Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại việt nam
Trang 1NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH HOÀN TẤT ĐƠN HÀNG (FULFILLMENT) TẠI CÁC TẬP ĐOÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ LỚN TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH HOÀN TẤT ĐƠN HÀNG TRONG
1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển thương mại điện tử 15Thương mại điện tử bắt nguồn từ một tiêu chuẩn cho việc trao đổi các tài liệukinh doanh, chẳng hạn như đơn đặt hàng hoặc hóa đơn, giữa các nhà cung cấp
và khách hàng doanh nghiệp của họ Những nguồn gốc đó bắt nguồn từ cuộcphong tỏa Berlin 1948–49 và không vận với hệ thống đặt hàng chủ yếu quatelex Nhiều ngành công nghiệp đã xây dựng dựa trên hệ thống đó trong nhữngthập kỷ tiếp theo trước khi tiêu chuẩn chung đầu tiên được xuất bản vào năm
1975 Tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử giữa máy tính với máy tính (EDI) đủlinh hoạt để xử lý hầu hết các giao dịch kinh doanh điện tử đơn giản Với sựchấp nhận rộng rãi của Internet và sự ra đời của World Wide Web vào năm
1991 và trình duyệt đầu tiên để truy cập vào nó vào năm 1993, hầu hết thươngmại điện tử đã chuyển sang Internet Gần đây hơn, với sự phổ biến toàn cầu củađiện thoại thông minh và khả năng truy cập Internet băng thông rộng nhanh,nhiều thương mại điện tử đã chuyển sang thiết bị di động, bao gồm cả máy tínhbảng, máy tính xách tay và các sản phẩm đeo được như đồng hồ 151.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử 17
1.1.4 Các điều kiện để phát triển thương mại điện tử 21
1.2 Khái quát chung về mô hình hoàn tất đơn hàng 28
Trang 21.2.1 Khái niệm, đặc điểm về hoàn tất đơn hàng 281.2.2 Vai trò của dịch vụ hoàn tất đơn hàng trong hoạt động thương mại điện
1.2.4 Quy trình triển khai dịch vụ hoàn tất đơn hàng 33
2.1.1.2 Hoạt động thương mại điện tử của Amazon 472.1.2 Quy trình thực hiện mô hình hoàn tất đơn hàng của Amazon 482.1.2.1 Sơ lược quy trình hoàn tất đơn hàng 492.1.2.2 Phân tích những yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình 522.1.3 Thành tựu của Amazon nhờ ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng 522.2 Thực trạng tổ chức mô hình hoàn tất đơn hàng tại Alibaba 542.2.1 Giới thiệu về tập đoàn Alibaba và hoạt động thương mại điện tử của
Trang 32.1.1.2 Hoạt động thương mại điện tử của Alibaba 552.1.2 Quy trình thực hiện mô hình hoàn tất đơn hàng của Alibaba 582.1.2.1 Sơ lược quy trình hoàn tất đơn hàng 582.1.2.2 Phân tích những yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình 602.1.3 Thành tựu của Alibaba nhờ ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng 632.2 Thực trạng tổ chức mô hình hoàn tất đơn hàng tại Rakuten 642.2.1 Giới thiệu về tập đoàn Rakuten và hoạt động thương mại điện tử của
2.1.1.2 Hoạt động thương mại điện tử của Rakuten 662.1.2 Quy trình thực hiện mô hình hoàn tất đơn hàng của Rakuten 682.1.2.1 Sơ lược quy trình hoàn tất đơn hàng 682.1.2.2 Phân tích những yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình 692.1.3 Thành tựu của Rakuten nhờ ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng 70
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP
3.1 Thực trạng triển khai mô hình hoàn tất đơn hàng tại các doanh nghiệp thương
3.1.1 Tổng quan về thị trường thương mại điện tử Việt Nam 703.1.2 Nghiên cứu tình hình ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng tại các doanh
3.1.3 Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động hoàn tất đơn hàng của các doanh
3.2 Xu hướng phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam và sự cần thiết củaviệc ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng đối với các doanh nghiệp thương mại
3.2.1 Xu hướng phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam 823.2.2 Sự cần thiết của việc ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng đối với cácdoanh nghiệp thương mại điện tử tại Việt Nam 843.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc ứng dụng mô hình hoàn tất hàng tại
3.3.1 Bài học từ những yếu tố bên trong doanh nghiệp 863.3.2 Bài học từ những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 863.4 Định hướng phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam trong 10 năm tới(phân tích từ các chính sách của chính phủ VN) 873.5 Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển mô hình hoàn tất đơn hàng củacác doanh nghiệp thương mại điện tử tại Việt Nam 903.5.1 Giải pháp đối với doanh nghiệp thương mại điện tử 903.5.2 Kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước liên quan 913.5.3 Kiến nghị đối với Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) 93
Trang 4KẾT LUẬN 93
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng thương mại điện tử trong ngành bán lẻ tiếp tục tăng trưởng với tốc độchóng mặt và ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với các bên liên quan khác nhau.Thương mại điện tử đóng vai trò quan trọng trong ngành bán lẻ, tạo ra một kênh kinhdoanh quốc tế, dự kiến sẽ trở thành một mô hình kinh doanh chủ đạo trong sự pháttriển kinh tế toàn cầu Từ cuối năm 2019 - đầu năm 2020 với sự bùng phát của đạidịch Covid-19 đã thúc đẩy đáng kể sự phát triển của thương mại điện tử bán lẻ.Thương mại điện tử bán lẻ đã và đang ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và tạo cơhội cho các doanh nghiệp mở rộng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều thách thức vàtác động đối với các tổ chức tập trung vào kinh doanh thương mại điện tử
Theo Statista - một công ty của Đức chuyên về thị trường và dữ liệu người tiêudùng đã chỉ ra những tác động đáng kể của dịch Covid-19 tới ngành thương mại điệntử: Lượt truy cập trung bình hàng tháng trên các trang web thương mại điện tử bán lẻđược ghi nhận là 21,96 tỷ lượt truy cập toàn cầu vào tháng 6 năm 2020 so với lượttruy cập toàn cầu được báo cáo là 16,07 tỷ đồng vào tháng 1 năm 2020, thời điểm bắtđầu bùng phát dịch Covid-19 Trong khi GDP toàn cầu ghi nhận mức giảm gần 10%trong nửa đầu năm 2020 (OECD, 2020), thì thương mại điện tử vẫn cung cấp mứctăng trưởng 143% trong vòng 6 tháng Điều này là hợp lý vì “đại dịch Covid-19 xảy ratrên hầu hết các quốc gia đã buộc hàng triệu người phải ở nhà để ngăn chặn sự lây lancủa vi-rút” (Clement, 2020) Với các chính sách giãn cách và hạn chế đi lại của Chínhphủ, Khách hàng đã chuyển sang mua sắm trực tuyến cho các mặt hàng hàng ngàynhư sản phẩm gia dụng, cửa hàng tạp hóa và thực phẩm, để tránh cửa hàng tấp nậpmua bán Trong khi đó, môi trường này tạo cơ hội cho các cửa hàng bán lẻ số hóa hoạtđộng kinh doanh khi nhu cầu của khách hàng tăng lên nhanh chóng Cân bằng mới sẽ
bị dịch chuyển ra bên ngoài nhu cầu mua sắm trực tuyến tăng cao Theo lập luận củaSeetharaman (2020), “Để tận dụng cơ hội cho số hóa, các công ty cần phải linh hoạt
và nhanh chóng phát triển các khả năng có thể giúp họ tồn tại những thay đổi mà môitrường áp đặt lên họ” Với sự không chắc chắn của Covid-19, doanh nghiệp với môhình kinh doanh truyền thống buộc phải phát triển mô hình kinh doanh kỹ thuật số của
Trang 6riêng họ để tham gia vào ngành thương mại điện tử Hơn nữa, có các công ty thươngmại điện tử ban đầu cũng sẽ cải thiện công nghệ của họ để cạnh tranh trong môitrường mua sắm trực tuyến Sự phát triển sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong ngànhbán lẻ ngành công nghiệp, khi hành vi mua sắm và phong cách của khách hàng đãđược chuyển đổi thành một hệ sinh thái thuận tiện, các doanh nghiệp cũng số hóa môhình kinh doanh, cấu trúc và các cơ chế làm việc.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số BộCông Thương, dưới “sức ép” của COVID-19 đã đưa thương mại điện tử tăng trưởngmạnh mẽ, trở thành kênh mua sắm quen thuộc hơn và "cứu" doanh thu cho nhiều đơn
vị Ông Đặng Hoàng Hải, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số đánh giá,Covid-19 là chất xúc tác giúp thương mại điện tử phát triển nhanh, mạnh hơn Hiếmnước nào trong khu vực ASEAN có thương mại điện tử tăng trưởng 2 con số trong đạidịch Nhận định về thị trường thương mại điện tử, ông Nguyễn Ngọc Dũng, Chủ tịchHiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) cho biết, đại dịch làm tiến độ pháttriển ứng dụng cho thương mại điện tử từ người bán đến người mua rút ngắn lại 1-2năm so với kế hoạch đến năm 2025 Tốc độ tăng trưởng của thương mại điện tử trongcác năm gần đây khoảng 30 - 35%/năm và thời gian tới sau đại dịch sẽ là một bứctranh hoàn toàn thay đổi Theo báo cáo của hằng năm của "SYNC Southeast Asia"(SYNC Đông Nam Á) của Facebook và Công ty tư vấn Bain and Company (Mỹ), ViệtNam được dự báo sẽ là thị trường thương mại điện tử phát triển nhanh nhất ở ĐôngNam Á vào năm 2026, với tổng giá trị hàng hóa thương mại điện tử đạt 56 tỷ USD,gấp 4,5 lần giá trị ước tính vào năm 2021
Thị trường đã chứng kiến sự gia nhập của nhiều ông lớn trong những năm gầnđây, với lotte.vn và aeoneshop.com mới gia nhập vào đầu năm 2017 Năm 2018,Amazon gia nhập thị trường Việt Nam để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)Việt Nam xuất khẩu hàng hóa Tốc độ phân phối sản phẩm ngày càng quan trọng cũngnhư chất lượng đối với cả khách hàng và người bán Khi thị trường tiếp tục phát triển,ngày càng rõ ràng rằng triển vọng dài hạn của thương mại điện tử Việt Nam nằm ở sựphát triển của một hệ thống hậu cần tốt để tạo thuận lợi cho lĩnh vực này Kết nốichặng cuối cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp thương mại điện tử, nhữngngười biết rằng khách hàng mong đợi việc giao hàng nhanh chóng và đáng tin cậy
Trang 7Hiện tại, một số nền tảng thương mại điện tử như Lazada, Tiki và Grab đều có bộphận hậu cần riêng bao gồm kho bãi, đóng gói và vận chuyển Tuy nhiên, hầu hết cáccông ty tham gia vào thương mại điện tử không thể xử lý hậu cần một mình, tạo ranhu cầu đối với các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ ba (3PL), Các công ty nhưShopee và Sendo là các ví dụ về việc sử dụng các đối tác 3PL Theo Hiệp hội Doanhnghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLBA), ngành hậu cần tại Việt Nam chiếm 20đến 25% GDP với ngành này được dự đoán sẽ tăng trưởng khoảng 12% mỗi nămtrong tương lai gần Tốc độ tăng trưởng cao của ngành thương mại điện tử mang đếnnhiều cơ hội hơn cho các công ty logistics khai thác tiềm năng của thị trường Trong
đó, dịch vụ chuyển phát nhanh và logistic hướng đến thương mại điện tử là mảnh đấtmàu mỡ để đầu tư
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ và đầy tiềm năng của thị trường thương mạiđiện tử như vậy, các Doanh nghiệp đều có cơ hội để bắt nhịp và phát triển thị trườngbán lẻ trên nền thương mại điện tử, bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụkhách hàng và tối ưu các quy trình để giao hàng tận nơi một cách nhanh chóng và tối
ưu chi phí Do đó, việc tiếp cận và áp dụng các dịch vụ hoàn tất đơn hàng (fulfilment),dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ logistic là hoàn toàn cần thiết cho các chiếnlược kinh doanh lâu dài Để đảm bảo bán hàng trực tuyến đạt hiệu quả và cạnh tranhđược với các đơn vị khác, doanh nghiệp cần đảm bảo các yếu tố như: tốc độ, thời gianhoạt động và tính an toàn của trang web; đảm bảo thanh toán online một cách an toàn
và bảo mật; thời gian hoạt động của trang web ổn định; tốc độ phản hồi khách hàngnhanh chóng; giao diện dễ thao tác sử dụng; quy trình thanh toán nhanh chóng; chi phívận chuyển thấp; thời gian vận chuyển ngắn; giao hàng an toàn đảm bảo chất lượng.Trong các giải pháp nêu trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu giải pháp tối ưu trongkhâu hoàn tất đơn hàng (fulfillment) cho khách hàng, bằng cách nghiên cứu các môhình do các Tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới như Amazon, Rakuten,Alibaba từ đó áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam góp phần hoàn thiện chuỗicung ứng một cách tối ưu và hiệu quả
Trang 8Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (Fulfillment) tại các tập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới - Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tại Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thương mại điện tử đang là một trong những chủ đề nổi bật được nhắc đến trongnhững năm trở lại đây, đặc biệt là trong giai đoạn đại dịch Covid-19 bùng nổ trênnhiều quốc gia Theo nghiên cứu của Zeinab Surmanidze (2019) về vai trò của thươngmại điện tử đối với nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển trên thế giớiđược đóng góp nhờ sự phát triển của internet, không chỉ do số lượng máy tính mà còn
do sự tham gia của chúng vào mạng giúp chuyển đổi đáng kể các mối quan hệ chínhtrị và xã hội cũng như kinh tế Thương mại điện tử được coi là một công nghệ Internetcho phép bán các loại sản phẩm khác nhau trên Internet và là một loại hình kinhdoanh, được sử dụng bởi các thương hiệu nổi tiếng thế giới, cho phép các công ty đạtđược lợi thế cạnh tranh trong việc cải thiện dịch vụ khách hàng
Theo nghiên cứu của Seema Agarwal (2019) về sự phát triển của thương mạiđiện tử ở các nước đang phát triển Theo đó tác giả nhận định rằng Thương mại điện
tử được sử dụng để nâng cao hiệu quả và năng suất trong nhiều lĩnh vực và do đó đãnhận được sự quan tâm đáng kể ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, đã có một số nghi ngờ
về sự liên quan của thương mại điện tử đối với các nước đang phát triển Những trởngại trong việc gặt hái những lợi ích do thương mại điện tử mang lại thường bị đánhgiá thấp Chúng ta chỉ có thể sử dụng Thương mại điện tử khi có sẵn điện thoại vàmáy tính có kết nối Internet, nhưng những công nghệ này vẫn còn rất khan hiếm ngay
cả ở các nước đang phát triển và đang phát triển Ngoài vấn đề này, truy cập Internetvẫn còn rất tốn kém – cả về giá trị tuyệt đối và tương đối so với thu nhập bình quânđầu người Mặc dù giá máy tính cũng như Internet đã giảm đáng kể trong thập kỷ qua,nhưng chúng vẫn nằm ngoài tầm với của hầu hết người dùng cá nhân và doanh nghiệp
ở các nước đang phát triển và là rào cản trong việc áp dụng và phát triển thương mạiđiện tử ở các nước đang phát triển.Kết luận cho thấy Internet vẫn chưa phải là mộtnguồn tài nguyên có thể truy cập phổ biến ở các nước đang phát triển Hầu hết các
Trang 9quốc gia thiếu các chính sách và cơ sở hạ tầng cần thiết cho phép sử dụng rộng rãiInternet Internet có tiềm năng to lớn như một công cụ để phát triển Thương mại điện
tử có thể là một công cụ cực kỳ hữu ích ở các nước đang phát triển với điều kiện làmột số vấn đề nhất định được giải quyết và với điều kiện là chính phủ của các nướcđang phát triển chứng minh rằng họ có ý chí chính trị để loại bỏ các rào cản hiện đangcản trở việc áp dụng rộng rãi
Nghiên cứu của Rahayu và cộng sự (2016) đã phân tích các yếu tố quyết địnhcủa việc áp dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nướcđang phát triển: Đại diện là Indonesia Một cuộc khảo sát với 292 doanh nghiệp vừa
và nhỏ cho thấy phần lớn trong số họ vẫn đang ở giai đoạn đầu trong việc áp dụngthương mại điện tử Việc sử dụng thương mại điện tử của họ bị chi phối bởi các hoạtđộng tiếp thị và mua hàng “Mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường”, “tăng doanh số bánhàng”, “cải thiện giao tiếp bên ngoài”, “cải thiện hình ảnh công ty”, “cải thiện tốc độ
xử lý” và “tăng năng suất của nhân viên” được báo cáo là sáu lợi ích thương mại điện
tử hàng đầu mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ này cảm nhận được
Tại Việt Nam, theo một cuộc nghiên cứu của tác giả Lê Văn Huy (2019) phântích thực nghiệm về các yếu tố quyết định việc áp dụng thương mại điện tử trong cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi Kếtluận chính có thể được rút ra từ những kết quả thu được trong nghiên cứu này Đầutiên, các công ty chấp nhận và các công ty không sử dụng nhận thức và có mức độnhạy cảm khác nhau đối với các yếu tố thúc đẩy việc áp dụng thương mại điện tử.Điều này gợi ý rằng chính phủ Việt Nam sẽ phải phát triển nhiều loại chính sách khácnhau được thiết kế để thúc đẩy quá trình áp dụng thương mại điện tử trong các doanhnghiệp vừa và nhỏ Việc cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT-TT quốc gia và những thay đổitheo luật định liên quan đến thương mại điện tử là rất quan trọng để thực hiện các giaodịch điện tử giữa các doanh nghiệp Luật mới về thương mại điện tử năm 2012 vẫnđang ở giai đoạn dự án, sẽ cho phép giao dịch điện tử và sẽ chấp nhận giá trị của bảnchất chữ ký điện tử, do đó bảo vệ lợi ích và đảm bảo an toàn cho người mua trênInternet Cũng giống như những thay đổi này đã giúp thúc đẩy sự phát triển củathương mại điện tử ở các quốc gia phát triển, những thay đổi về cơ sở hạ tầng pháp lý
là những cân nhắc rất quan trọng trong việc thúc đẩy việc áp dụng thương mại điện tử
Trang 10giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam (Huy, 2008) Song song và ngoài dự đoán của luậtmới, các ngân hàng lớn (Ngân hàng Quốc gia, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngânhàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại, v.v.) đã bắt đầu phát hành thẻ tín dụng
và cho phép thanh toán trực tuyến, điều này cũng sẽ góp phần vào quá trình áp dụngthương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việc áp dụng và sử dụng thương mại điện
tử ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển và các nước đang trong quátrình chuyển đổi Việc áp dụng thương mại điện tử gắn liền với sự phát triển của cạnhtranh, nhưng với sự khác biệt của các nước phát triển, chưa gắn với toàn cầu hóa.Kết luận chính có thể được rút ra từ những kết quả thu được trong nghiên cứunày Đầu tiên, các công ty chấp nhận và các công ty không sử dụng nhận thức và cómức độ nhạy cảm khác nhau đối với các yếu tố thúc đẩy việc áp dụng thương mại điện
tử Điều này gợi ý rằng chính phủ Việt Nam sẽ phải phát triển nhiều loại chính sáchkhác nhau được thiết kế để thúc đẩy quá trình áp dụng thương mại điện tử trong cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Việc cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT-TT quốc gia và nhữngthay đổi theo luật định liên quan đến thương mại điện tử là rất quan trọng để thực hiệncác giao dịch điện tử giữa các doanh nghiệp Luật mới về thương mại điện tử năm
2012 vẫn đang ở giai đoạn dự án, sẽ cho phép giao dịch điện tử và sẽ chấp nhận giá trịcủa bản chất chữ ký điện tử, do đó bảo vệ lợi ích và đảm bảo an toàn cho người muatrên Internet Cũng giống như những thay đổi này đã giúp thúc đẩy sự phát triển củathương mại điện tử ở các quốc gia phát triển, những thay đổi về cơ sở hạ tầng pháp lý
là những cân nhắc rất quan trọng trong việc thúc đẩy việc áp dụng thương mại điện tửgiữa các doanh nghiệp ở Việt Nam (Huy, 2008) Song song và ngoài dự đoán của luậtmới, các ngân hàng lớn (Ngân hàng Quốc gia, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngânhàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại, v.v.) đã bắt đầu phát hành thẻ tín dụng
và cho phép thanh toán trực tuyến, điều này cũng sẽ góp phần vào quá trình áp dụngthương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việc áp dụng và sử dụng thương mại điện
tử ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển và các nước đang trong quátrình chuyển đổi Việc áp dụng thương mại điện tử gắn liền với sự phát triển của cạnhtranh, nhưng với sự khác biệt của các nước phát triển, chưa gắn với toàn cầu hóa.Thứ hai, về tổng quan nghiên cứu về dịch vụ fulfillment, nhận rằng các nghiêncứu trước đây chỉ chủ yếu tập trung phân tích tầm quan trọng và mối liên hệ giữa một
Trang 11hay một phần của quy trình hoàn tất đơn hàng tới trải nghiệm và nhu cầu của kháchhàng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh thương mại điện tử Theo Roodbergen andKolman (2016) cho rằng khi thiết kế các chiến lược hoàn tất đơn hàng cần xem xétmột cách kỹ càng các đặc tính của sản phẩm Theo Isac (2014), cần kiểm tra tác độngcủa các công tác trong quy trình hoàn tất đơn hàng tới hành vi của người tiêu dùngtrực tuyến tại đa dạng các mặt hàng khác nhau, đặc biệt chú trọng đến sự khác biệttrong các nhóm người tiêu dùng và nhóm sản phẩm.
Theo nghiên cứu của Ro (2020) về Kỳ vọng của người tiêu dùng về quy trìnhthực hiện đơn hàng: So sánh các giao dịch mua hàng trực tiếp với người tiêu dùng từgóc nhìn của Canada Nghiên cứu mở rộng phạm vi cấu trúc chất lượng dịch vụ điện
tử và dựa trên các tiêu chuẩn mong đợi của người tiêu dùng về quy trình thực hiện đơnhàng Cụ thể, nghiên cứu về việc người tiêu dùng có nhận thấy là hợp lý trong 'xử lýđơn đặt hàng' và 'quá cảnh' thời hạn giao hàng sau điểm mua hàng và điểm gửi hànghay không Bằng khung lấy mẫu bao gồm toàn bộ dân số Canada trước đây đã muasản phẩm thông qua kênh bán hàng trực tuyến được đánh giá theo các thử nghiệmthống kê khác nhau về ý nghĩa Những phát hiện của nghiên cứu này chỉ ra rằng kỳvọng của người tiêu dùng về quy trình thực hiện đơn hàng phụ thuộc vào tính đa dạngcủa sản phẩm, cùng với kênh và loại hình của người tiêu dùng Sự khác biệt thống kêtrong quá trình xử lý đơn hàng và thời gian giao hàng trong quá trình vận chuyển cũngđược tìm thấy giữa các nhóm Nghiên cứu kết luận với một số đề xuất và khuyến nghịquản lý cho nghiên cứu tiếp theo
Về quản lý hàng tồn kho và giao hàng: Đối với thị trường Việt Nam, nghiên cứucủa Thien et al (2022) về việc thiết kế hệ thống quản lý kho tại Việt Nam cho thấyKho bãi đã và đang đóng vai trò thiết yếu trong việc vận hành sản xuất cũng như dịch
vụ Do đó, các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu và phát triển các mô hìnhvận hành kho đơn giản, chi phí thấp và hiệu quả để giảm chi phí lưu trữ trong khi vẫnduy trì nhu cầu không chắc chắn.Bài báo đã hoàn thành việc nghiên cứu và cải tiếntoàn bộ hệ thống kho dựa trên tình hình thực tế và yêu cầu của doanh nghiệp Nhómnghiên cứu tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng đối với một nhà kho: thiết kế bố trínhà kho, quy trình vận hành nhà kho và hệ thống quản lý hàng tồn kho Do được thựchiện trong thời gian giãn cách xã hội nên việc tiếp cận thực tế kho hàng là rất khó
Trang 12khăn Mặc dù giải pháp đã được chuyển giao cho doanh nghiệp nhưng không thể thựchiện đánh giá cụ thể dữ liệu Dung et al (2017) nhận thấy rằng việc hoàn tất đơn hàng
có tác động gián tiếp đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng vì lòng tin là mộttrong những yếu tố đóng vai trò trung gian giữa việc hoàn tất đơn hàng và ý định hành
vi Cụ thể, bao gồm các tùy chọn giao hàng giúp xây dựng lòng tin trực tuyến, sau đóảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua hàng
Về quy trình hoàn tất đơn hàng và những ưu nhược điểm của quy trình này khingười bán lựa chọn sử dụng dịch vụ Fulfillment Theo nghiên cứu của Sun et al (2020)thông qua việc phân tích những lợi ích và rủi ro trong mô hình hoàn tất đơn hàng củaAmazon đã đưa ra những giải pháp quản lý gian hàng trên Amazon dựa trên doanh sốbán hàng, tỷ lệ trả lại sản phẩm, tính thời vụ, màu sắc và kích thước sản phẩm
Về việc xây dựng mô hình Fulfillment trong các doanh nghiệp, Heydari (2020)
đã mô tả chi tiết quy trình thực hiện đơn hàng để ứng dụng vào doanh nghiệp và đượcquản lý giữa các công ty trong chuỗi cung ứng Bài nghiên cứu cho thấy hoàn tất đơnhàng là một quá trình quan trọng trong quản lý chuỗi cung ứng, thông qua các đơn đặthàng của khách hàng sẽ đưa chuỗi cung ứng vào chuyển động, và lấp đầy chúng mộtcách hiệu quả và hiệu quả là bước đầu tiên trong việc cung cấp dịch vụ khách hàng.Tuy nhiên, quá trình thực hiện đơn hàng bao gồm nhiều bước Đó là về việc thiết kếmột mạng lưới và một quy trình cho phép một công ty đáp ứng các yêu cầu của kháchhàng trong khi giảm thiểu tăng chi phí được giao Điều này liên quan đến nhiều thứhơn là hậu cần, và nó cần được thực hiện theo chức năng chéo và với sự phối hợp củacác nhà cung cấp và khách hàng chính Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình fulfillmentkhông chỉ phụ thuộc vào yếu tố từ bản thân doanh nghiệp mà tại mỗi quốc gia, môhình này cũng cần điều chỉnh để thích hợp với tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa vàhành vi, tâm lý của người tiêu dùng của mỗi khu vực Đặc biệt đối với Việt Nam, sốlượng các bài nghiên cứu về mô hình này còn hạn chế, do vậy việc nghiên cứu các môhình hoàn tất đơn hàng từ các sàn thương mại điện tử quốc tế để áp dụng cho doanhnghiệp Việt Nam đã khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây
Trang 133 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) tạicác Tập đoàn thương mại điện tử lớn như Amazon, Alibaba và Rakuten, từ đó đưa ranhững giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam dựatrên những mô hình này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
(i) Dựa trên cơ sở của các bài nghiên cứu đến nay, tác giả hệ thống hóa các lýluận về mô hình hoàn tất đơn hơn hàng trong thương mại điện tử;
(ii) Nghiên cứu các mô hình hoàn tất đơn hàng tại các Tập đoàn lớn nhưAmazon, Alibaba và Rakuten;
(iii) Bằng việc phân tích thực trạng áp dụng mô hình hoàn tất đơn hàng ở ViệtNam, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả kinh doanh cho các doanhnghiệp thông qua những mô hình hoàn tất đơn hàng này, từ đó có các kiến nghị phùhợp đến các cơ quan có liên quan
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình hoàn tất đơn hàng
tại ba sàn thương mại điện tử Amazon, Alibaba, Rakuten và giải pháp áp dụng môhình này cho các doanh nghiệp Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về mô hình hoàn tất đơn hàng trong
thương mại điện tử, việc triển khai mô hình này của các Tập đoàn thương mại điện tửAmazon, Alibaba và Rakuten, đánh giá triển vọng của các doanh nghiệp Việt Namtrong việc ứng dụng mô hình hoàn tất đơn hàng vào chuỗi cung ứng
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, phương pháp luận được sử dụng trongnghiên cứu này là:
Phương pháp nghiên cứu tình huống: Tác giả sử dụng các bài học được nghiêncứu từ mô hình hoàn tất đơn hàng của các Tập đoàn thương mại điện tử Amazon,Alibaba và Rakuten để làm cơ sở nhằm đưa ra những giải pháp cho các doanh nghiệpViệt Nam trong việc áp dụng hiệu quả mô hình này
Trang 14Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, và tổng hợp thông tin từ các nguồnsách, báo, tạp chí, trang web, các báo cáo của doanh nghiệp, tổ chức thống kê, tổ chứcchính phủ và các đề tài nghiên cứu từ trước đến nay.
7 Kết cấu khóa luận
Chương 1: Tổng quan về mô hình hoàn tất đơn hàng trong thương mại điện tửChương 2: Thực trạng áp dụng mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) của cáctập đoàn thương mại điện tử lớn trên thế giới
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tạiViệt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH HOÀN TẤT ĐƠN HÀNG
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái quát chung về thương mại điện tử
1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển thương mại điện tử
Thương mại điện tử bắt nguồn từ một tiêu chuẩn cho việc trao đổi các tài liệukinh doanh, chẳng hạn như đơn đặt hàng hoặc hóa đơn, giữa các nhà cung cấp vàkhách hàng doanh nghiệp của họ Những nguồn gốc đó bắt nguồn từ cuộc phong tỏaBerlin 1948–49 và không vận với hệ thống đặt hàng chủ yếu qua telex Nhiều ngànhcông nghiệp đã xây dựng dựa trên hệ thống đó trong những thập kỷ tiếp theo trước khitiêu chuẩn chung đầu tiên được xuất bản vào năm 1975 Tiêu chuẩn trao đổi dữ liệuđiện tử giữa máy tính với máy tính (EDI) đủ linh hoạt để xử lý hầu hết các giao dịchkinh doanh điện tử đơn giản Với sự chấp nhận rộng rãi của Internet và sự ra đời củaWorld Wide Web vào năm 1991 và trình duyệt đầu tiên để truy cập vào nó vào năm
1993, hầu hết thương mại điện tử đã chuyển sang Internet Gần đây hơn, với sự phổbiến toàn cầu của điện thoại thông minh và khả năng truy cập Internet băng thôngrộng nhanh, nhiều thương mại điện tử đã chuyển sang thiết bị di động, bao gồm cảmáy tính bảng, máy tính xách tay và các sản phẩm đeo được như đồng hồ
Thương mại điện tử đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày và cáchthức hoạt động của doanh nghiệp và chính phủ Thương mại được tiến hành trên thịtrường điện tử (hoặc không gian thị trường) và trong chuỗi cung ứng hoạt động trênInternet-Web Các thị trường định hướng người tiêu dùng bao gồm các trung tâmthương mại điện tử lớn (chẳng hạn như Amazon), nền tảng đấu giá giữa người tiêudùng với người tiêu dùng (ví dụ eBay), các nhà bán lẻ đa kênh (chẳng hạn như L.L.Bean) và hàng triệu nhà bán lẻ điện tử Alibaba và các công ty khác đã tạo ra các thịtrường khổng lồ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, gọi là nền kinh tế chia sẻ chophép sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giống như Airbnb đã làm với dịch vụ cho thuênhà ở tư nhân trực tuyến Khả năng truy cập gần như tức thời vào các dịch vụ đượccung cấp bởi các nền tảng theo yêu cầu, chẳng hạn như vận chuyển (ví dụ: Uber), tàinguyên tính toán và lưu trữ do các nhà cung cấp dịch vụ đám mây cung cấp cũng như
Trang 16tư vấn y tế và pháp lý Việc tùy chỉnh hàng loạt hàng hóa được bán trực tuyến, chẳnghạn như quần áo và xe cộ, đã trở nên phổ biến Các loại tiền điện tử (hoặc tiền điện tử)như Bitcoin được sử dụng làm phương tiện thanh toán Chuỗi cung ứng bán vĩnh viễncho phép một công ty trung tâm (chẳng hạn như Dell) bao quanh mình với các nhàcung cấp thực hiện hầu hết các nhiệm vụ sản xuất và cung cấp các hàng hóa và dịch
vụ khác cho công ty trung tâm
Các trang mạng xã hội, chẳng hạn như Facebook, củng cố rất nhiều mối quan
hệ cá nhân và là trang web của cái gọi là thương mại xã hội, được thúc đẩy bởi các ýkiến và đánh giá được chia sẻ bởi những người tham gia dưới dạng truyền miệng điện
tử Các cộng đồng trực tuyến gắn kết những người tham gia muốn chia sẻ kiến thức,tạo dựng các mối quan hệ lâu dài hoặc thể hiện bản thân trên một diễn đàn rộng lớn.Các cộng đồng đó đã trở thành một nguồn đồng sáng tạo giá trị mạnh mẽ bởi các cánhân, những người cùng nhau và trong một khoảng thời gian dài, chẳng hạn như sảnxuất phần mềm nguồn mở hoặc liên tục bổ sung một bách khoa toàn thư trực tuyến
Vào cuối năm 2019 - đầu năm 2020, với sự bùng phát của dịch bệnh Covid-19trên hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thay đổi cách mọi người sống cuộc sốnghàng ngày của họ và cách áp dụng kinh tế và thương mại Đại dịch toàn cầu đã ảnhhưởng đáng kể đến các hoạt động kinh doanh và tăng trưởng kinh tế theo hướng tiêucực hoặc tích cực (Chung, 2015) Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến động lực củakinh tế học và khiến kinh tế thế giới suy giảm nghiêm trọng Hệ thống thương mại đãsụp đổ và rất nhiều doanh nhân đã tuyên bố phá sản Nhưng trong quá trình này,thương mại điện tử là một trong những ngành chịu tác động tích cực
Đại dịch Covid-19 đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ môi trường vật lý sangmôi trường ảo Do mọi người tránh tiếp xúc thân thể, áp đặt lệnh giới nghiêm, nhữngnơi đóng cửa trong một thời gian nhất định hoặc hoạt động một phần, giao dịch vật lý
đã đi vào bế tắc Đặc biệt, ngành bán lẻ là một trong những ngành bị ảnh hưởng nặng
nề nhất bởi dịch bệnh bởi các nguyên nhân như lệnh giới nghiêm và các biện pháp,chuỗi cung ứng bị gián đoạn và chậm lại Song song với sự phát triển của công nghệ,thị trường thế giới đã trở nên phổ biến và tất cả các loại giao dịch thương mại có thểđược thực hiện bằng điện tử và trong một thời gian ngắn Với sự chuyển đổi sang xãhội thông tin, sự phát triển của khái niệm tổ chức ảo, thương mại điện tử phổ biến
