I.Khái niệm :- Bất bình đẳng xã hội là sự bất bình đẳng, thiếu công bằng, sự bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã
Trang 1BÁO CÁO CHỦ ĐỀ 10 : THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM VÀ GIẢI PHÁP Môn: Kinh tế công
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp: 47K20
Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Thành viên:
1 Phan Nhật Huy
2 Lê Minh Khánh
3 Huỳnh Quang Khải
4 Hoàng Khánh Linh
5 Nguyễn Đức Minh Nhật
6 Trần Anh Quân
-Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm
Trang 22023-II Thực trạng bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay: 2
1 Bất bình đẳng, phân tầng xã hội về kinh tế: 2
1.1 Bất bình đẳng về thu nhập: 2
1.2 Bất bình đẳng về chi tiêu: 5
2 Bất bình đẳng xã hội về giáo dục: 8
3 Bất bình đẳng xã hội về y tế : 10
III Giải quyết bất bình đẳng : 10
Tài liệu tham khảo: 11
Trang 3I.Khái niệm :
- Bất bình đẳng xã hội là sự bất bình đẳng, thiếu công bằng, sự bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội Tất cả các xã hội
-cả quá khứ hay hiện tại - đều được đặc trưng bởi sự khác biệt xã hội
Bất bình đẳng xã hội gồm hai loại :
- Bất bình đẳng mang tính tự nhiên: Đó là sự khác biệt giữa các cá nhân về các đặc điểm sẵn có như: giới, tuổi, chủng tộc, trí lực, phẩm chất sẵn có (Nhà Xã hội học Daniel Rossides cho rằng, ngay trong các xã hội đơn giản nhất “người già thường có uy quyền đối với người trẻ, cha mẹ có uy quyền với con cái, và đàn ông có uy quyền đối với đàn bà”)
- Bất bình đẳng mang tính xã hội: Đó là sự phân công xã hội làm cho
cá nhân phân tầng, từ đó tạo nên lợi ích khác nhau giữa các cá nhân
Nhìn trên quan điểm của các nhà xã hội học nghiên cứu về cơ cấu
xã hội thì :
- Bất bình đẳng được xem như là điều kiện để tổ chức xã hội
- Bất bình đẳng là cơ sở cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Bất bình đẳng đảm bảo cho đời sống và phát triển xã hội
Những cơ sở tạo nên bất bình đẳng được quy vào ba loại căn bản:
- Những cơ hội trong cuộc sống : Đó là những thuận lợi về vật chất
mà cá nhân có được, nhờ vào đó mà các nhân có thể cải thiện cuộc sống vật chất của mình Ngoài ra nó còn có những điều kiện như lợi ích chăm sóc sức khỏe hay an sinh xã hội… Cơ hội trong cuộc sống
là cơ sở khách quan của bất bình đẳng xã hội
- Địa vị xã hội : Bất bình đẳng về địa vị xã hội là do những thành viên của các nhóm trong xã hội tạo nên và thừa nhận chúng Cơ sở địa vị
ở đây có thể là bất cứ cái gì mà một nhóm xã hội cho là ưu việt và được nhóm xã hội khác thừa nhận Những người có uy tín cao, xã hội sẽ dành cho họ sự ưu ái, trân trọng Uy tín cá nhân đó có được là
do sự đánh giá của một nhóm người, một cộng đồng người, nó dựa vào bất cứ thứ gì, có thể là tuổi tác, trình độ, kinh nghiệm, quyền
Trang 4lực, tiền bạc hay giới tính,…
- Ảnh hưởng chính trị : Bất bình đẳng trong ảnh hưởng chính trị có được do có ưu thế vật chất hoặc địa vị cao Thực tế, bản thân chức
vụ chính trị là cơ sở đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống
II Thực trạng bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay:
1 Bất bình đẳng, phân tầng xã hội về kinh tế:
1.1 Bất bình đẳng về thu nhập:
- Một trong những cơ sở để đánh giá về sự phân hóa giàu nghèo đó là chỉ ra sự bất bình đẳng về mặt thu nhập trong xã hội Việt Nam hiện nay Trong giai đoạn 2010 - 2020, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trên thế giới, đạt mức bình quân 6,1%/năm Mặc dù thu nhập của các nhóm dân cư đều tăng lên, nhưng tốc độ tăng thu nhập của nhóm nghèo luôn thấp hơn so với nhóm giàu, do vậy, khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm trong xã hội đang ngày càng tăng lên Bất bình đẳng thu nhập hay chênh lệch giàu nghèo và thu nhập của người lao động không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống của người dân, mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của quốc gia
1.1.1 Bất bình đẳng về thu nhập giữa thành thị và nông thôn:
- Tình trạng chênh lệch thu nhập của cả nước thể hiện qua hệ số Gini
có xu hướng giảm trong giai đoạn 2010-2020, từ 0,433 năm 2010 xuống còn 0,350 năm 2020
- Khi so sánh với quốc tế cũng như so với một số quốc gia trên thế giới, thì hệ số Gini ở mức < 0,4 cho thấy bất bình đẳng thu nhập tại
Trang 5Việt Nam vẫn ở mức chấp nhận được.
- Hệ số GINI trong giai đoạn 2016-2020 cho thấy, bất bình đẳng thu nhập tại nước ta biến động không nhiều, giảm từ 0,431 xuống 0,373
và nằm trong ngưỡng an toàn, hiệu quả, phù hợp cho mục tiêu tăng trưởng cao Tại khu vực thành thị, người dân bình đẳng và dễ dàng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển về trình độ học vấn, kỹ năng làm việc thông qua giáo dục nên bất bình đẳng về thu nhập luôn thấp hơn khu vực nông thôn Năm 2016 hệ số GINI ở khu vực thành thị là 0,391 giảm còn 0,325 năm 2020, chỉ số này tương ứng ở khu
vực nông thôn là 0,408 và 0,373
1.1.2 Bất bình đẳng về thu nhập giữa các vùng trong cả nước:
Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo vùng năm 2021
Đơn vị tính: 1000 đồng
- Trong năm 2021, vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (5.794 nghìn đồng/người/tháng) và thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2.837 nghìn đồng/người/tháng)
1.1.3 Bất bình đẳng về thu nhập giữa 5 nhóm thu nhập :
- Năm nhóm thu nhập được đề cập đến ở đây bao gồm từ nhóm 1 đến nhóm 5 tương ứng với các nhóm nghèo, cận nghèo, trung bình, khá,
và giàu
Trang 6Bảng 2 Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu
nhập của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
- Bảng 2 cho thấy thu nhập bình/tháng cả 5 nhóm đều tăng qua các năm, trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2020 gấp 3,04 lần so với năm 2010 Bên cạnh đó, số lần chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 giai đoạn 2010-2020 luôn ở mức khá cao nhưng có sự thay đổi rõ rệt trong năm 2020 so với các năm trước Cụ thể, từ năm 2010-2018, chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 có xu hướng tăng liên tục trong bối cảnh môi trường kinh tế diễn ra không có cú sốc nào Năm 2010, thu nhập Nhóm 5 gấp 9,24 lần so với Nhóm 1, đến năm 2018 thu nhập Nhóm 5 gấp 9,86 lần so với Nhóm 1 Điều đó có nghĩa là khoảng cách thu nhập giữa nhóm người có thu nhập thấp nhất và nhóm người có thu nhập cao nhất ngày càng gia tăng, chứng tỏ Việt Nam đàn dần trở thành nước có chênh lệch giàu nghèo cao kéo theo sự bất bình đẳng về thu nhập tăng nhanh
- Năm 2010, thu nhập bình quân 1 người/1 tháng của nhóm hộ nghèo nhất (Nhóm 1) đạt 369 nghìn đồng, tăng bình quân 9,7% trong giai đoạn 2010-2018 và của nhóm hộ giàu nhất (Nhóm 5) đạt 3.410 nghìn đồng tăng bình quân 10,7% Tốc độ tăng thu nhập của Nhóm 1 chậm hơn nhóm 5 làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng
Trang 7- Nghề nghiệp của người thuộc Nhóm 1,2 chủ yếu là lao động nông nghiệp tự làm với mức tỷ lệ lần lượt là 72,6 và 42% ( số liệu điều tra khảo sát mức sống dân cư - Tổng cục thống kê ) , số lao động làm công ăn lương phi nông nghiệp của hai Nhóm 1 và 2 là 144%
và 35,3% đa số lao động thuộc hai nhóm thu nhập thấp nhất đều là lao động đơn thuần, thiếu kiến thức, ngành nghề phát triển chậm Trong khi đó, nghề nghiệp của người thuộc nhóm 4,5 đa số là lao động làm công ăn lương phi nông nghiệp với mức tỷ lệ lần lượt là 55,9% và 54,7%
- Điều đó nói lên việc khoảng cách giàu nghèo tiếp tục có nguy cơ gia tăng khi người nông dân bị mất đất, không có việc làm phù hợp rơi vào thất nghiệp do trình độ người lao động thuộc nhóm 1,2 không thích nghi được với yêu cầu công việc mới Ngược lại, lao động thuộc Nhóm 4,5 là người có trình độ ngày càng có thu nhập tăng lên do nhanh chóng tiếp cận công nghệ tiên tiến
1.2 Bất bình đẳng về chi tiêu:
- Sự bất bình đẳng về mặt thu nhập tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng
về mặt chi tiêu trong xã hội
- 1.2.1 Bất bình đẳng về chi tiêu giữa thành thị và nông thôn:
Trang 8Bảng 3 Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng chia theo thành thị và
nông thôn
- Các hộ gia đình thành thị có mức chi tiêu bình quân đầu
người/tháng xấp xỉ 3,8 triệu đồng, trong khi các hộ nông thôn chỉ
ở mức 2,4 triệu đồng, chênh lệch giữa hai khu vực là 1,6 lần
1.2.2 Bất bình đẳng về chi tiêu giữa các vùng trong cả nước:
Trang 9- Vùng Đông Nam Bộ luôn đứng đầu cả nước với mức chi tiêu hộ gia đình cao nhất, xấp xỉ 3,9 triệu đồng/người/tháng Vùng Trung
du miền núi phía Bắc có mức chi thấp nhất, khoảng 2,1 triệu
đồng/người/tháng
- Ngoài ra mức tăng chi tiêu bình quân đầu người một tháng ở vùng Trung du miền núi phía Bắc năm 2020 chỉ tăng 5% so với 2018 trong khi ở vùng Đông Nam Bộ tăng tới 17,3% so với năm 2018
1.2.3 Bất bình đẳng về chi tiêu giữa 5 nhóm thu nhập :
- Sự chênh lệch về thu nhập tất yếu dẫn đến sự chênh lệch về chi tiêu giữa 5 nhóm thu nhập
- Sự bất bình đẳng trong chi tiêu bình quân đầu người một tháng
Trang 10quan sát được giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất lên tới 3,5 lần năm 2020, với chi bình quân đầu người một tháng ở các hộ nhóm 5 (gồm 20% dân số giàu nhất) xấp xỉ 4,8 triệu
đồng/người/tháng so với gần 1,4 triệu đồng/người/tháng ở các hộ thuộc nhóm 1 (gồm 20% dân số nghèo nhất)
2 Bất bình đẳng xã hội về giáo dục:
Tỷ lệ đi học đúng tuổi chia theo cấp học và giới, 2020
- Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2020 của ba cấp tiểu học, trung học cơ
sở và trung học phổ thông lần lượt là 98,1%, 93,4% và 76,1% Tỷ
lệ đi học đúng tuổi THPT thấpnhất trong 3 cấp phổ thông và cũng ở cấp học này tỷ lệ đi học đúng tuổi củanữ cao hơn nam (79% so với 73,5%)
- Quan sát các nhóm dân tộc cho thấy sự bất bình đẳng giáo dục, tỷ lệ
đi học đúng tuổi của trẻ em dân tộc Khmer thấp nhất trong các dân tộc, ở bậc THCS là 70,1% và tỷ lệ này giảm xuống còn 30% ở cấp THPT Một nhóm dân tộc khác có tỷ lệ đi học THPT thấp là dân tộc Mông xấp xỉ 30%
- Chi cho giáo dục bình quân ở khu vực thành thị cao gấp 2,2 lần khu vực nông thôn (10719 nghìn đồng/người/năm so với 4955 nghìn
Trang 11- Giữa nhóm giàu với nhóm nghèo, khác biệt về học vấn là rất rõ rệt, đặc biệt là ở các bậc học cao khi mà chi phí về giáo dục lớn hơn và khả năng nghỉ học để tham gia lao động của trẻ em nghèo gia tăng
- Nhóm hộ có mức thu nhập cao nhất chi hơn 15,4 triệu
đồng/người/12 tháng gấp 6,2 lần so với nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất (2,5 triệu đồng/người/12 tháng)
- Nếu xét về giới, chi tiêu cho giáo dục và đào tạo không có sự khác biệt nhiều Xét thực tế chi cho giáo dục và đào tạo theo vùng miền, lại có sự chênh lệch tương đối lớn giữa 6 vùng kinh tế, vùng có chi tiêu cho giáo dục, đào tạo cao nhất là vùng Đông Nam Bộ hơn 11,0 triệu đồng/người/12 tháng, gấp 3,6 lần so với vùng Trung du và miền núi phía Bắc (3,1 triệu đồng/người/12 tháng) Mức chi phân biệt giữa các vùng cũng phản ánh được trình độ học vấn có sự phân hóa theo vùng
3 Bất bình đẳng xã hội về y tế :
- Trong lĩnh vực y tế, bất bình đẳng giữa nhóm giàu với nhóm nghèo không thể hiện rõ do nhóm nghèo đã được Nhà nước hỗ trợ thông qua thẻ BHYT Bảo hiểm y tế đạt được độ bao phủ cao trong nhóm những người dân có khám chữa bệnh, năm 2020 có gần 95% những người đi khám chữa bệnh có bảo hiểm y tế
- Tỷ lệ người có khám chữa bệnh thấp nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (26,5%) và cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (47,8%)
- Đặc điểm giới cũng cho thấy rõ phụ nữ sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh nhiều hơn so với nam giới (40,3% so với 33,2%)
III Giải quyết bất bình đẳng :
Trang 12- Xây dựng chiến lược tăng trưởng kinh tế mới , chính sách phân phối thu nhập thích hợp
- Tạo thị trường cạnh tranh công bằng , bình đẳng
- Khuyến khích người dân làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của các nguồn lực
- Chính phủ cần có chính sách ưu tiên, đầu tư cho giáo dục ở vùng khó khăn; cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính cho hộ gia đình nghèo, giảm bớt các chi phí cho giáo dục để đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục cho người lao động nghèo, miễn hoặc giảm học phí cho các khu vực khó khăn, thực hiện cải cách giáo dục nhằm cân bằng cơ hội
- Tăng đầu tư vào nguồn lực con người và khuyến khích tạo việc làm
- Tăng đầu tư công vào những khu vực kém phát triển
- Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo và học sinh, sinh viên; hỗ trợ cho việc khám, chữa bệnh cho các vùng kinh tế khó khăn
- Cải cách thể chế pháp luật
Tài liệu tham khảo:
Trang 13Thông cáo báo chí về kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2020
Chi tiêu cho giáo dục, đào tạo của các hộ gia đình ở Việt Nam những năm gần đây
Kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2020
Xu hướng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN