Người ta vẫn nói rằng khoa học là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống. Cụ thể những nội dung đó là:Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các qui luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phục tự nhiên theo qui luật của nó.Con người nắm được các qui luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn. Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức khoa học: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lí của tự nhiên.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học từ xa xưa đã được xem là khoa học về trí tuệ, nó được xem là bộ môn tổng hợp bao gồm mọi sự hiểu biết của con người về thế giới Có những hiểu biết có tính chất chung khái quát, có những hiểu biết có tính chất cụ thể về những lĩnh vực riêng mà ngày nay ta gọi là toán, lý, hoá, lịch sử, đạo đức, nghệ thuật cũng vẫn được xem đó là triết học
Ở thời Phục hưng và cận đại, các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học (ví dụ: Becon, Đề các tơ, ) Triết học có vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển các khoa học cụ thể Và ngược lại, ở giai đoạn này khoa học cũng
có những tác động mạnh mẽ đến những quan điểm về thế giới của các nhà triết học
Người ta vẫn nói rằng khoa học là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống Cụ thể những nội dung đó là:Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các qui luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phục tự nhiên theo qui luật của nó.Con người nắm được các qui luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức khoa học: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lí của tự nhiên
Khoa học chân chính chống lại những quan điểm sai trái (mê tín dị đoan, phân biệt chủng tộc ).Khoa học làm giảm nhẹ lao động của con người, cải thiện chất lượng cuộc sống
Chính vì tầm quan trọng của khoa học trong đời sống thực tiễn, nên em đã
chọn “Phân tích nội dung khái niệm " khoa học" trong triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng và cận đại” làm đề tài phân tích cho bài tiểu luận của mình.
Trang 2Bố cục bài tiểu luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 2 chương:
Chương 1 : Phân tích nội dung khái niệm "khoa học" trong triết học Tây
Âu thời kỳ Phục hưng và cận đại
Chương 2: Vai trò của khoa học đối với thực tiễn nước ta hiện nay
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung vào nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, chức năng của khoa học
Phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận là nghiên cứu khái niệm “khoa học” trong triết học Phục hưng và cận đại
Trang 3Chương 1:
PHÂN TÍCH NỘI DUNG KHÁI NIỆM "KHOA HỌC" TRONG TRIẾT
HỌC THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
1.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Phục hưng và cận đại 1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Phục hưng
* Về kinh tế:
Thời kỳ phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - XVI) Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản đã hình thành trong lòng xã hội phong kiến có xu hướng trở thành phương thức sản xuất thống trị, phá vỡ những cát cứ phong kiến lâu đời trung cổ Việc phát hiện ra châu Mỹ (1492) và con đường hàng hải vòng quanh châu Phi mở đường sang Ấn Độ, Trung Quốc(thế kỷ XVI) đã đem lại cho thương nghiệp, hàng hải, công nghiệp một đà phát triển chưa từng có
* Về chính trị - xã hội:
Đi cùng với phương thức sản xuất TBCN là sự ra đời của giai cấp tư sản, giai cấp này có xu hướng ngày càng lớn mạnh đối lập với lực lượng phong kiến bảo thủ Song, giai cấp tư sản mới lên còn non yếu phải dựa vào nhà nước tập quyền phong kiến của vua chúa để phát triển nền kinh tế theo phương thức sản xuất mới
* Về khoa học:
Do yêu cầu của thực tiễn sản xuất, các ngành khoa học tự nhiên (đặc biệt
là thiên văn học) được phát triển Thời kỳ này có những nhà khoa học và triết học tiêu biểu như: Nicôlai Côpécních, Brunô, Galilê, Nicôlai Kuzan, Tômát Morơ, v.v
Trong số lớn những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức duy vật về thế giới, nổi hơn cả thuyết nhật tâm (lấy mặt trời làm trung
Trang 4tâm) của Nicôlai Côpécních (1475 -1543), để bác bỏ thuyết địa tâm của Ptôlêmê (người Hy Lạp thế kỷ II), một giả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ
mặt trời Thuyết nhật tâm của Côpécních đã giáng một đòn nặng nhất vào thần
học, vào thế giới quan tôn giáo, vào những truyền thuyết của tôn giáo Phát minh của Côpécních là “một cuộc cách mạng trên trời” báo trước một cuộc cách mạng trong các lĩnh vực các quan hệ xã hội
Sự phát triển của khoa học tự nhiên đã tạo nên vũ khí tư tưởng mạnh mẽ
để giai cấp tư sản chống lại hệ tư tưởng duy tâm và tôn giáo Khoa học tự nhiên phát triển đã đặt ra nhiệm vụ cho triết học là phải định ra một phương pháp nhận thức mới dựa trên kinh nghiệm, dựa trên sự nghiên cứu tự nhiên bằng thực nghiệm
* Về mặt tinh thần
Trong thời đại phục hưng ở Tây Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản
đã bênh vực triết học duy vật, chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học trung
cổ Tuy vậy, trong các hệ thống triết học ở thời đại này, các yếu tố của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thường xen kẽ nhau, xu hướng vô thần biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần luận Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập những lập luận kinh viện
Đây là thời kỳ xuất hiện những người “khổng lồ” về tư tưởng như Montaigne, Canvanh (Pháp), Wiliam, Shakespeare (Anh), Leonađơ Vixi, Raphaen, Miken Langiêlo (Ý)
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm vào cuối thế
kỷ XVI rất quyết liệt Tòa án của giáo hội đã quyết án tử hình Brunô, thiêu sống ông trên “quảng trường hoa” ở La Mã chỉ vì Brunô đấu tranh bảo vệ học thuyết Côpécních và bảo vệ quan điểm duy vật về thế giới
Sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện trung cổ đã không ngăn cản được sự phát triển bước đầu của khoa học thực
Trang 5nghiệm và triết học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo
Đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng:
Triết học thời kỳ này chưa thoát hết yếu tố duy tâm, các yếu tố duy tâm và duy vật xen kẽ nhau, nó mang yếu tố “phiếm thần luận”, hay “tự nhiên thần luận”
Triết học chịu ảnh hưởng lớn của của khoa học tự nhiên tới mức khó xác định được gianh giới giữa chúng, nhà triết học đồng thời là nhà khoa học tự nhiên, họ sử dụng những thành quả của khoa học tự nhiên làm cơ sở phát triển CNDV, chống thế giới quan thần học và triết học kinh viện
Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT biểu hiện dưới đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức kinh nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Đặc biệt CNDV thời kỳ này còn được thể hiện qua nền văn hoá nghệ thuật
Triết học thời kỳ này mang đặc sắc của chủ nghĩa nhân văn, phản ánh khát vọng của giai cấp tư sản đang ở trong quá trình hình thành phát triển Nền triết học này đã hướng con người trở về với đời sống hiện thực, thoát khỏi những ảo tưởng tôn giáo, đấu tranh cho sự giải phóng con người Vấn đề quan
hệ giữa con người với thế giới trở thành trung tâm của triết học
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học thời kỳ cận đại
Tình hình kinh tế - xã hội,và khoa học
Thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai cấp
tư sản đã giành được thắng lợi chính trị (Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ XVI; Cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII và Cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII) Trong số các cuộc Cách mạng tư sản Tây Âu, thì Cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) là cuộc cách mạng triệt để nhất - nó xóa bỏ toàn bộ chế độ phong kiến trung cổ, xác lập nền cộng hòa tư sản Pháp
Phương thức sản xuất tư bản được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị, công nghiệp và kỹ thuật rất phát triển Đây là thời kỳ chuyển từ
Trang 6nền “ văn minh nông nghiệp” sang “văn minh công nghiệp”, là thời kỳ phát triển mạnh mẽ thị trường, tạo ra thị trường thống nhất toàn quốc và mở rộng thị trường quốc tế
* Sự phát triển khoa học tự nhiên
Phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kỹ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học
đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển Khoa học tự nhiên thời kỳ này mang đặc trưng là khoa học tự nhiên - thực nghiệm Đặc trưng này tất yếu dẫn đến “thói quen” nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng, tách rời cô lập, không vận động, không phát triển có đề cập tới sự vận động thì chủ yếu là sự vận động
cơ giới, máy móc
Đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ Cận đại
Thứ nhất, đây là thời kỳ thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy tâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này mang hình thức của chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học và khoa học
Thứ ba, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan niệm duy tâm trong việc giải thích xã hội và lịch sử
Những đặc trưng ấy được thể hiện rõ nét ở một số triết gia điển hình Hà Lan, Anh và Pháp như: Xpinôda, Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ, R.Đêcáctơ, G.La méttri, Đ.Điđơrô, P.Hônbách, G.Rútxô
Trước sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng duy vật, vô thần của thời cận đại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phải có những bước cải cách nhất định Nhu cầu ấy đã được phản ánh đặc biệt rõ nét trong triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học thần học G.Béccli
Trang 71.2 Khái niệm khoa học
Khoa học là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về khoa học như sau: Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy (Pierre Auger – Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris, 1961)
Khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật của vật chất, hiện tượng và vận dụng những qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng
Theo quan điểm của Marx, khoa học còn được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác
Ta có thể rút ra khái niệm khoa học: là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá, phát minh ra những kiến thức mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội, tăng lượng tri thức hiểu biết của con người Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận
Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống trị thức về quy luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa Phân biệt ra hai hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển
Trang 8trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và
sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,
Để nhận biết một bộ môn khoa học cụ thể ta cần xác định các tiêu chí sau: phải có một đối tượng nghiên cứu, có một hệ thống lý thuyết, có một hệ thống phương pháp luận và có mục đích sử dụng Ví dụ: khoa học vật lý thì đối tượng nghiên cứu của nó có thể là các nguyên tử, sóng siêu âm, từ trường, bên cạnh một hệ thống lý thuyết, phương pháp luận về những vấn đề cần nghiên cứu đòi hỏi phải xác định được mục đích của việc nghiên cứu những đối tượng đó là
gì Việc phân loại khoa học sẽ căn cứ vào các tiêu thức cụ thể, các quan điểm tiếp cận khác nhau thì việc phân loại khoa học không giống nhau Cụ thể như sau:
- Theo nguồn gốc: Khoa học thuần túy (sciences pures), lý thuyết (sciences theorique), thực nghiệm (sciences experimentales), thực chứng (sciences positives), qui nạp (sciences inductives), diễn dịch (sciences deductives)
- Theo mục đích ứng dụng: Khoa học mô tả, phân tích, tổng hợp, ứng dụng, hành động, sáng tạo
- Theo mức độ khái quát: Cụ thể, trừu tượng, tổng quát Theo tính liên quan giữa các khoa học liên ngành ,đa ngành
Trang 9- Theo cơ cấu hệ thống tri thức: Cơ sở, cơ bản, chuyên ngàn
- Theo đối tượng nghiên cứu: Tự nhiên, kỹ thuật, xã hội nhân văn, công nghệ, nông nghiệp, y học Nhưng thông thường, người ta chia các lĩnh vực khoa học thành hai nhóm chính: khoa học tự nhiên nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên (kể cả đời sống sinh học) và khoa học xã hội nghiên cứu hành vi con người và xã hội Ví dụ: các lĩnh vực khoa học tự nhiên như: Sinh học: nghiên cứu về sự sống; Sinh thái học và Khoa học môi trường: nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa sự sống và môi trường; Hóa học nghiên cứu cấu tạo, các phản ứng hóa học, cấu trúc, và các tính chất của vật chất và các biến đổi lý hóa mà chúng trải qua; Khoa học Trái Đất: nghiên cứu về trái đất, các chuyên ngành gồm có: địa chất học, thủy văn, khí tượng học, địa vật lý và hải dương học, khoa học đất; Vật lý học: nghiên cứu các thành phần cơ bản của vũ trụ, các lực và tương tác của chún, và các kết quả của các lực này Các lĩnh vực khoa học xã hội như: Nhân loại học: nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển về văn hóa và xã hội của loài người; Xã hội học: quan sát các giống người về cách tổ chức trong xã hội, đặc biệt chú trọng đến sự hoạt động của những nhóm người, Chính trị học: nghiên cứu về sự hình thành và phương cách tổ chức của một nền hành chính và quản trị của loài người
1.3 Quan điểm về khoa học trong triết học thời kỳ Phục hưng và cận đại
Vào thời phục hưng (Thế kỷ XV – XVI), ở Tây Âu, phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa hình thành gắn liền với phong trào phục hưng văn hóa, hình thành từ Ý và lan sang các nước phương Tây khác như: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức… Sau Ý, chủ nghĩa tư bản được hình thành ở Anh và các nước Tây
Âu khác Cùng với đó, sự ra đời và phát triển của khoa học tự nhiên, những cải tiến kỹ thuật đã tạo điều kiện cho công – thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ra đời
và phát triển vững chắc
Bên cạnh sự phát triển của nền công – thương nghiệp tư bản chủ nghĩa là
sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt Theo đó, giai cấp tư sản hình thành từ đội
Trang 10ngũ các chủ công trường thủ công, các chủ thầu, người cho vay nặng lãi… và họ ngày càng có vai trò to lớn trong xã hội Giai cấp vô sản ra đời bằng việc quy tụ những người nông dân mất ruộng đất, những người nghèo khổ từ nông thôn di
cư lên thành thị kiếm sống trong các công trường, xưởng thợ của giai cấp tư sản
Chính sự biến đổi điều kiện kinh tế -xã hội đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển của khoa học tự nhiên Các lĩnh vực như toán học, cơ học, địa lý, thiên văn
… đã đạt được những thành tựu đáng kể và bắt đầu tách ra khỏi triết học tự nhiên – đã từng tồn tại trong thời cổ đại Trong bối cảnh đó, triết học cũng đã thay đổi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình Và cùng với sự xuất hiện của Triết học mới, khoa học tự nhiên thật sự ra đời Một lần nữa, ta thấy được mối quan hệ tác động qua lại giữa triết học và khoa học tự nhiên Một loạt các khám phá khoa học đã tạo điều kiện thuận lợi cho triết học phát triển, nhưng bên cạnh đó có thể ảnhhưởng đến phương pháp triết học, cũng là phương pháp mà khoa học tự nhiên áp dụng, tức triết học mới tác động trở lại khoa học tự nhiên
về mặt phương pháp
Tuy nhiên, những ngành khoa học này vẫn còn ở giai đoạn đầu của sự phát triển Trong từng lĩnh vực nghiên cứu khoa học đã thu được nhiều tài liệu phong phú và có giá trị Trong đó, cơ học là ngành phát triển nhất trong giai đoạn này
Chẳng hạn, kết quả to lớn của Niutơn đạt được về cơ học đã ảnh hưởng đến phương pháp nhận thức thế giới thời kỳ này Nhìn một cách toàn diện, khoa học tự nhiên thời kỳ này còn ở giai đoạn thu thập tài liệu; các ngành khoa học tự nhiên chỉ nghiên cứu những bộ phận riêng biệt của thế giới và sử dụng phương pháp thực nghiệm, phương pháp phân tích là chủ yếu Vì vậy, quan điểm cơ học
và phương pháp thực nghiệm đã thấm nhuần vào các tư tưởng của con người lúc bấy giờ
Phranxi Bêcơn(1561 - 1621) người sáng lập triết học duy vật Anh.
*Thế giới quan: Bêcơn thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất Khoa học không biết một cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tự nhiên