Trang 17hơn Sự trỗi dậy của thương mại điện tử đã đến một điểm không thể bỏ qua và thươngmại điện tử đã củng cố những nhược điểm tiêu cực tiềm ẩn của Covid-19 Ngoài ra, sựthâm nhập kỹ thuật số đã và đang trao quyền cho thương mại điện tử Nói cách khác,nhiều hoạt động chúng ta thực hiện khi tiếp xúc với nhau đã bắt đầu chuyển sang môitrường kỹ thuật số Việc sử dụng đồng bộ các thiết bị kỹ thuật số và sử dụng thươngmại điện tử đã tăng lên đáng kể trong 20 năm qua
Hậu Coid-19, thương mại điện tử đã đạt được những thành tựu đáng kể songxung không ít thách thức khi bối cảnh thương mại điện tử ngày càng cạnh tranh hơn,Theo báo cáo của Statista (2022), thương mại điện tử sẽ chiếm 20,4% doanh số bán lẻtoàn cầu vào cuối năm 2022, tăng từ mức chỉ 10% vào 5 năm trước Nói cách khác,không gian thương mại điện tử đang trở nên đông đúc hơn Ngày càng có nhiều doanhnghiệp thương mại điện tử vươn ra toàn cầu để vượt qua các nút thắt tăng trưởng, sựcạnh tranh và thu hút nhân tài ở một thị trường xa lạ sẽ đặt ra những thách thức đốivới ban lãnh đạo và các chuỗi cung ứng xuyên biên giới cũng có thể khó quản lý hơn.Thách thức đối với ngành thương mại điện tử sẽ càng ngày càng lớn hơn và đòi hỏicác doanh nghiệp phải ngày càng đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường và sựphát triển của thương mại điện tử toàn cầu
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử
Khái niệm thương mại điện tử:
Định nghĩa về Thương mại điện tử (thương mại điện tử) đã được cập nhật qua 40năm khi công nghệ internet đang phát triển với tốc độ chóng mặt Thương mại điện tửđược giới thiệu lần đầu tiên bởi Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến thương mại ở Hoa
Kỳ vào năm 1969 (Firebear, 2020) Nó biểu thị dịch vụ điện tử của các giao dịch kinhdoanh với các công nghệ như trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và chuyển tiền điện tử(EFT) (Dinodia and Tiwari, 2013) Những công nghệ này cho phép chuyển giao thôngtin thương mại giữa doanh nghiệp và khách hàng
Kể từ những năm 1990, thương mại điện tử đã bắt đầu bao gồm các công nghệnhư hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữliệu ngoài việc mang lại trải nghiệm tốt hơn (Abdullah, 2018) Những công nghệ nàythiết lập cơ sở hạ tầng chuyên sâu cho các phân tích kinh doanh ngày nay Với sự tiến
Trang 18bộ của công nghệ kỹ thuật số, một loạt thương mại điện tử được giao dịch với “cáccông nghệ như thương mại di động, chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi cung ứng, tiếpthị qua internet, xử lý giao dịch trực tuyến, Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), hệ thốngquản lý hàng tồn kho và dữ liệu tự động hệ thống thu gom” (Shahriariet al., 2015) từnhững năm 2000
Ngày nay, thương mại điện tử triển khai trong bốn phân khúc thị trường chính:
“doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người tiêu dùng, người tiêu dùngvới người tiêu dùng và người tiêu dùng với doanh nghiệp” (Dinodia and Tiwari,2013) Thương mại điện tử đang chuyển đổi dần dần và vĩnh viễn cấu trúc của nhiềuloại hình kinh doanh trong các phân khúc thị trường này Khi thương mại điện tử pháttriển theo thời gian, Tổ chức Thương mại Thế giới định nghĩa thương mại điện tử là
“thương mại điện tử được hiểu là sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa
và dịch vụ bằng phương tiện điện tử.” (Lee, 2016), đã được Đại Hội đồng thông qua
Đặc điểm của thương mại điện tử:
So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có những đặc điểm sau:Thứ nhất, không trực tiếp tiếp xúc Từ khi xuất hiện mạng Internet thì việc traođổi thông tin đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượngngười tham gia ngày càng tăng Những người tham gia có thể là các cá nhân hoặcdoanh nghiệp, có thể đã biết hoặc hoàn toàn chưa biết bao giờ Họ gặp gỡ nhau trênnhững chợ ảo trên mạng để thực hiện khảo hàng và mua bán
Thứ hai, khái niệm biên giới dần được xóa mờ Thương mại điện tử phát triểncàng nhanh thì máy tính cá nhân càng trở thành một công cụ hữu dụng cho doanhnghiệp hướng ra thị trường toàn cầu Không chỉ có các công ty hàng đầu thế giới tiếpcận thị trường này mà ngay cả các công ty mới khởi nghiệp cũng có mạng lưới tiêuthụ và phân phối không biên giới ngay chỉ bằng một cú click chuột Với thương mạiđiện tử, các doanh nhân có thể bắt đầu công việc kinh doanh của mình mà không phảibước chân ra khỏi nhà
Thứ ba, mạng lưới thông tin chính là thị trường Thông qua thương mại điện tử,rất nhiều loại hình kinh doanh mới đã được hình thành và phát triển Nhờ tính năng dễ
sử dụng, dễ hiểu của các trang Web dành cho thương mại điện tử là yếu tố quyết địnhtrong việc thu hút khách hàng Trong thương mại điện tử, cách thức khởi thảo, trao
Trang 19đổi, bảo quản và xử lý thông tin hoàn toàn không thay các chức năng cơ bản của thôngtin đối với bên tham gia truyền thống của hợp đồng.
Thứ tư, thương mại điện tử có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể Trong hoạtđộng thương mại điện tử có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể gồm người mua, ngườibán và bên cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực,… Đây là những ngườitạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử Nhà cung cấp dịch vụ mạngchịu trách nhiệm nhiệm vận chuyển, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giaodịch thương mại điện tử và xác nhận độ tin của các thông tin trong giao dịch thươngmại điện tử
Thứ năm, quy mô và vị trí của các doanh nghiệp trở nên không quan trọng.Trong thương mại điện tử, bất kỳ là doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều dễ dàng truy nhậpđến các khách hàng tiềm năng Ví dụ như các doanh nghiệp mới thành lập nhưAmazon, E trade… đã xác định lại thị trường tương xứng của mình và chiếm thị phầnlớn trên Internet Một ưu thế của sự hiện diện trên Web là nó không có vị trí xác định,
kể cả múi giờ và biên giới lãnh thổ Thông qua Web, doanh nghiệp có thể tiếp cận cáckhách hàng ở các vùng địa lý mà trước đây họ không vươn tới được
Ưu và nhược điểm của thương mại điện tử :
Ưu điểm:
(i) Thương mại điện tử cung cấp cho người bán khả năng tiếp cận toàn cầu, loại bỏmọi rào cản về địa lý Giờ đây, người bán và người mua có thể gặp nhau trên thế giới
ảo mà không bị cản trở bởi địa điểm;
(ii) Thương mại điện tử sẽ giảm đáng kể chi phí giao dịch, loại bỏ nhiều chi phí cốđịnh để duy trì các cửa hàng truyền thống Điều này cho phép các công ty được hưởng
tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều so với các mô hình vận hành truyền thống, như chi phíthuê mặt bằng, chi phí thuê bảo vệ, chi phí thuê nhiều nhân viên hơn;
(iii) Thương mại điện tử giao hàng nhanh chóng với rất ít nỗ lực của khách hàng,khiếu nại của khách hàng cũng được giải quyết một cách nhanh gọn, nhờ đó tiết kiệmthời gian, năng lượng và công sức cho cả người tiêu dùng và công ty;
(iv) Thương mại điện tử đem lại sự tiện lợi khi khách hàng có thể mua sắm 24/7 vớitrang web hoạt động mọi lúc mà không bị gò bó hay hạn chế về mặt thời gian như làmviệc tại cửa hàng trực tiếp;
Trang 20(v) Thương mại điện tử cũng cho phép khách hàng và doanh nghiệp liên lạc trực tiếp
mà không cần qua bất kỳ trung gian nào Điều này cho phép liên lạc được đảm bảo vàgiao dịch nhanh chóng
Nhược điểm:
(i) Chi phí đầu tư ban đầu của cổng thương mại điện tử là rất cao Việc thiết lập phầncứng và phần mềm, chi phí đào tạo nhân viên, bảo trì và bảo trì liên tục đều khá tốnkém;
(ii) Mặc dù có vẻ như là chắc chắn tuy nhiên ngành thương mại điện tử cũng có nguy
cơ thất bại cao Nhiều công ty cưỡi trên làn sóng dot-com của những năm 2000 đã thấtbại một cách thảm hại;
(iii) Đôi khi vì tính chất của thương mại điện tử mà thiếu đi sự kết nối của các mốiquan hệ giữa các cá nhân với nhau, là một điều hết sức quan trọng đối với nhiềuthương hiệu và sản phẩm Việc thiếu liên lạc cá nhân này có thể là một bất lợi đối vớinhiều loại dịch vụ và sản phẩm như thiết kế nội thất hoặc kinh doanh đồ trang sức;(iv) An ninh mạng đôi khi thiếu đảm bảo, xảy ra nhiều vụ vi phạm an ninh khiếnthông tin khách hàng bị đánh cắp Trộm cắp thẻ tín dụng, trộm cắp danh tính vẫn làmối lo ngại lớn đối với khách hàng;
(v) Một số vấn đề vẫn xảy ra như ngay sau khi đặt hàng thành công, vẫn có thể có vấn
đề ở các khâu vận chuyển, giao hàng bị nhầm sản phẩm khiến khách hàng không thực
sự hài lòng
1.1.3 Phân loại thương mại điện tử
Thị trường thương mại điện tử cũng được phân thành các hình thức khác nhauphụ thuộc vào đối tượng tham gia Có 6 loại hình thương mại điện tử cơ bản: Doanhnghiệp với Doanh nghiệp (B2B), Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C), Khách hàngvới Khách hàng (C2C), Khách hàng với Doanh nghiệp (C2B), Doanh nghiệp vớichính phủ (B2A), Khách hàng với Chính phủ (C2A)
Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B): Thương mại điện tử B2B đề cập đến
tất cả các giao dịch điện tử của hàng hóa được thực hiện giữa hai công ty Loại thươngmại điện tử này thường giải thích mối quan hệ giữa các nhà sản xuất sản phẩm và nhàphân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng