Chính sách công là một công cụ quản lý quan trọng của nhà nước. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nhiệm vụ, lĩnh vực khác nhau, yêu cầu Nhà nước phải có những chính sách cụ thể. Muốn có một chính sách công tốt để đưa vào thực thi mang lại hiệu quả cao thì phải trải qua quá trình hoạch định chính sách. Hiện nay, Việt Nam đang tiến bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm thay đổi đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới cũng đã tác động mạnh đến kinh tế chính trị xã hội Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao đã đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với nhà nước. Đồng thời, các biến động lớn về tài nguyên, môi trường, dân số,... đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi nhà nước phải hoạch định chính sách để giải quyết các vấn đề bức thiết, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Tuy nhiên, quá trình hoạch định chính sách còn nhiều bất cập bộc lộ rõ trong một số chính sách công đã được thực thi trong thời gian qua. Nhận thức được tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách công, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bằng các ví dụ về chính sách công trên thực tế, hãy phân tích các căn cứ hoạch định chính sách công” để làm bài thi kết thúc học phần nhằm hiểu rõ về các căn cứ hoạch định chính sách công và những bất cập trong quá trình hoạch định chính sách công, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động hoạch định chính sách công ở Việt Nam hiện nay.
Trang 2ý của thầy cô để đề tài này được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Mô tả về chu trình chính sách công 2
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG 2
1.1 Một số khái niệm liên quan 2
1.1.1 Chính sách công 2
1.1.2 Hoạch định chính sách công 2
1.2 Vị trí của hoạch định chính sách công 2
1.3 Ý nghĩa hoạch định chính sách công 3
1.3.1 Hoạch định chính sách công mở đường cho cả tiến trình chính sách 3 1.3.2 Hoạch định chính sách công khởi xướng những vấn đề mà xã hội quan tâm cần phải giải quyết bằng chính sách 3
1.3.3 Hoạch định chính sách công giúp củng cố niềm tin của người dân vào Nhà nước 4
1.3.4 Hoạch định chính sách công sẽ thu hút được các bộ phận chức năng của toàn hệ thống quản lý vào những hoạt động theo định hướng 4
1.3.5 Hoạch định chính sách công sẽ truyền đạt được cơ chế quản lý của Nhà nước đến nền kinh tế trong từng thời kỳ 4
1.4 Nguyên tắc hoạch định chính sách công 4
1.4.1 Nguyên tắc vì lợi ích cộng đồng 4
1.4.2 Nguyên tắc hệ thống 4
1.4.3 Nguyên tắc hiện thực 5
1.4.4 Nguyên tắc quyết định theo đa số 5
1.5 Căn cứ hoạch định chính sách công 5
Trang 5II PHÂN TÍCH CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG 6
2.1 Các căn cứ hoạch định chính sách công 6
2.1.1 Căn cứ vào định hướng chính trị 6
2.1.2 Căn cứ cơ sở pháp lý 8
2.1.3 Căn cứ vào quan điểm phát triển của chủ thể 9
2.1.4 Căn cứ nguyên tắc hoạch định chính sách công 11
2.1.5 Căn cứ vào năng lực thực tế của đối tượng thực thi chính sách công 13
2.1.6 Căn cứ môi trường tồn tại của chính sách công 14
2.2 Những bất cập trong quá trình hoạch định chính sách công 16
2.3 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong quá trình hoạch định chính sách công 17
III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM 18
3.1 Nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ hoạch định chính sách công 18
3.2 Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình hoạch định chính sách công 19
3.3 Tăng cường đối thoại chính sách giữa Chính phủ và các nhóm lợi ích, đặc biệt là doanh nghiệp 20
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 6MỞ ĐẦU
Chính sách công là một công cụ quản lý quan trọng của nhà nước Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nhiệm vụ, lĩnh vực khác nhau, yêu cầu Nhà nước phải
có những chính sách cụ thể Muốn có một chính sách công tốt để đưa vào thực
thi mang lại hiệu quả cao thì phải trải qua quá trình hoạch định chính sách
Hiện nay, Việt Nam đang tiến bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm thay đổi đời sống kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới cũng đã tác động mạnh đến kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao đã đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với nhà nước Đồng thời, các biến động lớn về tài nguyên, môi trường, dân số, đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi nhà nước phải hoạch định chính sách để giải quyết các vấn đề bức thiết, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Tuy nhiên, quá trình hoạch định chính sách còn nhiều bất cập bộc lộ rõ trong một số chính sách công đã được thực thi trong thời gian qua
Nhận thức được tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách công,
tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bằng các ví dụ về chính sách công trên thực
tế, hãy phân tích các căn cứ hoạch định chính sách công” để làm bài thi kết
thúc học phần nhằm hiểu rõ về các căn cứ hoạch định chính sách công và những bất cập trong quá trình hoạch định chính sách công, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động hoạch định chính sách công ở Việt Nam hiện nay
Trang 7NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Chính sách công
Theo Tập bài giảng môn Hoạch định và phân tích chính sách công của
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2021), Chính sách công là kết quả ý chí chính
trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề trong xã hội
1.1.2 Hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách công được hiểu là việc xây dựng một chính sách mới theo yêu cầu quản lý Chính sách được hoạch định mới phải bao gồm cả mục tiêu và biện pháp mới, trong đó quyết định nhất là mục tiêu mới được chủ thể xác định cần phải theo đuổi Như vậy, theo cách hiểu đó, ta có khái niệm: Hoạch định chính sách công là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách
1.2 Vị trí của hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách Chu trình chính sách gồm 3 bước:
(Nguồn: TS Lê Như Thanh - TS Lê Văn Hòa (2016), Hoạch định và thực thi
chính sách công, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội )
Phân tích chính sách công
Hoạch định chính sách công
Trang 8Nhìn hình 1.1 có thể thấy hoạch định chính sách công là giai đoạn quan trọng đầu tiên của chu trình chính sách và nó tạo ra sản phẩm quản lý nhà nước
là một chính sách công Có thể xem đây là tiền đề để chính sách đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao Chính sách có thể phát huy hiệu quả trong thực
tế hay không phụ thuộc rất lớn ở khâu hoạch định Hoạch định chính sách công bao gồm toàn bộ quá trình nghiên cứu lựa chọn được vấn đề chính sách cần giải quyết đến việc xây dựng các phương án tối ưu và ban hành đầy đủ một chính sách (tức là pháp lý hóa nội dung chính sách) Như vậy, hoạch định chính sách được coi là nguyên liệu đầu vào, đồng thời cũng là kết quả đầu ra của các quá trình quản lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng Nếu hoạch định chính sách công tốt, khoa học sẽ thúc đẩy quá trình thực thi, nhanh chóng đưa chính sách
đi vào thực tế và ngược lại sẽ kìm hãm, đẩy lùi sự phát triển Nhận thức như vậy mới thấy được đầy đủ vị trí quan trọng của hoạch định chính sách
1.3 Ý nghĩa hoạch định chính sách công
1.3.1 Hoạch định chính sách công mở đường cho cả tiến trình chính sách
Chu trình chính sách công được xem xét như một vòng xoáy ốc theo hướng ngày càng hoàn thiện, trong đó hoạch định chính sách công được xem
là bước chuyển lên bậc cao hơn trong mỗi chu trình Những vấn đề được đúc kết trong cả tiến trình chính sách sẽ làm nền tảng để củng cố, xây dựng cho chính sách cho kỳ sau
1.3.2 Hoạch định chính sách công khởi xướng những vấn đề mà xã hội quan tâm cần phải giải quyết bằng chính sách
Vấn đề tồn tại trong đời sống xã hội rất phong phú, đa dạng và vận động không ngừng theo các quy luật khách quan Mỗi loại vấn đề có liên quan đến một hay nhiều quá trình kinh tế - xã hội và được giải quyết bằng các công cụ
và cách thức khác nhau Có những vấn đề nảy sinh và tồn tại theo quy luật, nó tác động có kỳ hạn đến mục tiêu phát triển cần phải được giải quyết bằng chính sách Điều này có thể nhận biết được thông qua nội dung chính sách như lý do ban hành chính sách hay lựa chọn vấn đề chính sách
Trang 91.3.3 Hoạch định chính sách công giúp củng cố niềm tin của người dân vào Nhà nước
Hoạch định chính sách công khởi xướng những vấn đề chính sách, đó là những nhu cầu bức xúc cần được đáp ứng để duy trì hoạt động xã hội theo định hướng Nếu những vấn đề chính sách đưa ra phù hợp với yêu cầu giải quyết của người dân sẽ giúp họ yên tâm làm theo Nhà nước Nếu các vấn đề chính sách nêu lên được giải quyết nhanh, có hiệu quả thì càng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, điều hành của Nhà nước
1.3.4 Hoạch định chính sách công sẽ thu hút được các bộ phận chức năng của toàn hệ thống quản lý vào những hoạt động theo định hướng
Các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra rộng khắp trên địa bàn cả nước, đồng thời cũng diễn ra theo ngành, theo cấp độ quản lý Mỗi cơ quan quản lý nhà nước đều phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao một cách độc lập, song nếu có chính sách, các cơ quan này sẽ phải liên hệ, phối hợp với nhau để thực hiện mục tiêu quản lý chung theo quy định
1.3.5 Hoạch định chính sách công sẽ truyền đạt được cơ chế quản lý của Nhà nước đến nền kinh tế trong từng thời kỳ
Để quản lý có kết quả các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước phải chủ động tạo lập cơ chế vận động thích hợp với từng điều kiện không gian và thời gian Cơ chế vận động bao gồm cơ chế vận hành của nền kinh tế tồn tại theo các quy luật và cơ chế quản lý do Nhà nước lựa chọn
1.4 Nguyên tắc hoạch định chính sách công
1.4.1 Nguyên tắc vì lợi ích cộng đồng
Các chính sách công do nhà nước ban hành phải phục vụ lợi ích cộng đồng, thường là lợi ích của đa số người dân trong xã hội, hài hòa lợi ích giữa các bên hoặc lợi ích từ chính sách có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của
xã hội Ngoài ra, có một số trường hợp chính sách ban hành dành cho một bộ phận nhỏ của xã hội
1.4.2 Nguyên tắc hệ thống
Trang 10Hoạch định chính sách phải tính tới sự thống nhất và phù hợp với hệ thống chính sách hiện hành Điều đó có nghĩa là nội dung của chính sách mới ban hành không thể đi ngược lại với chính sách đã có, mà phải có sự tương thích với các chính sách khác để tạo thành một hệ thống thống nhất, có sự bổ sung, tương tác qua lại với nhau Tuy nhiên, chính sách mới cũng có thể mâu thuẫn với chính sách cũ bởi bối cảnh đã thay đổ và đặt ra yêu cầu mới, khi đó cần xem xét sửa đổi hoặc loại bỏ chính sách cũ không còn phù hợp để bảo đảm tính nhất quán của hệ thống chính trị và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
Nguyên tắc hệ thống còn được thể hiện trong bản thân mỗi chính sách được hoạch định, có nghĩa là toàn bộ các nội dung của chính sách phải được xem xét và xây dựng như một hệ thống thống nhất, hướng đến mục đích mà chính sách đặt ra, bảo đảm thống nhất giữa mục tiêu với giải pháp, đồng thời thống nhất với các điều kiện thực tế cũng như các phương pháp và công cụ của chính sách đó
1.4.3 Nguyên tắc hiện thực
Một chính sách công được ban hành phải xuất phát từ đời sống kinh tế -
xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế, nguồn lực hiện có Chỉ có như vậy mới làm cho chính sách có tính khả thi cao và bảo đảm được tính kế thừa, liên tục trong hệ thống
1.4.4 Nguyên tắc quyết định theo đa số
Thực hiện nguyên tắc quyết định đa số để bảo đảm rằng chính sách công được làm cho mọi người và được xây dựng bởi nhiều người Chính sách công
có tầm ảnh hưởng lớn giữa các bên có liên quan bên cạnh Nhà nước, đó có thể
là các tổ chức chính trị - xã hội, các nhà Khoa học, chính quyền các cấp, cơ quan truyền thông, người dân,
1.5 Căn cứ hoạch định chính sách công
Để chính sách có sức thuyết phục cao đối với cả người tổ chức và thực thi, cần phải dựa vào những căn cứ khoa học để hoạch định chính sách Căn cứ hoạch định chính sách công gồm:
- Căn cứ định hướng chính trị;
- Căn cứ cơ sở pháp lý;
Trang 11- Căn cứ vào quan điểm phát triển của chủ thể;
- Căn cứ nguyên tắc hoạch định chính sách công;
- Căn cứ vào năng lực thực tế của đối tượng thực thi chính sách công;
- Căn cứ môi trường tồn tại của chính sách công
II PHÂN TÍCH CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG 2.1 Các căn cứ hoạch định chính sách công
Dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, các nhà nước quản lý xã hội phát triển theo mục tiêu định hướng Đường lối phát triển của đảng cầm quyền là căn cứ để nhà nước đề ra các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong dài hạn và ngắn hạn
Mục tiêu định hướng cho các thời kỳ là những giá trị về lượng và chất của đời sống theo nhu cầu xã hội như thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia, xây dựng một nền kinh tế tri thức; xã hội công nghiệp, Để đạt được mục tiêu đề ra, Nhà nước phải sử dụng các công cụ vĩ mô để quản lý, điều hành các đối tượng vận động theo định hướng Trong hàng loạt công cụ quản lý thường dùng thì chính sách công là công cụ đắc lực vì thế mục tiêu chính sách cũng chính là mục tiêu quản lý của nhà nước trong từng thời kỳ Như vậy có nghĩa là mục tiêu chính sách phải xuất phát từ đường lối phát triển của chế độ
xã hội do đảng cầm quyền khởi xướng
Đường lối phát triển của một chế độ xã hội do đảng cầm quyền lựa chọn
là ổn định, lâu dài, song quan điểm phát triển của chủ thể có thể thay đổi giữa các thời kỳ tùy theo nhận thức của người lãnh đạo
Các mục tiêu, chủ trương, định hướng chính trị được Đảng “văn bản hóa”, đó là các văn bản của Đảng đề cập đến vấn đề chính sách, như: Văn kiện Đảng, Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Đảng
Ở nước ta, sau khi lãnh đạo nhân dân hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục là đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Kiên trì
Trang 12với định hướng chính trị đó, Đảng ta chủ trương từng bước phát triển kinh tế -
xã hội để đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển để trở thành một nước đang phát triển như ngày hôm nay Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước đã ban hành hàng loạt các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trường theo định hướng như chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh
xã hội, chính sách bảo vệ môi trường, chính sách kinh tế nhiều thành phần, chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước, Mục tiêu của các chính sách này đều hướng vào thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường
Ví dụ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.15) xác định bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Dựa trên cơ sở đường lối phát triển của Đảng, Chính sách an sinh xã hội được ban hành thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong xã hội khi họ mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn giao thông, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khác thông qua các chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội Chính sách này góp phần thực hiện mục tiêu phát triển con người, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, thể hiện rõ tính ưu việt định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam Tương tự như vậy các chính sách của Nhà nước đều được ban hành trên cơ sở đường lối chính trị của Đảng và lại được dùng để thực hiện từng bước mục tiêu theo đường lối ấy
Ở Mỹ có 2 Đảng cầm quyền chiếm ưu thế trong nền chính trị (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa), khi chủ trương một vấn đề thì sẽ có hai quan điểm chính trị khác nhau, và cùng một Đảng nhưng mỗi người trong Đảng lại có những quan điểm khác nhau
Trang 13Như vậy, việc hoạch định chính sách trong từng thời kỳ ngoài việc căn
cứ vào đường lối chính trị còn phải dựa vào quan điểm phát triển của đảng cầm quyền trong thời kỳ đó
hệ khá đặc biệt, chúng vừa làm cơ sở cho nhau vừa thúc đẩy nhau phát triển Chính sách tác động đến các quan hệ xã hội trước và toàn diện hơn so với luật pháp Chính sách là công cụ thể hiện thái độ chính trị của đảng cầm quyền để dẫn dắt các quan hệ xã hội diễn ra theo định hướng, vì thế pháp luật dựa vào đó
để ban hành các quy định cụ thể mỗi loại quan hệ Quan hệ này được hiến định tại khoản 4 Điều 5 Hiến pháp 2013:
“4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện
để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”
Trên cơ sở khoản 4 Điều 5 Hiến pháp 2013, Nhà nước ta đã ban hành các đạo luật về: giáo dục, trẻ em, du lịch, nhà ở, đầu tư, thương mại, Khi các đạo luật được ban hành và đi vào đời sống sẽ giúp các quan hệ xã hội diễn ra
có trật tự theo định hướng thống nhất với các chính sách hiện hành
Do vậy, tình trạng pháp luật của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định và thực thi chính sách công Tình trạng này được hiểu là thực trạng
về số lượng, chất lượng của hệ thống pháp luật hiện có so với yêu cầu phát triển
xã hội và ý thức tuân thủ pháp luật của tổ chức, công dân Các chủ thể chính sách công cần dựa vào tình trạng pháp luật trong một thời kỳ nhất định để hoạch định chính sách công, nhất là lựa chọn biện pháp chính sách cho phù hợp, hiệu quả
Ví dụ: Trước đây, Nhà nước chưa công nhận dịch vụ xe công nghệ, tức
là chưa có công cụ pháp lý về vấn đề này Đầu năm 2016, dịch vụ xe công nghệ được thí điểm ở 5 tỉnh/thành phố lớn: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh