Chứng minh sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt từ đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
- -ĐỀ TÀI THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: CHỨNG MINH SỨC LAO ĐỘNG LÀ MỘT LOẠI HÀNG HÓA ĐẶC BIỆT TỪ ĐÓ LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN ĐỂ SAU KHI TỐT NGHIỆP CÓ THỂ GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG MỘT CÁCH THUẬN LỢI HOẶC KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG
Lớp học phần: : 231_RLCP1211_03
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Văn Mạnh
Hà Nội, tháng 10 năm 2023
Trang 2MỤC LỤ
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 3
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 3
NỘI DUNG 4
A CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA, SỨC LAO ĐỘNG 4
1 Hàng hoá 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Thuộc tính của hàng hóa 4
2. Sức lao động 5
2.1 Khái niệm 5
2.2 Thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5
II TẠI SAO NÓI SỨC LAO ĐỘNG LÀ MỘT HÀNG HOÁ ĐẶC BIỆT 6
1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá 6
2 Sức lao động là hàng hoá đặc biệt 7
3 Ví dụ 8
B LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN 9
1 Thực trạng thị trường lao động hiện nay 9
2 Vị trí của sinh viên 10
2.1 Thực trạng tình hình việc làm của sinh viên 10
2.2 Ưu điểm của lao động sinh viên 12
2.3 Nhược điểm của lao động sinh viên 13
3 Liên hệ đến việc học tập của bản thân 14
4 Giải pháp 17
4.1 Đối với sinh viên: 17
4.2 Đối với nhà trường: 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế kỷ 21, nền kinh tế nước ta đang trải qua sự biến đổi mạnh mẽ, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Điều này đặt
ra một loạt thách thức mới đối với nguồn nhân lực và sự cạnh tranh trên thị trường lao động Quá trình vận động và phát triển sản xuất xã hội còn đòi sức lao động ngày càng có chất lượng cao hơn Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta hầu như không hề thừa nhận thị trường sức lao động, thế nhưng trong điều kiện hiện nay, việc thừa nhận nó
là tất yếu Sức lao động không còn chỉ là sự đầu tư của cá nhân mà còn là một tài sản quý báu của xã hội Trong bối cảnh này, việc học tập và phát triển kỹ năng trở nên vô cùng quan trọng để đảm bảo sự thành công và thăng tiến trong cuộc sống cá nhân, cũng như đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Sức lao động giờ đây không chỉ đòi hỏi kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà còn đòi hỏi khả năng thích nghi với sự thay đổi, sáng tạo, và khả năng làm việc trong môi trường đa dạng và động đất Chúng ta có thể thấy rằng việc học tập không chỉ là việc đạt được một tấm bằng, mà còn là quá trình liên tục để cải thiện sức lao động của bản thân Những người có khả năng học tập và phát triển kỹ năng liên tục sẽ có lợi thế lớn hơn trên thị trường lao động và trong việc khởi nghiệp Họ có khả năng thích nghi với sự biến đổi, đưa ra các giải pháp sáng tạo cho các thách thức mới, và tạo ra giá trị cho
cả bản thân và xã hội, vì thế nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt từ đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công”
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt, từ đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Tìm hiểu lý thuyết, điều kiện và thuộc tính về hàng hóa
- Tìm hiểu lý thuyết về sức lao động, thuộc tính sức lao động, phân biệt sức lao động và lao động
- Tìm hiểu sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa, điều kiện để biến sức lao động thành hàng hóa
- Tìm hiểu ưu, nhược điểm của thị trường lao động Việt Nam hiện nay
- Liên hệ thực tế với sinh viên về việc học và gia nhập vào thị trường lao động sau khi tốt nghiệp
Trang 4NỘI DUNG
A CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA, SỨC LAO ĐỘNG
1 Hàng hoá
1.1 Khái niệm
Theo quan điểm của C.Mác: “Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán”
Sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hóa khi được:
- Đưa ra trao đổi
- Mua bán trên thị trường Hàng hoá có thể tồn tại ở dạng:
- Vật thể
- Phi vật thể
1.2 Thuộc tính của hàng hóa
Dù khác nhau về hình thái tồn tại, song mọi thứ hàng hoá đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
a Giá trị sử dụng:
- Khái niệm: Là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất
- Ví dụ: Gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, máy móc để sản xuất, phương tiện để đi lại…
- Đặc trưng:
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa đó quy định Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càngtiên tiến, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của hàng hoá khác nhau
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của người mua Cho nên, nếu là người sản xuất, tất yếu phải chú ý chăm lo giá trị
sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất ra sao cho ngày càng đáp ứng nhu cầu khắt khe và tinh tế hơn của người mua
b Giá trị:
- Khái niệm: Theo C.Mác: “Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá ấy.”
