1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1980 ĐẾN 1992: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, CƠ SỞ PHÁP LÝ, CẤU TRÚC BỘ MÁY. SO SÁNH VỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT CẢI CÁCH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

35 244 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992: hoàn cảnh lịch sử, cơ sở pháp lý, cấu trúc bộ máy. So sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay và đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Ngọc Hiền
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Chính quyền địa phương
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 758,31 KB
File đính kèm 1905QLNE06 TRẦN KIM NGUYỆT CQĐP.rar (721 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam được thành lập từ năm 1945 cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Việt Nam đã ban hành và sửa đổi năm bản Hiến pháp (1946,1959, 1980, 1992, 2013), và các văn bản Luật về tổ chức hệ thống chính quyền địa phương. Đặc biệt, từ năm 1980 đến 1992 là giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Hiến pháp 1980, bộ máy nhà nước ta đã được thiết kế theo đúng mô hình bộ máy nhà nước kiểu Xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ ở các nước xã hội chủ nghĩa như ở Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc… Nguyên tắc tập quyền Xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã được vận dụng một cách triệt để. Để tìm hiểu rõ tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn từ 1980 đến 1992, tôi quyết định chọn đề tài “Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992: hoàn cảnh lịch sử, cơ sở pháp lý, cấu trúc bộ máy. So sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay và đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thi kết thúc học phần.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

ĐỀ TÀI:

TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

TỪ 1980 ĐẾN 1992: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, CƠ SỞ PHÁP LÝ, CẤU TRÚC BỘ MÁY SO SÁNH VỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT CẢI CÁCH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Chính quyền địa phương

Mã phách:………

Hà Nội – 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992: hoàn cảnh lịch sử, cơ sở pháp lý, cấu trúc bộ máy So sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay và đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” là kết quả của quá trình cố

gắng không ngừng học hỏi và tìm tòi của bản thân, cùng với đó là sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô Trong suốt quá trình học môn “Chính quyền địa phương” vừa qua, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô -

TS Bùi Thị Ngọc Hiền đã chỉ bảo tận tình giúp tôi có được nền tảng kiến thức

để có thể làm nên đề tài này Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất nhưng đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô

để đề tài này được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa đề tài 2

3 Bố cục đề tài 2

NỘI DUNG 3

Chương 1: TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1980 ĐẾN 1992 3

1.1 Hoàn cảnh lịch sử 3

1.1.1 Khủng hoảng kinh tế - xã hội 3

1.1.2 Về mặt nhà nước 4

1.1.3 Về quan hệ quốc tế 4

1.2 Cơ sở pháp lý 5

1.3 Cấu trúc bộ máy 5

1.3.1 Đặc điểm 5

1.3.2 Tổ chức bộ máy 7

Tiểu kết chương 1 10

Chương 2: SO SÁNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1980 ĐẾN 1992 VỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY 11

2.1 Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay 11

2.1.1 Cơ sở pháp lý 11

2.1.2 Cấu trúc bộ máy 11

2.2 Những điểm tương đồng và khác nhau 16

2.2.1 Điểm tương đồng 16

2.2.2 Những điểm khác nhau 16

Trang 5

Tiểu kết chương 2 23

Chương 3: ĐỀ XUẤT CẢI CÁCH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24

3.1 Xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương 24

3.2 Thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, hợp lí hơn 24

3.3 Đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt 25

3.4 Đổi mới hoạt động của chính quyền địa phương 26

3.5 Xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số 27

Tiểu kết chương 3 28

KẾT LUẬN 29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chính quyền địa phương (CQĐP) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong

bộ máy chính quyền nhà nước Ở Việt Nam, chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước, thực hiện các chức năng quản lý và quyết định các biện pháp thực hiện nhiệm vụ của địa phương theo quy định của pháp luật, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước Chính vì vậy, tổ chức chính quyền địa phương luôn được chú trọng quan tâm Theo chiều dài lịch sử, trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm sửa đổi, cải cách tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp với tình hình đất nước từng thời kỳ

Hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam được thành lập từ năm

1945 cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Việt Nam

đã ban hành và sửa đổi năm bản Hiến pháp (1946,1959, 1980, 1992, 2013), và các văn bản Luật về tổ chức hệ thống chính quyền địa phương Đặc biệt, từ năm

1980 đến 1992 là giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn vẹn lãnh thổ đất nước Hiến pháp 1980, bộ máy nhà nước ta đã được thiết kế theo đúng mô hình bộ máy nhà nước kiểu Xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ ở các nước

xã hội chủ nghĩa như ở Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc… Nguyên tắc tập quyền Xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã được vận dụng một cách triệt để

Để tìm hiểu rõ tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn từ 1980 đến

1992, tôi quyết định chọn đề tài “Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992: hoàn cảnh lịch sử, cơ sở pháp lý, cấu trúc bộ máy So sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay và đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” để làm

bài thi kết thúc học phần

Trang 7

2 Ý nghĩa đề tài

Về mặt lý luận, trên cơ sở nguồn tư liệu lịch sử, bài tiểu luận tìm hiểu tổ

chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992 về hoàn cảnh lịch sử, cơ sở pháp lý và so sánh với chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay để làm rõ nội dung đề tài

Về mặt thực tiễn, từ việc nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương

Việt Nam giai đoạn từ 1980 đến 1992 và hiện nay; tìm ra những nét tương đồng

và sự khác nhau giữa tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ

1980 đến 1992 với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay, tác giả đưa ra một số đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương các cấp

3 Bố cục đề tài

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của

đề tài được kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn từ 1980

đến 1992;

Chương 2: So sánh tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn

từ 1980 đến 1992 với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay;

Chương 3: Đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1

TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

TỪ 1980 ĐẾN 1992

1.1 Hoàn cảnh lịch sử

1.1.1 Khủng hoảng kinh tế - xã hội

Trong những năm 1980, kinh tế nước ta tiếp tục trong tình trạng phải khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, kinh tế bị tàn phá nặng nề trong nhiều thập kỷ, ngoài ra còn bị cấm vận, hầu như cô lập với thị trường khu vực và thế giới Do đó, những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của cơ chế thị trường không có khả năng thâm nhập vào Việt Nam

Từ năm 1981 - 1983 kinh tế có phục hồi đôi chút song tốc độ phát triển chậm, nét đặc trưng là hiệu quả thấp do chi phí sản xuất cao, công nghệ và thiết

bị lậu hậu, trình độ tổ chức sản xuất và quản lý kém hiệu quả Cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, lệ thuộc nhiều vào các nước XHCN, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh bị sa xút, thế mạnh của sản xuất không được khai thác Kinh tế nhiều thành phần chưa được chú trọng Ngân sách nhà nước liên tục bội chi lớn phải dựa vào nguồn thu từ vay nợ và viện trợ Quản lý tài chính còn lỏng lẻo mang nặng tính cấp phát, bù lỗ và trợ cấp, do đó không khuyến khích các đơn vị kinh tế quốc doanh nâng cao vai trò tự chủ kinh tế, phát triển sản xuất mà dựa vào ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, việc phát hành tiền trong lưu thông tăng cao; lại gặp sai lầm khi cải cách “giá - lương - tiền” năm 1985, lên tới 774,7% năm 1986 và kéo dài với mức 3, rồi 2 chữ số cho đến đầu thập

kỷ 90, đã làm cho siêu lạm phát xuất hiện Dẫn đến nền kinh tế từ tình trạng trì trệ theo một cơ chế quan liêu bao cấp đã phải đối mặt với việc điều chỉnh quá lớn Chỉ số lạm phát luôn ở mức khá cao

Trang 9

Yêu cầu đổi mới các chính sách kinh tế vĩ mô là hết sức cấp bách, trong

đó đột phá khẩu để xoá bỏ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung là cuộc cải cách đồng bộ giá - lương - tiền năm 1985 Kể từ cuối năm 1986, dưới sự chỉ đạo của Đảng và hướng dẫn tuyệt đối chính quyền nhà nước trung ương, Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, tập trung quan liêu bao cấp, phát triển kinh tế và ngăn chặn lạm phát Với những biện pháp đó, lạm phát vẫn còn cao nhưng đã tạo ra sự chuyển đổi trong nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, xử lý được vấn đề giá, xoá bỏ bao cấp, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào giai đoạn ổn định và phát triển

1.1.2 Về mặt nhà nước

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước ta được thống nhất sau hơn 30 năm chia cắt, điều đó tạo ra cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN Để thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, ngày 25 tháng 4 năm 1976, cử tri cả nước tiến hành tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của nước Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử là sự kiện đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình mở rộng và củng cố chính quyền nhà nước

