốt chương trình cho vay để học, nhằm thu hút thanh niên có chất lượng và đạo đức tốt vào học ở các trường đại học, cao đẳng

Đầy mạnh hợp tác quốc tế Chủ động phối hợp với các tổ chức kiểm định chất lượng ở các nước tiên tiến, với các nước OECD để hình thành nhanh hệ thống các cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục của nhà nước và các tổ chức kiểm định của các cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ

WB, ADB để triển khai các dự án vốn vay xây dựng các đại học xuất sắc

Triển khai các chương trình hợp tác với các đại học, các quốc gia để thực hiện đào tạo 10.000 tiến sĩ ở nước ngoài, chương trình nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam

Xây dựng và triển khai đề án thu hút người Việt Namở nước ngoài, các nhà khoa học nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam

Tiếp cận các hệ thống kiểm định chất lượng GDĐH theo chuẩn khu vực

và quốc tế

Trong xu thế phát triển GDĐH của Việt Nam và thế giới để chuẩn hoá hoạt động và nâng cao chất lượng đào tạo Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

đã đưa ra bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học Bộ tiêu chí này nhằm đảm bảo chất lượng đầu vào, chất lượng đầu ra và quá trình hoạt động

Song song với điều này là việc xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục, với mục tiêu là xếp hạng các trường đại học thông qua một tổ chức kiểm định độc lập Kết quả xếp hạng này cho thấy được chất lượng của từng cơ sở để căn cứ vào đó các đơn vị giáo dục nước ngoài có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Như vậy, nếu như bộ các tiêu chí kiểm định cũng như quá trình kiểm định càng tiến gần tới chuẩn quốc tế thì càng mở ra cho GDĐH những cơ hội hợp tác, giao lưu

và trao đổi sinh viên, giảng viên và các chương trình đào tạo giữa các trường, các tổ chức giáo dục tại Việt Nam cũng như trên thế giới trở nên dễ dàng hơn

Cập nhật và chuẩn hóa chương trình đào tạo (CTĐT) phù hợp với khu vực và quốc tế

Trang 8

Ngày nay cùng với sự phát triển công nghệ thông tin thì sinh viên có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin và kiến thức mở vậy nên các trường cũng phải chuyển mình theo xu hướng hội nhập quốc tế, thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo mới phù hợp với từng thời điểm với chủ trương “đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội” Như vậy, CTĐT phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xã hội Từ đó, các trường tự quyết định phân bổ đầu tư về cơ sở vật chất, đầu tư cho nguồn lực giảng dạy Nếu nắm bắt được những nhu cầu ở trên thì các trường và các tổ chức mới có thể thu hút được nguồn sinh viên đầu vào

Thế giới ngày nay đang thay đổi từng giây với tốc độ nhanh chóng Trong bối cảnh ấy, mọi dân tộc hay quốc gia trên thế giới đang dần phá vỡ những rào cản biên giới để tiến tới hoà lại làm một trở thành ‘thế giới phẳng' GDĐH Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Quốc tế hoá chương trình đào tạo đại học được cho là một cách để nâng cao vị thế trong khu vực và hợp tác quốc tế, tăng khả năng hội nhập trong lĩnh vực giáo dục

Mở rộng quan hệ và hợp tác giữa bộ GD&ĐT giữa nhiều quốc gia, đưa những chương trình giáo dục nước ngoài áp dụng một cách linh động vào các trường đại học Ngoài ra nhận thấy tiềm năng trong sự phát triển và chuyển mình mạnh mẽ trong giáo dục đại học thì các tổ chức giáo dục nước ngoài đã mở ra những trường đại học, những viện đào tạo tại VN mang tầm chuẩn quốc tế, ví dụ Vin University của tập đoàn Vingroup Hoặc cũng có thể là sự liên kết chương trình đào tạo giữa đối tác trong và ngoài nước Điều này mang đến nhiều sự lựa chọn để đáp ứng nhu cầu đa dạng của sinh viên hiện nay

Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 thì có sự xuất hiện rộng rãi các mô hình học tập mới ứng dụng công nghệ thay cho các phương pháp giáo dục truyền thống hiện nay là một điểm cần được các trường đại học chú trọng Thay vì giáo dục ngang bằng cho tất cả mọi sinh viên thì thông qua những tiến bộ công nghệ như các phần mềm đánh giá cho phép người quản lí và các giảng viên thiết kế nhanh chóng lộ trình học tập cho từng cá nhân học viên phù hợp với khả năng và tốc độ tiếp thu kiến thức theo nhu cầu của họ Qua đó, nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như chất lượng sản phẩm đầu ra của các trường

Thay cho mô hình giáo dục đào tạo như trước đây chỉ tập trung vào cung cấp cho người học kiến thức và kỹ năng để họ trở thành người có kỹ năng cao thì GDĐH

Trang 9

hiện nay quan tâm nhiều hơn tới việc dạy cho sinh viên cách tự học, cách tư duy, cách đánh giá các tình huống, khả năng giải quyết vấn đề, Như vậy, nếu các trường đại học bắt kịp và ứng dụng những tiến bộ công nghệ thông tin sẽ giúp họ có thể đạt được mục tiêu trên một cách nhanh chóng hơn

Quá trình hội nhập quốc tế ở mức độ nào đó sẽ giúp Việt Nam đào tạo nhanh chóng thêm nhiều sinh viên tốt nghiệp với chuẩn đầu ra quốc tế với mức chi phí rẻ hơn Chính lợi thế này đã thu hút càng nhiều sinh viên nước ngoài đến các trường, tổ chức giáo dục đại học tại Việt Nam Những sinh viên này mang đến nguồn tài chính cho các tổ chức giáo dục nhưng bên cạnh đó cũng thúc giục sự thay đổi trong những tổ chức này để hướng tới sự phát triển trong thực hành giảng dạy cũng như chất lượng cao hơn đế đáp ứng nhu cầu sinh viên quốc tế

Bồi dưỡng và nâng cao trình độ giảng viên theo chuẩn khu vực và quốc tế

Ngày nay những nhà lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học không chỉ chuyên môn giỏi mà còn được bồi dưỡng khả năng quản lí Họ thường là những người được đào tạo ở các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến Nhờ vậy họ có lối tư duy tiên tiến

và hiện đại trong việc thay đổi luồng tư duy lối mòn cũ, có định hướng chiến lược phát triển lâu dài từng bước tiệm cận với giáo dục quốc tế

Ngoài ra với sự đầu tư lớn nguồn vốn cho những người giỏi, tài đi học tập tại các nước tiên tiến, những người nay trở về mang theo kiến thức mà kỹ năng mà họ học được về đóng góp cho sự phát triển của giáo dục nước nhà Đã có hàng ngàn người thầy bao gồm Giáo sư & Phó Giáo Tiến sĩ, Thạc sĩ được đào tạo ở nước ngoài đang giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống GDĐH Họ được mong đợi là những người mang lại sự thay đổi, đóng góp cho sự đổi mới theo hướng phát triển hội nhập của chương trình giảng dạy và nghiên cứu, tiến tới tiêu chuẩn giáo dục đại học ở tầm khu vực và quốc tế

Đẩy mạnh tự chủ đại học và tăng nguồn vốn đầu tư cho các cơ sở

GDĐH

Hiện tại Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã dần trao quyền tự chủ cho các trường đại học trở lại đúng chức năng nhiệm vụ là định hướng phát triển, xây dựng hành lang pháp lí để thanh tra và kiểm tra thay vì đi sâu vào những vấn đề cụ thể của các trường

Trang 10

Từ đó mở ra môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh cho các trường và tăng cường tính sáng tạo, năng động để đổi mới đi kịp thời đại không để bị tụt lại phía sau Tư duy giáo dục đại học đổi mới trong chính sách của nhà nước thì quyền tự chủ

và tự chịu trách nhiệm với những chính sách riêng của từng trường chính là động lực

để các trường vươn xa ra khỏi tầm khu vực

Ngày nay, việc đầu tư từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới đang tăng lên với nhiều dự án khác nhau được hỗ trợ không chỉ tài chính mà còn cả về mặt kĩ thuật Chính bằng cách này đã có nhiều chương trình, dự án có uy tín giúp các trường các tổ chức GDĐH Việt Nam thay đổi tích cực về nhiều mặt như: tiêu chuẩn đào tạo, cách quản lí chương trình giảng dạy, tăng giảng dạy thực hành,…

Liên hệ thực tiễn một giải pháp tại cơ sở anh/chị đang công tác hoặc cơ sở anh/chị quan tâm

Xu thế hội nhập quốc tế ngày càng trở nên mạnh mẽ đòi hỏi ngành GD& ĐT phải nhanh chóng hội nhập, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu trong giáo dục của các nước tiên tiến Trường Đại học sư phạm Kỹ Thuật Tp.HCM đã có nhiều chương trình liên kết đào tạo quốc tế tạo cho sinh viên cơ hội tiếp cận với chất lượng giáo dục của nước ngoài

Đối với sinh viên theo học chương trình này sẽ không phải chứng minh tài chính, cũng như những qui định liên quan đến thị thực sinh viên như đi du học

Sở hữu bằng nước ngoài sau khi tốt nghiệp nên có nhiều thế mạnh hơn cho việc phát triển sự nghiệp trong tương lai, đặc biệt khả năng ngoại ngữ

Bên cạnh đó, tài liệu học tập, chương trình được chuẩn hóa, cũng như phương pháp giảng dạy cải tiến Theo đó, bên cạnh kiến thức thì phần lớn chương trình học được chú trọng nhiều việc hình thành và phát triển kĩ năng cho sinh viên như: Giao tiếp, làm việc nhóm, cộng tác, quản lí thời gian, giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, sáng tạo…

Những kỹ năng này đặc biệt cần thiết cho sinh viên sau khi ra trường, vì khoa học công nghệ không ngừng thay đổi, máy móc dần thay thế con người, việc hình thành kỹ năng cho sinh viên trở thành xu thế hiện nay

Có thể nhận thấy lợi ích khi các các cơ sở đào tạo trong nước tham gia chương trình liên kết sẽ tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với những cơ sở đào tạo ở nước ngoài Các trường trong nước có cơ hội học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về quản lý

Ngày đăng: 17/10/2023, 14:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. So sánh mức đầu tư cho GDĐH của Việt Nam và một số nước trên thế giới - Theo anh chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anhchị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới, Tiểu luận giáo dục đại học thế giới và việt nam  lớp nghiệp vụ sư phạm
Hình 1. So sánh mức đầu tư cho GDĐH của Việt Nam và một số nước trên thế giới (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w