Khái niệm -Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Viện Ngân hàng – Tài chính
BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRI MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: Lí luận về sản xuất hàng hóa (Kinh tế hàng hóa) và vận dụng trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay.
Họ và tên SV: Nguyễn Mạnh Bách Lớp tín chỉ: LLNL1106(222)_36
Mã SV: 11220778 GVHD: PGS.TS Tô Đức Hạnh
HÀ NỘI, THÁNG 5, NĂM 2023
Trang 2M唃⌀C L唃⌀C
I, CƠ SƠ LY THUYẾT CHUNG VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA 3
1 Sản xuất hàng hóa trong kinh tế chính trị Mác- Lênin 3
2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa 4
3 Nền kinh tế sản xuất hàng hóa 6
II THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ơ VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1 Thực trạng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam 7
2 Đánh giá nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 1 0 III, NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ơ VIỆT NAM HIỆN NAY………12
1, Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu … 12
2, Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội 13
3, Việc hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.……….13
4, Môi trường kinh doanh chưa thật sự lành mạnh……… 14
5, xây dựng pháp luật thiếu tính thực tiễn, thiếu đồng bộ, thậm chí gây tổn hại cho nền kinh tế……….15
KẾT LUẬN………16
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 17
2
Trang 3I CƠ SƠ LY THUYẾT CHUNG VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1 Sản xuất hàng hóa trong kinh tế chính trị Mác- Lênin
1.1 Khái niệm
-Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất
ra là để bán
1.2 Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa
*Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
-Thứ nhất: Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
+Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm
+Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng
mở rộng hơn, đa dạng hơn
-Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau
Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá
+Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ
-Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn
Trang 4Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau -Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
2.1 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
*Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán
Trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ
chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến Ngược lại, sản xuất hàng hóa là kiểu
tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải
là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
-Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao
động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống
Trang 5của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
2.2 Ưu thế của sản xuất hàng hóa
*So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn
hẳn:
- Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại
có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội,
làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các
ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính
tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội
được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
- Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho
việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
-Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh
buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa,
Trang 6làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
-Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
-Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v
3 Nền kinh tế sản xuất hàng hóa
-Kinh tế hàng hóa là hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn
tự cung tự cấp Trái với nền kinh tế tự cung tự cấp là tự sản xuất sản phẩm,
tự tiêu dùng thì nền kinh tế hàng hóa có sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa những người này với người khác thông qua mua bán trên thị trường
-Ở giai đoạn sơ khai, trao đổi hàng hóa mang hình thức trực tiếp, gọi là hàng đổi hàng Khi tiền xuất hiện, các cá nhân có thể sử dụng tiền làm
phương tiện trao đổi Lúc này, nền kinh tế hàng hóa đồng thời là nền kinh tế tiền tệ Khi cơ chế trao đổi dựa trên những sắp xếp quy hoạch từ một trung tâm, kinh tế hàng hóa đồng thời là kinh tế kế hoạch
-Kinh tế hàng hóa là một giai đoạn phát triển nhất định trong lịch sử phát triển xã hội theo trình tự: kinh tế tự nhiên- kinh tế hàng hóa- kinh tế sản
phẩm Trong bất kì chế độ xã hội nào, sự tồn tại hình thái giá trị và thị
trường luôn đặc trưng chung cho kinh tế hàng hóa
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THI TRƯỜNG Ơ VIỆT NAM HIỆN NAY
1, Thực trạng sản xuất hàng hóa Việt Nam.
1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam.
*Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam
đi vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội:
-Thời kỳ 1976-1985: Nền kinh tế tập trung, bao cấp.
+ Thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985), nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh; Khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá
-Thời kỳ 1986-2000: Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế
+Nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước bắt đầu
có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế Trong thời kỳ này,
nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt
động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
-Thời kỳ 2001 đến nay: Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng
+Trong thời kỳ này, đất nước ta thực hiện hai chiến lược phát triển kinh
tế – xã hội là Chiến lược 2001-2010 và Chiến lược 2011-2020 nhằm xây
dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
Trang 8tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp
công việc nội bộ, cùng phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Do
tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, nên kinh
tế – xã hội nước ta đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành tựu to lớn Kinh tế liên tục tăng trưởng đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp
*BẢNG GDP VÀ TĂNG TRƯƠNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1986-2021
1.2.Tình hình nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
* Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2022 ước tính tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 do nền kinh tế khôi phục trở lại.
-GDP quý IV/2022 ước tính tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao
Trang 9hơn tốc độ tăng 4,7% và 5,17% của cùng kỳ năm 2020 và 2021 nhưng thấp hơn tốc
độ tăng của quý IV các năm 2011-2019 Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,22%; khu vực dịch
vụ tăng 8,12% Về sử dụng GDP quý IV/2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,12% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 5,61%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 6,14%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 4,83%
-Ước tính GDP năm 2022 tăng 8,02% Trong mức tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng góp 5,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%; khu vực dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%
-Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng
2,88%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 6,13%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,43%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm
-Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 8,10%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,45%, đóng góp 0,04% điểm phần trăm Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,05%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm Ngành khai khoáng tăng 5,19%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm Ngành xây dựng tăng 8,17%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm
-Khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng năm 2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 Một số ngành dịch vụ thị trường tăng cao, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh
tế như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 10,15% so với năm trước, đóng góp 0,97 điểm phần trăm; ngành vận tải kho bãi tăng 11,93%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 40,61%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,03%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,80%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm Riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 7,6%, làm giảm 0,13 điểm phần trăm do dịch Covid-19 đã được kiểm soát nên chi cho phòng, chống dịch bệnh giảm so với năm 2021
-Về cơ cấu nền kinh tế năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%; khu vực dịch vụ chiếm 41,33%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%
-Về sử dụng GDP năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,18% so với năm
Trang 102021, đóng góp 49,32% vào tốc độ tăng chung; tích lũy tài sản tăng 5,75%, đóng góp 22,59%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,86%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,16%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 28,09%
-GDP bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021 Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2022 theo giá hiện hành ước tính đạt 188,1 triệu đồng/lao động (tương đương 8.083 USD/lao động, tăng 622 USD so với năm 2021) Theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2022 tăng 4,8% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2022 đạt 26,2%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với năm 2021)
2.Đánh giá thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
2.1 Những kết quả đạt được của nền kinh tế thị trường Việt Nam.
- Sản xuất hàng hoá ra đời nhằm tận dụng các lợi ích về tự nhiên, xã hội và công nghệ của mọi người, mọi nơi, mọi miền của Việt Nam Ví dụ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là nguồn cung cấp lương thực chính cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, vì nó tạo điều kiện cho việc phát triển trồng lúa nước
- Sản xuất hàng hoá là để trao đổi theo nhu cầu của xã hội, người sản xuất phải
có trình độ chuyên môn cao Tích lũy kinh nghiệm và thu thập kiến thức mới sẽ nâng cao trình độ chuyên môn của bạn Khi các công cụ đặc biệt được cải tiến và áp dụng công nghệ mới, cạnh tranh ngày càng gay gắt, năng suất lao động được cải thiện và chất lượng sản phẩm được cải thiện
- Sự tác động của các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh làm cho người sản xuất luôn năng động, nhạy bén và buộc phải cải tiến, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế Nền sản xuất hàng hoá phát triển sẽ làm cho đời sống vật chất và văn hoá cao hơn, phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết
- GDP bình quân của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất
nguyên liệu thô sau giai đoạn tân trang đã tăng lên qua các năm Từ năm 1986 đến
1990, KV1 có GDP 2,7%, KV2 có 4,7% và KV3 có 5,7% Từ năm 1991 đến 1995, GDP của KV1 là 4,1%, KV2 là 12% và KV3 là 8,6% Từ năm 1996 đến năm2000, KV1 có GDP là 4,4%, KV2 có GDP là 10,6% và KV3 có 5,7%
- Với việc sản xuất từ nguyên liệu thô, Việt Nam đang chuyển từ nước đang phát triển sang nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần ngày càng phong phú