TRƯỜNG THCS BẢN MÔ TẢ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Tên biện pháp: “Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về một hiện tượng vấn đề đời sống cho học sinh lớp 6 trường THCS Hoà B
Trang 1TRƯỜNG THCS
BẢN MÔ TẢ
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Tên biện pháp:
“Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống
cho học sinh lớp 6 trường THCS Hoà Bình”
Trang 2
UBND HUYỆN ĐỒNG HỶ
TRƯỜNG THCS HOÀ BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Hỷ, ngày 15 tháng 11 năm 2022
BẢN MÔ TẢ Biện pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy
- Tên biện pháp: “Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về một hiện
tượng (vấn đề) đời sống cho học sinh lớp 6 trường THCS Hoà Bình”
- Tên tác giả: Nguyễn Thu Hương
- Đơn vị công tác: Trường THCS Hoà Bình
- Lĩnh vực, đối tượng áp dụng biện pháp: môn Ngữ văn 6 (Kết nối tri thức), học sinh lớp 6
- Thời gian áp dụng biện pháp: năm học 2022-2023
- Nội dung biện pháp
I Lý do hình thành biện pháp
1 Cơ sở lí luận
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đã nhận định Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha, Nội dung môn Ngữ văn mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hoá, đạo đức, triết học, liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như Lịch sử, Địa lí, Nghệ thuật, Giáo dục công dân,
Trang 3Ngoại ngữ, Tự nhiên và Xã hội, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp,… Môn Ngữ văn cũng liên quan mật thiết với cuộc sống; giúp học sinh biết quan tâm, gắn bó hơn với đời sống thường nhật, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Ở lớp 6 học sinh cần đạt yêu cầu về năng lực ngôn ngữ là: viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm, thuyết minh và bước đầu biết viết bài văn nghị luận (viết được văn bản nghị luận về những vấn đề cần thể hiện suy nghĩ và ý kiến cá nhân, đòi hỏi những thao tác lập luận tương đối đơn giản, bằng chứng dễ tìm kiếm)
2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay Bộ GDĐT đã và đang cải cách cả về nội dung và phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn theo hướng hiện đại hơn, phù hợp với tình hình mới Trong đó có nội dung giáo dục và rèn luyện cho học sinh kỹ năng phản biện xã hội Để làm được điều này ngoài trách nhiệm cung cấp cho học sinh kiến thức tổng hợp còn phải có định hướng đúng cho các em về tư tưởng và cách trình bày
ý kiến của mình Đó cũng là một phần trách nhiệm của giáo viên dạy môn Ngữ văn Trong đó quan trọng nhất là phân môn Tập làm văn, cụ thể là kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống
Đối với học sinh lớp 6, việc tạo lập các văn bản tự sự, miêu tả và biểu cảm cơ bản là khá quen thuộc vì học sinh đã được làm quen ở cấp Tiểu học Trong chương trình Ngữ văn 6 (Kết nối tri thức), học kì I học sinh được tiếp tục rèn luyện về kĩ năng viết văn tự sự, miêu tả và biểu cảm, học kì II nâng cao kĩ năng viết văn tự sự, thuyết minh và bước đầu làm quen với văn nghị luận
Dạng văn nghị luận sẽ được học sinh rèn luyện, nâng cao hơn nữa trong các năm học cấp THCS, cấp THPT và là cơ sở để có thể làm tốt các bài kiểm tra cuối kì, thi tuyển sinh vào lớp 10, THPT Quốc gia Do đó việc trang bị kiến thức, kĩ năng nền tảng ngay từ bây giờ là rất quan trọng
Xuất phát từ thực tế giảng dạy trong năm học 2021-2022, tôi nhận thấy
khi học đến bài 8 (Khác biệt và gần gũi) học sinh rất lúng túng khi gặp dạng văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống (Viết bài văn trình bày ý kiến về
một hiện tượng (vấn đề) mà em quan tâm; SGK Ngữ văn, tập hai, trang 66) Khi
Trang 4làm dạng văn này học sinh được trình bày suy nghĩ riêng, được hiểu biết thêm
về những hiện tượng (vấn đề) của cuộc sống và có thể cùng nhiều người bàn luận về các hiện tượng (vấn đề) “nhức nhối” của xã hội Nhưng bên cạnh đó, một số học sinh thường cảm thấy khó khăn, ngại ngần trong việc làm văn khi không hứng thú với đề văn, không có ý tưởng để xây dựng dàn ý, không tìm được dẫn chứng cho bài viết Điều này khiến nhiều học sinh lúng túng nếu chưa hiểu đề, chưa nắm vững kỹ năng làm bài, chưa có vốn sống thực tế Thậm chí có học sinh còn cảm thấy loại đề này khô khan, không có cảm hứng khi viết văn
Đây là một yêu cầu khó đối với học sinh lớp 6, đòi hỏi học sinh phải thể hiện được suy nghĩ, ý kiến cá nhân, bước đầu biết vận dụng các thao tác lập luận
và đưa ra luận chứng Thực tế thời lượng dành cho việc rèn kĩ năng viết này trong phân phối chương trình Ngữ văn 6 còn ít (4 tiết) nên bản thân giáo viên và học sinh cũng chưa có điều kiện để rèn luyện nhiều về dạng văn này
Trường tôi đang giảng dạy là một ngôi trường ở miền núi, đa số học sinh
là con em nông thôn, trình độ tiếp thu còn rất hạn chế, nhiều học sinh còn rụt rè, nhút nhát, chưa dám bày tỏ suy nghĩ, ý kiến cá nhân Bên cạnh đó phụ huynh học sinh chưa quan tâm sát sao về việc học tập của con em ở nhà, chưa tạo cơ hội cho con thể hiện suy nghĩ, ý kiến của mình trước những vấn đề thường gặp hàng ngày ở gia đình mà hay áp đặt suy nghĩ, ý kiến của người lớn cho con vì cho rằng con còn trẻ con
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã dành thời gian để đọc tài liệu, nghiên cứu, trao đổi với các đồng nghiệp và đặc biệt là những kinh nghiệm sau nhiều năm
giảng dạy tôi mạnh dạn viết ra biện pháp “Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị
luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống cho học sinh lớp 6 trường THCS Hoà Bình” Với biện pháp này, tôi mong muốn sẽ giúp học sinh có kĩ năng viết
văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống, tự tin bày tỏ suy nghĩ, ý kiến
cá nhân trước những hiện tượng (vấn đề) thường gặp hàng ngày, từ đó giúp học sinh hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn này nói chung và việc viết văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống nói riêng
II Nội dung biện pháp
Trang 51 Hướng dẫn học sinh nhận diện kiểu bài
Đề nghị luận xã hội chia thành hai kiểu bài: Nghị luận về tư tưởng đạo lý
và nghị luận về hiện tượng đời sống Tôi đã giúp học sinh nhận diện từng kiểu bài bằng cách để học sinh liệt kê các vấn đề đáng quan tâm, bàn luận trong xã hội hiện nay Từ việc chia nhóm đối tượng các ví dụ học sinh vừa liệt kê tôi đưa
ra khái niệm về từng kiểu bài:
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người Thường là vấn đề được đề cập trong câu tục ngữ, câu danh ngôn, câu thơ
Ví dụ:
Đề 1: Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về truyền thống “ Tôn sư trọng
đạo” trong xã hội ta hiện nay.
Đề 2:
“Một cây làm chẳng nên con
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Viết một bài văn nghị luận bày tỏ ý kiến của anh (chị) về câu nói trên
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng
có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ Thường là vấn đề “nóng” đang được xã hội quan tâm
Ví dụ:
Đề 1 : Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay?
Đề 2: Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.
Sau khi đưa ra một vài đề văn để học sinh nhận diện, tôi nhấn mạnh vào kiểu đề nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống mà học sinh cần rèn luyện trong tiết học
Trang 62 Các bước hướng dẫn học sinh viết bài văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống
Bước 1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
Bước 2 Hướng dẫn học sinh tìm ý, lập dàn ý cho bài văn
Bước 3 Viết bài văn
Bước 4 Kiểm tra và sửa chữa
3 Một số hình thức rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống cho học sinh lớp 6
3.1 Rèn kĩ năng trong giờ dạy lí thuyết
Rèn luyện kĩ năng trong giờ lí thuyết có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh lựa chọn đề tài
Ở bước này học sinh cần xác định được đề tài nghị luận Đề tài có thể được ấn định (đề kiểm tra, đề thi) hoặc do học sinh lựa chọn Đối với học sinh lớp 6, tôi định hướng học sinh lựa chọn các hiện tượng gần gũi với lứa tuổi, với thực tế học tập, rèn luyện như: vứt rác bừa bãi, lơ là học tập, nghiện game, bắt nạt bạn bè, vi phạm nội quy, không làm bài tập về nhà, nói tục chửi bậy… để học sinh làm quen dần với dạng văn này
Bước 2: Hướng dẫn học sinh tìm ý, lập dàn ý cho bài văn
Trong SGK Ngữ văn 6 (Kết nối tri thức) tập hai, trang 69 đã có hướng dẫn
học sinh cách tìm ý qua các câu hỏi:
- Cần hiểu như thế nào về hiện tượng (vấn đề) này?
- Những khía cạnh cần bàn bạc
- Bài học rút ra từ vấn đề bàn luận
Trang 7Ảnh chụp lại sách giáo khoa Ngữ văn 6, tập hai
Tuy nhiên tôi thấy những gợi ý này còn chung chung, khiến học sinh khó hình dung được cần phải bàn bạc về những khía cạnh nào Do đó tôi hướng dẫn học sinh tìm ý bằng những gợi ý cụ thể hơn (phiếu học tập) như sau:
PHIẾU HỌC TẬP
Nhiệm vụ: tìm ý cho bài văn Nghị luận về một hiện tượng (vấn đề) đời sống
Hiện tượng (vấn đề) đó được hiểu
là gì/như thế nào?
Biểu hiện cụ thể của vấn đề qua
hiện tượng đời sống như thế nào?
(nêu dẫn chứng thực tế cuộc sống)
Nguyên nhân nào dẫn đến hiện
tượng (vấn đề) ấy?
Hiện tượng (vấn đề) đó dẫn đến kết
quả/ hậu quả gì?
Làm thế nào để phát huy kết quả/
hạn chế hậu quả của hiện tượng
(vấn đề) này?
Bài học rút ra từ vấn đề bàn luận
Sau khi tìm được ý, học sinh sắp xếp các ý đó theo trình tự hợp lý ở các phần mở bài, thân bài, kết bài Trong SGK Ngữ văn 6 (Kết nối tri thức) tập hai, trang 69 đã có gợi ý cho học sinh dàn ý chung:
Trang 8* Mở bài: Giới thiệu hiện tượng (vấn đề) cần bàn luận
* Thân bài: Đưa ra ý kiến bàn luận
+ Nêu ý 1 (lí lẽ, bằng chứng)
+ Nêu ý 2 (lí lẽ, bằng chứng)
+ Nêu ý 3 (lí lẽ, bằng chứng)
+ …
* Kết bài: Khẳng định lại ý kiến của bản thân
Ảnh chụp lại sách giáo khoa Ngữ văn 6, tập hai
Trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy khi nhìn vào dàn ý này học sinh sẽ thấy mơ hồ ở phần thân bài, học sinh không biết nêu ý 1, nêu ý 2… là sẽ nêu nội dung gì Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho dạng bài này, tôi hướng
dẫn học sinh ghi nhớ các từ khoá: Giải thích, hiện trạng, nguyên nhân, kết
quả/hậu quả, giải pháp, bài học Cụ thể:
* Mở bài: Giới thiệu hiện tượng (vấn đề) cần bàn luận
* Thân bài:
- Giải thích: cách hiểu về hiện tượng (vấn đề) cần bàn luận.
- Hiện trạng: nêu lên những biểu hiện cụ thể của vấn đề trong thực tế.
- Nguyên nhân: lí giải những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (vấn đề).
- Kết quả/hậu quả: trình bày những kết quả/hậu quả của hiện tượng (vấn đề).
Trang 9- Giải pháp: cách để phát huy mặt tích cực/ hạn chế mặt tiêu cực của hiện
tượng (vấn đề)
- Ý kiến bản thân, rút ra bài học
* Kết bài: Khẳng định lại ý kiến của bản thân
Ví dụ:
Đề bài: Viết bài văn trình bày ý kiến của em về hiện tượng bắt nạt trong
trường học hiện nay
Học sinh tìm các ý chính (luận điểm) cho bài viết của mình bằng cách trả lời các câu hỏi theo phiếu học tập:
PHIẾU HỌC TẬP
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn Trình bày ý kiến của em về hiện tượng bắt nạt
trong trường học hiện nay
Thế nào là bắt nạt?
Biểu hiện cụ thể của bắt nạt?
Nguyên nhân nào dẫn đến việc bắt nạt?
Hậu quả của hiện tượng này?
Cách để hạn chế hậu quả?
