1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học quản lý dân tộc tôn giáo đặc điểm của các dân tộc ít người ở việt nam và ảnh hưởng của nó đối với công tác lãnh đạo, quản lý các vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Các Dân Tộc Ít Người Ở Việt Nam Và Ảnh Hưởng Của Nó Đối Với Công Tác Lãnh Đạo, Quản Lý Các Vấn Đề Dân Tộc Ở Nước Ta Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Tôn Giáo
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 307,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa – những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Do đó Đảng ta luôn coi trọng việc hoạch định và thực hiện đúng chính sách dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong tiến trình cách mạng. Vấn đề về dân tộc và chính sách dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng và nhạy cảm đối với đất nước, và đặc biệt hơn Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em, cả nước khoảng 93 triệu người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,7% dân số cả nước, dân số còn lại là người dân tộc thiểu số, sống rải rác ở các vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn), chính vì vậy việc thực hiện chính sách dân tộc hiệu quả, phù hợp sẽ giúp giải quyết một cách đúng đắn các quan hệ dân tộc, hoạch định chiến lược chính sách dân tộc. Vấn đề này còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong những năm qua, công tác dân tộc được chăm lo. Các cấp đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế xã hội khu vực miền núi, hải đảo, hộ trợ các xã nghèo khó khăn; bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị vùng dân tộc, miền núi; có nhiều biện pháp để đồng bào dân tộc định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào vùng dân tộc, miền núi được cải thiện. Đồng bảo yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đoàn kết dân tộc được củng cố, tiến bộ; an ninh tổ quốc được giữ vững. Tuy vậy, so với mặt bằng chung của cả nước, tình hình kinh tế xã hội vùng dân tộc, miền núi, biên giới, hải đảo, nhất là ở các xã, thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa, biên giới của Việt Nam còn nhiều khó khăn. Việc thực hiện công tác lãnh đạo quản lý Nhà nước lĩnh vực công tác dân tộc và tôn giáo tuy có nhiều cố gắng, song còn những tồn tại, hạn chế. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp, vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền,... luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bọn người đội lốt tôn giáo tìm mọi cách lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây mất đoàn kết, mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng. Từ những lý do trên em đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm của các dân tộc ít người ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với công tác lãnh đạo, quản lý các vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay” để đưa ra đề xuất góp phần hoàn thiện công tác quản lý các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế xã hội bền vững. I) Một số khái niệm. 1. Khái niệm về dân tộc. Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị xã hội, có ngôn ngữ và văn hóa chung, thống nhất. Theo nghĩa này, nói tới dân tộc là nói tới quốc gia. Sự hình thành dân tộc gắn liền với sự ra đời của nhà nước, đó là nhà nước dân tộc. Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất như Nhật Bản, Triều Tiên; cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc đa tộc người như Việt Nam, Trung Quốc và hầu hết các nước khác. Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền. Dân tộc không chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà là một cộng đồng kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa gắn liền với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định. Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể. (Ví dụ: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài tộc người Kinh chiếm đa số về dân số, còn có 53 tộc người thiểu số khác: Tày, Nùng, Hơ Mông...). Khi nói dân tộc – tộc người là nói theo nghĩa hẹp. Tộc người trong quốc gia – dân tộc có nhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó. Các tộc người bình đẳng ( thiểu số cũng như đa số), cũng sinh sống, có chung chế độ chính trị, nhà nước, pháp luật, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống...). Như vậy, dân tộc – quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền. Trong khi đó, dân tộc – tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hóa tộc người.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN LÝ TÔN GIÁO

ĐỀ TÀI:

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN

LÝ CÁC VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu 2

I) Một số khái niệm 3

1 Khái niệm về dân tộc 3

2 Khái niệm dân tộc thiểu số 4

II)Đặc điểm của các dân tộc ít người ở Việt Nam hiện nay 4

1 Quá trình hình thành và phát triển dân tộc ở Việt Nam 4

III) Thực trạng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 7

IV) Giải pháp 10

Kết luận 13

Danh mục tài liệu tham khảo 14

Trang 3

Lời mở đầu

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa – những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái Do đó Đảng ta luôn coi trọng việc hoạch định và thực hiện đúng chính sách dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong tiến trình cách mạng

Vấn đề về dân tộc và chính sách dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng và nhạy cảm đối với đất nước, và đặc biệt hơn Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em, cả nước khoảng 93 triệu người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,7% dân số cả nước, dân số còn lại là người dân tộc thiểu số, sống rải rác ở các vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn), chính vì vậy việc thực hiện chính sách dân tộc hiệu quả, phù hợp sẽ giúp giải quyết một cách đúng đắn các quan hệ dân tộc, hoạch định chiến lược chính sách dân tộc Vấn đề này còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với Đảng và Nhà nước trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong những năm qua, công tác dân tộc được chăm lo Các cấp đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, hải đảo, hộ trợ các xã nghèo khó khăn; bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị vùng dân tộc, miền núi; có nhiều biện pháp để đồng bào dân tộc định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định đời sống Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào vùng dân tộc, miền núi được cải thiện Đồng bảo yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Đoàn kết dân tộc được củng cố, tiến bộ; an ninh tổ quốc được giữ vững

Tuy vậy, so với mặt bằng chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi, biên giới, hải đảo, nhất là ở các xã, thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa, biên giới của Việt Nam còn nhiều khó khăn Việc thực hiện

Trang 4

công tác lãnh đạo quản lý Nhà nước lĩnh vực công tác dân tộc và tôn giáo tuy

có nhiều cố gắng, song còn những tồn tại, hạn chế

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp, vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền, luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bọn người đội lốt tôn giáo tìm mọi cách lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây mất đoàn kết, mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng

Từ những lý do trên em đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm của các dân tộc ít người ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với công tác lãnh đạo, quản lý các vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay” để đưa ra đề xuất góp phần hoàn thiện công tác quản lý các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội bền vững

I) Một số khái niệm.

1 Khái niệm về dân tộc.

Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị - xã hội, có ngôn ngữ và văn hóa chung, thống nhất Theo nghĩa này, nói tới dân tộc là

nói tới quốc gia Sự hình thành dân tộc gắn liền với sự ra đời của nhà nước,

đó là nhà nước dân tộc Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất như Nhật Bản, Triều Tiên; cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc

đa tộc người như Việt Nam, Trung Quốc và hầu hết các nước khác Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền Dân tộc không chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà là một cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa gắn liền với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định

Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể (Ví dụ: Việt Nam

là một quốc gia đa dân tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài

Trang 5

tộc người Kinh chiếm đa số về dân số, còn có 53 tộc người thiểu số khác: Tày, Nùng, Hơ Mông ) Khi nói dân tộc – tộc người là nói theo nghĩa hẹp Tộc người trong quốc gia – dân tộc có nhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó Các tộc người bình đẳng ( thiểu

số cũng như đa số), cũng sinh sống, có chung chế độ chính trị, nhà nước, pháp luật, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống )

Như vậy, dân tộc – quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền Trong khi đó, dân tộc – tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hóa tộc người

2 Khái niệm dân tộc thiểu số.

Dưới góc độ nhân chủng học, khái niệm thiếu số được dùng khá thông dụng Nó thường được sử dụng để chỉ những dân tộc ít người so với cộng đồng dân tộc chiếm đa số Dân tộc thiểu số còn được dùng để chỉ các nhóm người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh

tế, điều kiện sống và thu nhập và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ

II) Đặc điểm của các dân tộc ít người ở Việt Nam hiện nay.

1 Quá trình hình thành và phát triển dân tộc ở Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam được hình thành bao giờ và như thể nào? Câu hỏi này đã được đặt ra từ những năm 60 của thể kỉ XX Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và tiếp tục tranh luận Tuy nhiên các nhà khoa học tương đối thống nhất ý kiến cho rằng:dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và không gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Theo những kết quả nghiên cứu khoa học thì Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người Lịch sử dân tộc ta gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm và chống thiên tai, đặc biệt là vấn đề trị thủy

Trang 6

Nước ta gồm 54 dân tộc Dân tộc Kinh là dân tộc đông nhất, chiếm 87% Các dân tộc còn lại chiếm 13% Mười dân tộc có số dân dưới 1 triệu đến

100 ngàn người là: Tày, Nùng, Mường, Thái, Khơme, HMông, Dao, Ja rai, Bana, Êđê, 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người: 16 dân tộc có số dân dưới 10 ngàn đến l ngàn: 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn là: Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Ðu, Brầu

Đồng bào dân tộc thiểu số nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn 3⁄4 diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo và một số đồng bằng Nhiều tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn

La, Lai Châu các dân tộc thiểu số chiếm hơn 70% dân số Cao Bằng là tỉnh

có số lượng đồng bào các dân tộc ít người đồng nhất, chiếm khoảng 92%

2 Đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam.

Đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc nước ta là sự liên kết cộng đồng

đã đạt đến mức độ bền vững, ý thức tự giác dân tộc phát triển rất sớm Đó là ý thức độc lập, lòng tự hào, tự tôn dân tộc Truyền thống yêu nước trở thành ngọn cờ đoàn kết các dân tộc anh em trong quá trình dựng nước và giữ nước Tình cảm dân tộc được bồi đắp, nâng niu và trân trọng qua hàng nghìn năm lịch sử Từ khi có Đảng lãnh đạo, tính cộng đồng dân tộc được củng cố và nâng lên thành một chất lượng mới Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đều có sự đồng thuận trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước, giữ nước, xây dựng một cộng đồng thống nhất Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế lúa nước, một kết cấu công xã nông thôn bền chặt xuất hiện rất sớm Trải qua lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc ta trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến Đoàn kết dân tộc là

xu hướng khách quan vì lợi ích, vận mệnh lịch sử, tương lai và tiền đồ của dân tộc

Trang 7

Cư trú các dân tộc Việt Nam là xen kẽ nhau giữa các dân tộc.

+ Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng gia tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung nhưng không hình thành địa bàn riêng biệt

+ Các dân tộc ở nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng Sự thống nhất hữu cơ giữa dân tộc và quốc gia ngày càng được củng cố

+ Tình trạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta là một điều kiện thuận lợi cơ bản để tăng cường quan hệ dân tộc Tuy nhiên, tình trạng này có tính hai mặt: "Một mặt là điểu kiện để tăng cường hiểu biết nhau, đoàn kết, xích lại gần nhau; mặt khác, cần đề phòng trường hợp có thể chưa thật hiểu nhau khác nhau về phong tục, tập quán làm xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế, dẫn tới khả năng va chạm những người thuộc các dân tộc cùng sinh sống trên một địa bàn"

Các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột, xâm lược trong lịch sử nên trình độ phát triển kính tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc còn chênh lệch đáng kể Đây là một đặc trưng cần hết sức quan tâm nhằm từng bước khắc phục tình trạng trên để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc phong phú, đa dạng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần và niềm tự hào dân tộc Đặc trưng của sắc thái văn hoá dân tộc bao gồm tiếng nói, chữ viết: "Về ngôn ngữ, các dân tộc rước ta đều có tiếng nói riêng - tiếng "mẹ đẻ" và đến nay đã có 26 dân tộc

có chữ viết"

Cư trú trên các địa bàn chiến lược:

Trang 8

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú

ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, có quan hệ dòng tộc với các dân tộc

ở các nước láng giềng và khu vực

Tóm lại, xuất phát từ quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng cơ bản của dân tộc ta, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn để dân tộc, coi đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn toàn diện gắn với mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

III) Thực trạng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.

Một là, phần lớn cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam cư trú phân tán,

xen kẽ nhau, không tập trung tại một địa bàn cụ thể Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam không có tỉnh, huyện nào thuần nhất có một dân tộc cư trú (ở khu vực miền núi phía Bắc chỉ có 2,8% số xã có một dân tộc sinh sống)

Trong khi đó, cộng đồng dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ ở nhiều địa phương khác nhau như người Dao ở 17 tỉnh, người Mông ở 13 tỉnh, người Tày ở 11 tỉnh, người Thái ở 8 tỉnh Cộng đồng dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú dọc biên giới phía Bắc, Tây và Tây Nam có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới - đây là những địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, môi trường sinh thái của đất nước

Đời sống người dân ở đây còn nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp, trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều kiện sống và mức sống còn chênh lệch giữa các dân tộc Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn tới công tác lãnh đạo

và quản lý các dân tộc thiểu số

Hai là, các dân tộc thiểu số Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng,

độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam

Tổ chức xã hội truyền thống ở mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản, buôn, phum, sóc được các hộ dân cư trú quây quần bên nhau theo dòng

họ huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành

Trang 9

Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng Ở nước ta có nhiều dòng

ngôn ngữ, trong mỗi dòng lại có những nhóm khác nhau Văn hóa, sản xuất, kiến trúc, xây dựng giữa các dân tộc có nhiều nét khác nhau Văn hóa ăn, mặc của các dân tộc hết sức phong phú Phong tục, tập quán, lối sống mỗi dân

tộc một khác nhau

Ảnh: Thổi Khèn – nét văn hóa dân tộc Mông

Ba là, một đặc điểm khá nổi trội trong các cộng đồng dân tộc thiểu số,

đó là tính gắn kết cộng đồng cao và vai trò dẫn dắt, then chốt của những người tiên phong, người có uy tín Người có uy tín trong cộng đồng thiểu số

có thể là già làng, trưởng bản, trưởng thôn Tuy nhiên, cần lưu ý: Mỗi cộng đồng có một loại người uy tín khác nhau, không phải cứ già làng, trưởng bản

là có uy tín Ví dụ: vùng người Dao thì người có uy tín là thầy cúng; vùng người Mông người có uy tín thường là ông trưởng dòng họ; vùng người Khmer người có uy tín là nhà sư

Hơn thế nữa, người dân tộc thiểu số thường có tâm lý tự ti, bảo thủ, mẫn cảm, không dễ tiếp nhận cái mới Vì vậy, để tạo nên sự thay đổi về nhận

Trang 10

thức và hành vi trong cộng đồng dân tộc thiểu số cần một khoảng thời gian nhất định, cần được tiến hành từng bước, tạo cơ hội để người dân kiểm chứng

và học hỏi từ thực tế

Bốn là, thiếu thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin vẫn là tình trạng khá

phổ biến ở vùng dân tộc Theo số liệu điều tra, các chỉ tiêu kinh tế xã hội của

53 dân tộc thiểu số Việt Nam do Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê vừa thực hiện cho thấy 21% số người dân tộc thiểu số độ tuổi 15 trở lên không biết đọc, biết viết và không hiểu được 1 câu đơn giản của tiếng Việt

Biểu đồ tỷ lệ biết đọc và viết theo giới tính của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trang 11

Đáng chú ý, người mù chữ ở nhiều dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, đồng nghĩa với việc một số lượng lớn bà con không thể tiếp cận thông tin từ đọc Vậy là thông tin chỉ đến với bà con qua phát thanh, truyền hình, qua tuyên truyền miệng của cán bộ trong các buổi tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn

Như vậy, trên cơ sở đặc điểm của dân tộc thiểu số ở từng vùng, từng địa phương, công tác lãnh đạo quản lý cần có cách tiếp cận với những đặc thù riêng trên cơ sở tôn trọng, vận dụng và phát huy đa dạng văn hóa, tri thức bản địa và giá trị đặc sắc của từng tộc người nhằm mục đích phát triển kinh tế -chính trị, giúp các đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống ổn định tốt đẹp hơn

IV) Giải pháp

Đứng trước những thách thức đặt ra nêu trên, lãnh đạo quản lý dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Bảo đảm bình đẳng xã hội và đoàn kết xã hội (bình đẳng về quyền chính trị, bình đẳng về tộc người và đoàn kết dân tộc, bình đẳng giới trong dân tộc, bình đẳng về cơ hội phát triển, đồng thuận dân tộc ) Để làm tốt vấn

đề này, cần tiếp tục đổi mới những quy định trong hệ thống pháp luật về bầu

cử, ứng cử nhằm tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân Mặt khác, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số cùng với các biện pháp đặc thù để tạo điều kiện cho người dân thực hiện các quyền cơ bản của mình Rà soát lại hệ thống văn bản pháp quy có liên quan để bổ sung những yêu cầu cần thiết nhằm tăng cường

sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động quản lý địa phương, quản lý nhà nước, các hoạt động tự quản cộng đồng Mở rộng các hoạt động hình thức dân chủ phù hợp trong đời sống các cộng đồng dân tộc để họ tham gia hiệu quả hơn vào các quá trình quản lý xã hội

Đối với các quyền dân sự, cần tăng cường thông tin, phổ biến giáo dục pháp luật đến cho đồng bào nhằm nâng cao hiểu biết về quyền lợi và trách

Ngày đăng: 16/10/2023, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam (2009), Kỷ yếu đại biểu đại hội các dân tộc thiểu số địa phương lần thứ nhất – 2009 , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đại biểu đại hội các dân tộc thiểu số địa phương lần thứ nhất – 2009
Tác giả: Ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
2. Đậu Tuấn Nam (2009), Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đậu Tuấn Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
3. Trịnh Quốc Tuấn (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay. Vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay. Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Trịnh Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
4. Ủy ban dân tộc (2010), Kỷ yếu đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất – 2010, NXB Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất – 2010
Tác giả: Ủy ban dân tộc
Nhà XB: NXB Chính trị
Năm: 2010
5. Hội đồng dân tộc quốc hội khóa X, Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc
Tác giả: Hội đồng dân tộc quốc hội khóa X
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
6. Báo cáo Thực trạng điều tra tình hình kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Thực trạng điều tra tình hình kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015
Năm: 2015
7. Báo Biên phòng http://www.bienphong.com.vn/mot-so-giai-phap-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w