Trang 5- Ví dụ: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10 kg thóc
Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa mặc dù có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại có thể trao đổi với nhau được theo một tỉ lệ nhất định nào đó là vì giữa chúng có một cơ sở chung là cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động (thời gian lao động và công sức lao động) do lao động được chứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá
- Bản chất: Là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa
- Đặc trưng của giá trị:
+ Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa + Giá trị hàng hóa là phạm trù có tính lịch sử
+ Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị Với giá trị trao đổi là mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng khác nhau
c. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính hàng hóa
Hai thuộc tính của hàng hoá có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau
- Thống nhất: Cùng tồn tại trong một hàng hóa Để được xem là hàng hóa, một vật phải đồng thời có đầy đủ cả hai thuộc tính này, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó sẽ không phải là hàng hóa
- Mâu thuẫn:
+ Người sản xuất hàng hóa chỉ quan tâm tới giá trị hàng hóa do mình tạo ra + Người tiêu dùng chỉ quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa
+ Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông, giá trị sử dụng được thực hiện trong lĩnh vực tiêu dùng
Như vậy, hàng hóa là sự thống nhất giữa hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Đó là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập mà thiếu một trong hai thuộc tính thì sản phẩm sẽ không trở thành hàng hóa Hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội giữa người sản xuất và trao đổi hàng hóa
2 Sức lao động
2.1 Khái niệm
C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và năng lực tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống
và được người đó đem ra vận đụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.”
2.2 Thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
Trang 6a Giá trị:
- Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định
- Cách tính giá trị hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để sản xuất ra sức lao động Cho nên cấu thành giá trị của hàng hóa sức lao động sẽ bao gồm:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết( cả vật chất, tinh thần) để tái
sản xuất ra sức lao động
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động.
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết nuôi con người lao động.
b Giá trị sử dụng:
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác
là giá trị sử dụng cho người mua, để thoả mãn nhu cầu của người mua
- Quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức động người mua hàng hóa mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm
II TẠI SAO NÓI SỨC LAO ĐỘNG LÀ MỘT HÀNG HOÁ ĐẶC BIỆT
1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Nhưng không phải trong bất cứ điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
- Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức
lao động của mình để có thể bán quyền sử dụng sức lao động của mình như một hàng hóa
- Thứ hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp
với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá Tuy nhiên hàng hóa sức lao động bước đến sự phát triển vượt bậc khi chủ nghĩa tư bản đang ở thời kỳ đỉnh cao Đó là nền tảng quan trọng để đánh dấu sự vượt bậc củavăn minh nhân loại Xét trên thực tế thì hàng hóa sức lao động đã
có mặt từ trước thời điểm xã hội tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên chỉ đến lúc tư bản chủ nghĩa đã được hình thành thì chúng mới được khẳng định và trở nên phổ biến Cũng tại thời điểm này thì sự bóc lột lao động cũng không còn mà thay vào đó chính là sự thỏa thuận theo dạng “thuận mua - vừa bán” - đánh dấu một bước ngoặt cực văn minh ra đời Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản
Trang 72 Sức lao động là hàng hoá đặc biệt
Hàng hóa được biết đến là những sản phẩm lao động hữu hình mà giá trị của nó
có thể thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng thông qua việc trao đổi, mua bán Còn hàng hóa đặc biệt là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ những loại hàng hóa có tính chất riêng biệt, giá trị cao hoặc đòi hỏi chế độ bảo quản riêng biệt
Trong thế giới hàng hóa, có nhiều loại hàng hóa đặc biệt, hàng hóa sức lao động cũng là một trong những hàng hóa đặc biệt đó Chúng có những đặc thù riêng và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Giống như bất kỳ loại hàng hoá nào trên thị trường, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Ở mỗi thuộc tính này, hàng hoá sức lao động đều tồn tại những yếu tố khác biệt, quyết định hàng hoá sức lao động trở thành loại hàng hoá đặc biệt:
Thứ nhất, về thuộc tính giá trị của hàng hóa sức lao động:
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người Để sản xuất
và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường
Giá trị hàng hóa sức lao động có thể được đo lường gián tiếp bằng giá trị của các tư liệu sinh hoạt cần thiết như: lương thực, thực phẩm, quần áo, điện, nước, tiền
đi lại, tiền thuê nhà, tiền thuốc men… để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ
Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm cả yếu
tố tinh thần và yếu tố lịch sử của từng quốc gia, từng phong tục tập quán trong từng thời kỳ, trình độ văn minh, điều kiện địa lý, khí hậu, quá trình hình thành giai cấp công nhân Điều này thể hiện ở chỗ ngoài nhu cầu về vật chất, công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần như vui chơi, giải trí, học tập, tiếp nhận thông tin, giao lưu văn hóa
Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do
đó, có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là, phí tổn đào tạo người lao động; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân
Trang 8Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của anh ta
Thứ hai, về thuộc tính giá trị sử dụng:
Giá trị sừ dụng của hàng hóa sức lao động là công cụ của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng sức lao động của người sử dụng sức lao động Giá trị này phản ánh chất lượng, hiệu quả thực hiện công việc lao động
Khác với hàng hóa thông thường (sau một thời gian tiêu dùng sẽ mất đi giá tri
và giá trị sử dụng theo thời gian) thì hàng hóa sức lao động, khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loai hàng hóa nào đó thì đồng thời nó cũng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đặc biệt là đối với người lao động
có tay nghể, trình độ cao Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá
3 Ví dụ
Để thấy rõ được sức lao động chính là một loại hàng hóa đặc biệt, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét ví dụ sau:
Giả sử sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện dưới hình thái sản xuất cụ thể là sản xuất áo đồng phục và trong quá trình sản xuất này, nhà tư bản thuần túy chỉ đóng vai trò là chủ sở hữu và chỉ có người công nhân là người lao động trực tiếp
Để tiến hành sản xuất áo, nhà tư bản phải ứng ra số tiền như sau:
- 110 USD để mua 100 tấm vải
- 20 USD hào mòn máy móc để sản xuất 100 tấm thành áo
- 25 USD mua hàng hóa sức lao động để sử dụng trong 1 ngày làm việc 8 giờ
và điều này được người công nhân thỏa thuận chấp nhận
→ Như vậy, nhà tư bản phải ứng ra tổng số 155 USD.
Trong quá trình sản xuất áo, bằng lao động cụ thể, người công nhân biến vải thành
áo Giá trị của vải và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của áo Bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã chuyển toàn bộ 110 tấm vải thành áo Giá trị sợi bao gồm:
- Giá trị 110 tấm vải chuyển vào: 110 USD
- Hao mòn máy móc: 20 USD
- Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 25 USD
- Tổng cộng: 155 USD
Trang 9Nhà tư bản ứng ra 155 USD, giả định áo được bán hết, thu về 155 USD Nếu quá trình lao động dừng lại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trở thành tư bản
Để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá cái điểm bù lại giá trị sức lao động Lưu ý là nhà tư bản mua sức lao động của công nhân để sử dụng trong
8 giờ (với 25USD như đã thỏa thuận), không phải 4 giờ Công nhân phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa Trong 4 giờ này, nhà tư bản chỉ phải bỏ thêm 110 USD để mua
110 tấm vải và 20 USD hao mòn máy móc
Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu Số áo được tạo ra trong
4 giờ lao động sau cũng có giá trị 155 USD Con số này bao gồm:
- Giá trị của vải chuyển vào: 110 USD
- Hao mòn máy móc: 20 USD
- Giá trị mới tạo thêm: 25 USD
Sau khi được bán hết, giá trị thu về sau 8h lao động của công nhân là:
155 USD + 155USD = 310 USD
Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra: 220 USD + 40 USD + 25 USD = 285 USD, trong khi đó số sợi sản xuất ra có giá trị 310 USD
Do đó, nhà tư bản thu được lượng giá trị thặng dư là: 310 USD - 285USD = 25 USD Phần chênh lệch này là giá trị thặng dư Đây là giá trị mới do người lao động tạo ra ngoài hao phí lao động tất yếu Phần giá trị mới này nhà tư bản nắm lấy do địa
vị là người chủ sở hữu
Như vậy, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản
B LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN
1 Thực trạng thị trường lao động hiện nay
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam Đây là cơ hội lớn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động thấp đang là vấn đề thách thức của Việt Nam để sẵn sàng cho một giai đoạn mới dựa trên nền tảng khoa học công nghiệp 4.0 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên 3 lĩnh vực chính: Kỹ thuật số, Công nghệ sinh học; Robot thế hệ mới, xe tự lái, các vật liệu mới Theo dự báo của các chuyên gia, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng để kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức;
Trang 10làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất
Đặc biệt, nền công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung-cầu lao động Các nhà kinh tế và khoa học cảnh báo, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động
Trong một số lĩnh vực, với sự xuất hiện của Robot, số lượng nhân viên cần thiết
sẽ chỉ còn 1/10 so với hiện nay Như vậy, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cách mạng công nghiệp 4.0 Hiện Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, chỉ chiếm hơn 20% lực lượng lao động; năng suất lao động thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN…
Như vậy, những ngành nghề sử dụng lao động phổ thông ở mức độ đào tạo đơn giản sẽ chịu tác động lớn và nguy cơ thất nghiệp do sự phát triển của công nghệ
tự động và trí tuệ nhân tạo Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều ngành nghề sẽ biến mất nhưng lại có những công việc mới ra đời Trước xu thế máy móc
tự động hóa thay thế con người, nguồn nhân lực phải trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới
2 Vị trí của sinh viên
2.1 Thực trạng tình hình việc làm của sinh viên
Sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học tìm được việc làm do từ nhiều nguồn: Các doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp tại các trường, kể cả doanh nghiệp chọn lọc, hỗ trợ học bổng sinh viên còn đi học để tuyển chọn sinh viên xuất sắc, giỏi, khá, có kỹ năng ngoại ngữ
- Thông qua các ngày hội nghề nghiệp - việc làm cho sinh viên, sàn giao dịch việc làm
- Các trung tâm dịch vụ việc làm, đặc biệt vai trò các trung tâm hỗ trợ sinh viên
và quan hệ doanh nghiệp của các trường đại học đã giúp nhiều sinh viên tốt nghiệp nhanh chóng có việc làm tương đối phù hợp
- Các mạng thông tin việc làm, các trang tuyển dụng nhân lực trực tuyến
- Thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp niêm yết, trên hệ thống website, Internet, báo, đài, cơ quan thông tin
- Gia đình, thân nhân những người quen giới thiệu
- Tự tìm việc qua những việc thời vụ, bán thời gian khi còn đi học