Rút ra bài học
Tương tự như vậy học sinh sẽ tìm ý cho các đề văn khác
Phiếu tìm ý của học sinh viết
Trang 10Sau khi tìm được ý, học sinh tiến hành lập dàn ý theo bố cục:
* Mở bài: Giới thiệu hiện tượng bắt nạt giữa các học sinh trong trường học hiện nay
* Thân bài:
- Giải thích: Bắt nạt là tình trạng học sinh cố ý xúc phạm danh dự, nhân
phẩm của nhau, nặng hơn là việc các bạn học sinh dùng vũ lực, kéo bè kéo phái
để đánh nhau
- Hiện trạng: Bắt nạt được biểu hiện với nhiều trạng thái khác nhau trong
trường học như: học sinh cũ đe doạ những học sinh mới, học sinh lớp trên bắt nạt học sinh lớp dưới, trấn lột đồ dùng học tập, kì thị, nói xấu thậm chí xích mích, đánh nhau Ví dụ…
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ quan: do ý thức của các bạn học sinh còn kém, muốn thể hiện bản thân mình hơn người
+ Nguyên nhân khách quan: do sự quản lí còn lỏng lẻo của gia đình và nhà trường, chưa định hướng cho các em tư duy đúng đắn dẫn đến những hành động lệch lạc
- Hậu quả:
+ Hình thành thói hung hăng, tính cách không tốt cho người thực hiện hành vi bạo lực; gây tổn hại, ảnh hưởng về sức khỏe, về tâm lí cho người bị hành hung
+ Gây ra những hình ảnh xấu cho học sinh, nhà trường và gia đình
- Giải pháp:
+ Mỗi học sinh cần có nhận thức đúng đắn, sống chan hòa với mọi người, hướng đến những điều tốt đẹp, không dùng bạo lực để giải quyết vấn đề
+ Gia đình cần quan tâm đến con em của mình nhiều hơn, giáo dục về ý thức, tư duy cho các em
+ Nhà trường cần có những biện pháp nghiêm khắc để xử lí những hành
vi bạo lực học đường để răn đe và không cho các em tái phạm
Trang 11- Ý kiến bản thân, rút ra bài học: Bắt nạt giữa các học sinh là hiện tượng
không tốt và gây ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Mỗi học sinh cần có nhận thức đúng đắn, sống chan hòa với mọi người, bạn bè xung quanh, hướng đến những điều tốt đẹp, không dùng bạo lực để giải quyết vấn đề
* Kết bài: Chúng ta cần chung tay xây dựng một thói quen học tập thật tốt
và rèn luyện đạo đức cho bản thân để trở thành một người chủ nhân thực thụ của đất nước, góp phần đẩy lùi hiện tượng bắt nạt giữa các học sinh
Học sinh áp dụng tương tự với các đề văn khác
Dàn ý học sinh lập
3.2 Rèn kĩ năng trong giờ thực hành
Giờ này tôi hướng dẫn học sinh bám sát dàn ý để viết bài Khi viết cần chú ý các yêu cầu:
- Nêu được hiện tượng (vấn đề) cần bàn luận
- Thể hiện được ý kiến của người viết
- Dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc
- Mỗi luận điểm trong dàn ý phải trình bày thành một đoạn văn (đảm bảo yêu cầu về hình thức và nội dung của một đoạn văn)
Ở phần này tôi chú trọng rèn học sinh hai kĩ năng: Nêu luận điểm, trình bày luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm; Kĩ năng chuyển đoạn, liên kết đoạn
Trang 123.2.1 Kĩ năng nêu luận điểm, trình bày luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm
Để nêu được luận điểm, học sinh cần tạo được câu chủ đề Trong một đoạn văn nghị luận, câu chủ đề phải viết cho thật gọn gàng, rõ ý Vị trí của câu chủ đề có thể ở đầu đoạn văn (diễn dịch) hoặc ở cuối đoạn văn (quy nạp)…
Mỗi luận điểm chỉ thực sự sáng tỏ và trở nên đáng tin cậy khi nó được bảo đảm bằng những lí lẽ (luận cứ) và chứng cứ (luận chứng) xác thực Các luận cứ cũng cần sắp xếp theo trật tự hợp lí, có hệ thống để làm sáng tỏ luận điểm đã nêu ra Việc phối hợp giữa nêu luận điểm và trình bày luận cứ có thể theo nhiều cách khác nhau: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành, tổng – phân – hợp Tuy nhiên, đối với học sinh lớp 6 tôi chỉ tập trung vào hai dạng phổ biến và dễ tập làm hơn cả là diễn dịch và quy nạp
Ví dụ:
Đề bài: Viết bài văn trình bày ý kiến của em về hiện tượng bắt nạt trong
trường học hiện nay
Ví dụ đoạn triển khai luận điểm hiện trạng: Bắt nạt được biểu hiện với
nhiều trạng thái khác nhau trong trường học như: học sinh cũ đe doạ những học sinh mới, học sinh lớp trên bắt nạt học sinh lớp dưới, trấn lột đồ dùng học tập, kì thị, nói xấu thậm chí xích mích, đánh nhau Bạn bè ghen ghét, đố kị nhau cũng lôi nhau ra đánh; mâu thuẫn, xích mích nhỏ cũng đánh nhau, chửi nhau thậm tệ Việc này không chỉ diễn ra với các học sinh nam mà còn có ở các học sinh nữ, ví dụ tại Thừa Thiên Huế, năm 2021 xảy ra 2 vụ bạo lực; trong đó, 1 vụ liên quan giữa 2 nữ sinh Trường THCS Duy Tân (TP Huế) và Trường THCS Thủy Dương (thị xã Hương Thủy), 1 vụ giữa học sinh nữ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng (Huế).
Học sinh áp dụng để viết các luận điểm khác trong bài văn và áp dụng với các đề văn khác: