Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã trở thành một bộ phận trong nền kinh tế thế giới và ngày càng có những đóng góp quan trọng hơn trong tổng thể này. Một trong những quá trình hội nhập của quá trình hội nhập kinh tế thế giới đó là quá trình Hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế hiện nay không phải là một xu thế nữa mà là một thực tế. Việc nghiên cứu, tìm hiểu vai trò, thực trạng và xu hướng phát triển của hợp tác quốc tế sẽ giúp mỗi chúng ta thấy được tầm quan trọng, tỉnh thiết yếu của hợp tác quốc tế ở nước ta hiện nay và trên thế giới nhằm đưa ra những giải pháp nhằm đóng góp thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt ở Việt Nam. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Nắm vững vai trò, thực trạng và xu hướng phát triển của hợp tác quốc tế trong tình hình hiện nay. Phân tích một mối quan hệ hợp tác quốc tế để chứng minh. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu và phân tích Việt Nam trong mối quan hệ hợp tác quốc tế đa phương trên nhiều khía cạnh. 3. Phương pháp nghiên cứu Với đề tài này, em sử dụng những phương pháp như sau: Phương pháp phân tích. Phương pháp tổng hợp. Phương pháp lôgíc. Khi nghiên cứu vấn đề này, em cần phải kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, đánh giá tình hình cụ thể. Đánh giá khái quát chung vấn đề, kết hợp lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó, phải biết sử dụng phương pháp lôgic để luận giải vấn đề một cách khoa học, lôgic, chính xác
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: QUAN HỆ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: HỢP TÁC QUỐC TẾ - VAI TRÒ, THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN (PHÂN TÍCH MỘT MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRÊN THỰC TIỄN ĐỂ CHỨNG MINH).
Trang 2
MỤC LỤC
Nội dung 3
I) Một số vấn đề lý thuyết 3
1 Khái niệm hợp tác quốc tế 3
3 Vai trò của hợp tác quốc tế 4
4 Các hình thức hợp tác quốc tế cơ bản 5
II) Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế 6
1 Quan điểm về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước 7
2 Quá trình bình thường hóa, hội nhập vào các tổ chức khu vực và thế giới 10
3 Đánh giá chung 12
4 Một số giải pháp chủ động hội nhập quốc tế 16
Kết luận 18
Danh mục tài liệu tham khảo 19
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã trở thành một bộ phận trong nền kinh tế thế giới và ngày càng có những đóng góp quan trọng hơn trong tổng thể này Một trong những quá trình hội nhập của quá trình hội nhập kinh tế thế giới đó là quá trình Hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế hiện nay không phải là một xu thế nữa mà là một thực tế Việc nghiên cứu, tìm hiểu vai trò, thực trạng và xu hướng phát triển của hợp tác quốc tế sẽ giúp mỗi chúng ta thấy được tầm quan trọng, tỉnh thiết yếu của hợp tác quốc tế ở nước ta hiện nay và trên thế giới nhằm đưa ra những giải pháp nhằm đóng góp thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt ở Việt Nam
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nắm vững vai trò, thực trạng và xu hướng phát triển của hợp tác quốc tế trong tình hình hiện nay Phân tích một mối quan hệ hợp tác quốc tế để chứng minh
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu và phân tích Việt Nam trong mối quan hệ hợp tác quốc tế đa phương trên nhiều khía cạnh
3 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, em sử dụng những phương pháp như sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp lôgíc
Khi nghiên cứu vấn đề này, em cần phải kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, đánh giá tình hình cụ thể Đánh giá khái quát chung vấn đề, kết hợp lý luận và thực tiễn
Bên cạnh đó, phải biết sử dụng phương pháp lôgic để luận giải vấn đề một cách khoa học, lôgic, chính xác
Trang 4Nội dung
I) Một số vấn đề lý thuyết.
1 Khái niệm hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là việc phối hợp hoạt động giữa hai hay nhiều chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các lợi ích nhất định.
Hợp tác quốc tế được thể hiện qua hành vi, ứng xử, hoạt động có tác
động qua lại giữa các quốc gia hoặc chủ thể khác của quan hệ quốc tế, qua việc xây dựng các thiết chế, các quy tắc ứng xử, các luật lệ, thủ tục để phối hợp chính sách ở các mức độ khác nhau, qua các cuộc đàm phán trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội được biểu hiện tập trung ở sự hội nhập quốc tế, qua các việc xây dựng, tham gia các cơ chế
xử lý quốc tế trên từng lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực, qua việc xử lý cụ thể các vấn đề quốc tế như chống khủng bố, chống tội phạm xuyên quốc gia, bảo vệ môi trường, chống bệnh dịch
Hợp tác thường diễn ra trên cơ sở tự nguyện của các bên và có thể diễn
ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều quy mô, nhiều mục tiêu và biện pháp khác nhau.
Có hợp tác song phương, đa phương, hợp tác khu vực, hợp tác toàn cầu, hợp tác chính phủ hoặc hợp tác phi chính phủ Tuy nhiên cũng có hợp tác mang tính chế tài, hoặc cũng có hợp tác chỉ mang tính diễn đàn
Hợp tác quốc tế trước hết là vì lợi ích của các bên tham gia trình hợp tác Hợp tác có khi vì lợi ích chung của tất cả hoặc có song cũng có sự hợp tác
vì lợi ích của một nhóm nước và gây thiệt khác Do vậy cần xem xét cụ thể tính chất, mục đích của hợp tác cũng như khả năng khai thác sự hợp tác phục
vụ lợi ích quốc gia
2 Cơ sở của hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế được tiến hành trên hai cơ sở chung nhất:
Trang 5- Thứ nhất, qua việc xác định lợi ích, quan điểm của các bên tham gia
sự hợp tác Các bên tham gia hợp tác khi nhận thấy sự hợp tác mình Đây là động lực lớn nhất để các bên tham gia quá trình hợp tác quốc tế
- Thứ hai, hợp tác đòi hỏi sự nhân nhượng lẫn nhau, điều hòa lợi ích để
các bên cùng có lợi Trong quá trình hợp tác các bên không thể tối đa hóa lợi ích của mình mà cần phải tính đến lợi ích của các chủ thể khác Hợp tác thể hiện sự nhân nhượng, sự giải quyết hòa bình các mâu thuẫn, xung đột
3 Vai trò của hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế có tác động rất lớn đến sự phát triển của quốc gia và tình hình chính trị thế giới Có thể nêu ra một số vai trò cơ bản của hợp tác quốc tế:
a) Đối với quốc tế
Hợp tác là biện pháp tốt nhất để duy trì hòa bình, ổn định, an ninh của thế giới Hợp tác giúp tránh hoặc giải quyết hòa bình các xung đột, mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể quan hệ quốc tế Hợp tác tạo ra môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển của mỗi quốc gia và toàn bộ nhân loại
- Hợp tác quốc tế, trước hết là hợp tác kinh tế, giúp các nước phát triển nền kinh tế của mình, tạo ra sự thịnh vượng chung toàn nhân loại Hợp tác trong các lĩnh vực khác giúp các nước củng cố lòng tin lẫn nhau, tăng cường sự hiểu biết, giao lưu văn hóa giữa nhân dân các nước
b Đối với quốc gia
- Hợp tác là công cụ để thực hiện lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc
tế Hợp tác để điều hòa lợi ích và duy trì, phát triển những lợi ích chung giữa các quốc gia
- Hợp tác là biện pháp tốt nhất để liên kết, tập hợp lực lượng, thêm bạn bớt thù, để đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, tiến bộ xã hội
- Hợp tác tạo điều kiện cho sự hiểu biết, giao lưu với các nước khác, giúp tìm hiểu và học hỏi vận dụng những kinh nghiệm của quốc tế để phát triển quốc gia mình
Trang 64 Các hình thức hợp tác quốc tế cơ bản
Hợp tác quốc tế rất đa dạng và phong phú Xét về mặt số lượng các chủ
thể tham gia, hợp tác quốc tế có thể có các hình thức: hợp tác song phương,
hợp tác đa phương, hợp tác toàn cầu.
a) Hợp tác song phương: khi có hai chủ thể tham gia.
Hình thức hợp tác song phương quan trọng nhất là quan hệ giữa hai quốc gia Đây là hình thức hợp tác phổ biến nhất trong quan hệ quốc tế nói chung và có thể được triển khai trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa ) và giữa các đối tác thuộc cơ cấu nhà nước của hai bên
Bên cạnh hình thức hợp tác song phương giữa hai quốc gia, luôn phát triển hình thức hợp tác giữa các chính đảng, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức nhân dân giữa hai nước (bao gồm các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, hòa bình, từ thiện, nhân đạo, môi trường, các tổ chức phi chính phủ…) Các hình thức hợp tác này có tác dụng tăng cường, thúc đẩy hợp tác nhà nước, nhiều khi chúng vượt trước quan hệ nhà nước
b) Hợp tác đa phương: khi có nhiều chủ thể tham gia.
Hình thức hợp tác đa phương thường biểu hiện thông qua các tổ chức quốc tế, các diễn đàn và hội nghị quốc tế
Hợp tác đa phương có thể là giữa các quốc gia, các chính đảng, hoặc các tổ chức chính trị xã hội, có thể ở cấp độ khu vực, liên khu vực, châu lục
và có thể ở lĩnh vực kinh tế, quân sự, tôn giáo, văn hóa
Các hình thức hợp tác này được thể hiện qua sự hoạt động của các tổ chức đa phương như nhóm các nước G7, G77, Tổ chức các nước nói tiếng Pháp, tiếng Anh, Liên minh châu Âu, Khối quân sự Bắc Đại tây dương, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Các tổ chức bảo vệ hòa bình, chống mặt trái toàn cầu hóa, bảo vệ môi trường
c) Hợp tác toàn cầu: khi tất cả hoặc hầu hết các chủ thể quan hệ quốc
tế tham gia
Trang 7Cơ sở cho sự hợp tác quốc tế này là trùng hợp lợi ích giữa các quốc gia trong cộng đồng thế giới trong việc giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia hay nhóm quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết nổi, cần có sự phối hợp, hợp tác của tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới
Đó là những vấn đề như bảo vệ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, chống bệnh tật hiểm nghèo, chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm quốc tế, khai thác tài nguyên thiên nhiên
Các quốc gia đang thực hiện hợp tác toàn cầu trong các tổ chức toàn cầu như Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới
Việt Nam luôn coi trọng hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia và nhân dân trên thế giới Hiện nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 186 nước, là thành viên của nhiều tổ chức chính trị, kinh tế, tài chính, thương mại của khu vực và thế giới Đảng cộng sản Việt Nam có quan hệ với hơn 200 đảng cộng sản, công nhân, cánh tả, đảng xã hội dân chủ, đảng cầm quyền, các phong trào hòa bình, bảo vệ môi trường vì sự tiến bộ, dân chủ trên thế giới Các tổ chức nhân dân cũng có quan hệ hợp tác với hàng nghìn tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế
Sự tham gia vào các quan hệ đó chính là biểu hiện của sự hợp tác của Đảng, nhà nước và nhân dân ta với các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên toàn thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực, bình đẳng, cùng có lợi, vì hòa bình, ổn định và phát triển
II) Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhất thiết phải mở rộng thị trường trong nước gắn với thị trường khu vực và thế giới, vì vậy hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Hội nhập quốc tế có tác động tích cực, tạo ra các cơ hội cho sự phát triển kinh
tế - xã hội ở mỗi quốc gia bởi vì hội nhập quốc tế làm tăng khả năng tiêu thụ
Trang 8hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia nhờ mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ; tạo điều kiện làm tăng khả năng thu hút nguồn vốn trực tiếp và gián tiếp
từ bên ngoài nhờ môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước được cải thiện; thúc đẩy nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu theo hướng hợp lý nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia; đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế, luật pháp, chế độ quản lý ở mỗi quốc gia; thúc đẩy quá trình
tự do hoá thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ và càng thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế - xã hội của các nước
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo ra những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế như: làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp, ngành kinh tế làm ăn kém hiệu quả, gây thất nghiệp, dễ dẫn đến bất ổn về chính trị và xã hội; Chính phủ các quốc gia sẽ mất đi một nguồn thu ngân sách do phải cắt giảm thuế; đối với các nước nghèo sẽ thiếu tài chính và các nguồn lực khác cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh; dễ tạo sự phụ thuộc của nước nghèo, thiếu công nghệ, vốn vào nước giàu, ảnh hưởng đến sự độc lập dân tộc của các quốc gia yếu thế; Các giá trị đạo đức truyền thống dễ bị xói mòn bởi văn hoá ngoại lai Với những tác động tích cực và tiêu cực trên của hội nhập quốc tế
mà gần ba mươi năm qua (từ năm 1986 đến nay) Đảng ta đã kiên định đường lối chủ động hội nhập quốc tế để phát huy những mặt tích cực của hội nhập, hạn chế những tiêu cực nhằm đưa đất nước ta trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới
1 Quan điểm về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
Những quan điểm về hội nhập của Việt Nam đã được xác định trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam cụ thể hóa trong các văn bản luật và dưới luật, có thể điểm qua những tiến triển trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế như sau:
Trước 1986 quan điểm hội nhập của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng IV và V, nhưng chủ yếu là hội nhập vào cộng đồng các
Trang 9nước xã hội chủ nghĩa với tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế châu Âu Tuy nhiên, khối cộng đồng kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa dựa trên phân công lao động giữa các nước trong khối và việc trao đổi hàng hóa không dựa trên nguyên tắc thị trường, không chịu sức ép của sự cạnh tranh gay gắt của quy luật thị trường Do trình độ công nghệ và quy mô sản xuất của Việt Nam chưa cao nên mức độ và quy mô hội nhập của Việt Nam vào khối các nước XHCN chưa sâu và chưa toàn diện Việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế còn hạn chế
vì đây là thời gian chiến tranh lạnh giữa hai khối: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa nên Việt Nam khó hội nhập vào cộng đồng quốc tế Vì vậy, thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải hội nhập quốc tế sâu rộng hơn
Tại Đại hội Đảng lần VI (1986), trên tinh thần đổi mới tư duy kinh tế, cải cách mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Chúng ta cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh
tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước khác”
Trên cơ sở tinh thần đổi mới của Đại hội VI, Đại hội VII (1991) của Đảng đã tiếp tục khẳng định đường lối mở rộng quan hệ quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam Trong Đại hội này, Đảng đã
đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 (1991
- 2000)” và đưa ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá theo tinh thần: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã tiếp nối đường lối mở rộng quan
hệ quốc tế của Đại hội VII khi khẳng định quan điểm: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Hợp tác
Trang 10nhiều mặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng”
Quan điểm đường lối hội nhập được nâng lên khi Đảng chủ trương phải chủ động hội nhập để có thể chủ động phát huy những thuận lợi, nắm bắt thời cơ do hội nhập mang lại và chủ động khắc phục những hạn chế, thách thức của hội nhập, trên tinh thần đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001)
đã khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy cao độ nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập
tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Bộ Chính trị khoá IX
đã có Nghị quyết 07-NQ/TW triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
số 37/2002/QĐ-TTg về chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Đồng thời vào tháng 02/2003 Chính phủ đã chủ trương các hoạt động ngoại giao phải phục vụ phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại (Nghị định 08/2003/NĐ-CP về công tác ngoại giao phục vụ kinh tế) Vào ngày 05/2/2007 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết 08/NQ/TW về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới”
Tiếp tục thực hiện đường lối chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội Đảng toàn quốc lần X (2006) đã xác định Việt Nam là bạn và
là đối tác của các nước trong khu vực và trên thế giới: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”