Từ những năm 1960 - 1970, nhất là năm 1976 trước khi thông qua Hiến pháp 1980, nước ta đã tiến hành hợp nhất các tỉnh, hợp nhất các huyện với quy

mô lớn, để cả nước còn 36 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và một đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo

1.1.3 Về quan hệ quốc tế

Trong giai đoạn này mối quan hệ hữu nghị, anh - em giữa Việt Nam và các nước trong khối XHCN trở nên gắn bó chặt chẽ hơn bao giờ hết Xu hướng

Trang 10

áp dụng mô hình phát triển chung cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trở nên phổ biến giữa các nước XHCN mà đứng đầu là Liên bang Xô-viết

1.2 Cơ sở pháp lý

Hệ thống cơ quan CQĐP của Việt Nam trong giai đoạn từ 1980 đến 1992 được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, sửa đổi năm 1989

Ngày 18 tháng 12 năm 1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã chính thức thông qua bản Hiến pháp năm 1980, trong đó có Chương IX quy định về

“Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân” (từ Điều 113 đến Điều 126) Trên cơ

sở Hiến pháp 1980, Quốc hội ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi bảy điều Hiến pháp 1980 (trong đó có sáu điều liên quan đến tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân) và trên cơ sở những sửa đổi này Quốc hội thông qua Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1989

Trang 11

Thứ hai, dần được tổ chức theo mô hình Xô Viết, thể hiện rõ nguyên tắc

tập quyền Xã hội chủ nghĩa

CQĐP dần dần được tổ chức hoạt động theo mô hình của các Xô Viết (Liên Xô cũ) Một trong những đặc điểm rất cơ bản của CQĐP của các nước XHCN là có các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được thừa nhận về quy định là cơ quan quyền lực nhà nước

Thứ ba, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới rập

khuôn chính quyền cấp trên

Các cơ quan nhà nước khác mặc dù giải quyết rất nhiều công việc nhà nước, cũng không được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước Vào những năm này, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng Sự khủng hoảng kinh tế - xã hội này, ngoài những lý do có tính chủ quan và khách quan của Việt Nam, nó còn nằm trong tình trạng chung của các nước trong hệ thống XHCN Việc tổ chức và hoạt động của hệ thống CQĐP cũng phản ánh tình hình chung của sự khủng hoảng CQĐP không được phát huy, dân chủ trở nên hình thức, tất cả chỉ trông chờ vào sự chỉ đạo của Đảng và sự hướng dẫn của chính quyền cấp trên Việc tổ chức và hoạt động của các cấp CQĐP đều rập khuôn của chính quyền cấp trên Các đơn vị hành chính địa phương đều được sát nhập lại theo phương châm của mỗi huyện là một pháo đài của chủ nghĩa xã hội Các tỉnh thành trực thuộc trung ương đều có đầy đủ các cơ cấu thành phần kinh tế công

- nông nghiệp hiện đại Trong cơ cấu tổ chức CQĐP cấp trên cũng như chính quyền trung ương có những tổ chức nào, thì CQĐP cấp dưới cũng cần có những

bộ phận ấy tương ứng

Thứ tư, Hội đồng nhân dân mang tính hình thức, không phát huy vai trò

giải quyết quyền lợi của người dân

Trang 12

Hội đồng nhân dân mặc dù được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước, song chỉ là những nơi thông qua các quyết định đã rồi của cấp ủy Đảng tương ứng, chưa đóng được vai trò là nơi có khả năng cũng như cần phải quyết định các vấn đề liên quan đến quyền lợi của cộng đồng dân cư địa phương, hoặc là nơi cần phải tính đến những đặc điểm của cộng đồng dân cư cũng lãnh thổ địa phương khi triển khai việc thực hiện pháp luật của trung ương

1.3.2.1 Hội đồng nhân dân

HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân

ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên Đây là cơ quan được tăng thêm nhiều quyền hạn

Điểm đặc biệt là HĐND trong giai đoạn này được quy định không chịu nhiều sự chi phối của cấp trên (so với Hiến pháp 1959) HĐND căn cứ vào pháp luật, chính sách của nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn của cấp mình, quyết định

và bảo đảm thực hiện các chủ trương, biện pháp để phát huy tiềm năng của địa

Trang 13

phương, xây dựng và phát triển địa phương về các mặt, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân địa phương

Thường trực Hội đồng nhân do Hội đồng nhân dân bầu ra Cơ quan thường trực HĐND ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã là thường trực HĐND; ở cấp xã, phường, thị trấn là Ban thư ký HĐND

Thường trực HĐND được thành lập ở HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã là

cơ quan bảo đảm việc tổ chức các hoạt động của HĐND các cấp đó, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp, chịu sự giám sát và hướng dẫn của HĐND cấp trên, của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh

và thị xã gồm có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

và Thư ký Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã thành lập các Ban để giúp Hội đồng theo quy định của Hội đồng Nhà nước HĐND xã, phường, thị trấn thành lập Ban thư ký HĐND Mỗi Ban có Trưởng ban, Phó trưởng ban và các thành viên khác của ban Trưởng ban và các thành viên khác của Ban được HĐND bầu ra trong số đại biểu HĐND theo danh sách do Chủ toạ kỳ họp và các tổ đại biểu giới thiệu Số thành viên của các Ban do HĐND quy định Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của

Uỷ ban nhân dân cùng cấp

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân các cấp là 05 năm

1.3.2.2 Ủy ban nhân dân

Trang 14

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra UBND là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp, chịu sự lãnh đạo của UBND cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng bộ trưởng

So với Hiến pháp năm 1959, thiết chế UBND nhìn chung không có sự thay đổi nhiều ngoài tên gọi (Ủy ban hành chính đổi thành Ủy ban nhân dân), nhấn mạnh tính chấp hành và đặc biệt là nhấn mạnh hơn nữa cơ chế làm việc tập thế của cơ quan này

Ủy ban nhân dân gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch và các

uỷ viên khác Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân Các thành viên khác của UBND không nhất thiết phải là đại biểu HĐND cùng cấp

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có

từ 11 đến 17 người

- UBND huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã có từ 9 đến 13 người

- UBND xã, phường, thị trấn có từ 7 đến 9 người

Số Phó Chủ tịch của UBND mỗi cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định

Uỷ ban nhân dân thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, theo quy định của Hội đồng bộ trưởng Các cơ quan chuyên môn giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến

Trang 15

Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND, báo cáo công tác trước HĐND cấp mình khi cần thiết; đồng thời, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với cơ quan chuyên môn cấp trên

Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân và của Uỷ ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân cùng cấp Khi HĐND hết nhiệm kỳ, Thường trực HĐND và UBND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND bầu ra Thường trực HĐND và UBND mới

Trang 16

2.1.2 Cấu trúc bộ máy

Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay gồm có:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);

- Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

- Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính

Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm CQĐP ở tỉnh, huyện, xã Chính quyền địa phương ở đô thị gồm CQĐP ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn Hiện nay, mô hình tổ chức chính quyền đô thị vẫn đang trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm Thực hiện nhiệm vụ do Nghị

Trang 17

quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 Khóa XII đề ra, các thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng

đã tiến hành xây dựng đề án tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị và được Quốc hội thông qua Việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng được thực hiện từ ngày 01 tháng

7 năm 2021 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm

- Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu

ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân

- Ủy ban nhân dân

Ủy ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp Khi HĐND hết nhiệm kỳ, Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND khóa mới

- Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà

Ngày đăng: 13/10/2023, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Ngọc Ánh (2020), Pháp luật về hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Ngọc Ánh
Nhà XB: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Năm: 2020
2. Nguyễn Đăng Dung (2001), Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2001
3. Quốc hội (1983), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11-LCT/HĐNN7 ngày 30/6/1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11-LCT/HĐNN7 ngày 30/6/1983
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1983
4. Quốc hội (1989), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân của Quốc hội số 19-LCT/HĐNN8 ngày 30/06/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân của Quốc hội số 19-LCT/HĐNN8 ngày 30/06/1989
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1989
5. Quốc hội (2015), Luật số 77/2015/QH13 của Quốc hội ngày 19 tháng 06 năm 2015 - Luật tổ chức chính quyền địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 77/2015/QH13 của Quốc hội ngày 19 tháng 06 năm 2015 - Luật tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
6. Quốc Hội (2019), Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Năm 2013-1992-1980-1959-1946), NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Năm 2013-1992-1980-1959-1946)
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2019
7. Quốc hội (2019), Luật số 47/2019/QH14 của Quốc hội ngày 22 tháng 11 năm 2019 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 47/2019/QH14 của Quốc hội ngày 22 tháng 11 năm 2019 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w