1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Phân tích về quyền nhân thân và quyền tài sản trong đối tượng bảo hộ quyền tác giả với sự liên hệ thực tiễn lĩnh vực xuất bản

27 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận phân tích về quyền nhân thân và quyền tài sản trong đối tượng bảo hộ quyền tác giả với sự liên hệ thực tiễn lĩnh vực xuất bản
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 41,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đăng ký quyền tác giả hay còn gọi là đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả là việc làm cần thiết để đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm, chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm như: mạo danh tác giả, sao chép, sử dụng tác phẩm mà không được sự cho phép của tác giả. Để tạo ra một tác phẩm có giá trị và sáng tạo, đòi hỏi sự lao động trí óc, trí tuệ, thời gian và tài chính. Việc đăng ký bản quyền tác giả là sự chứng nhận cho sự sáng tạo, thành quả lao động của tác giả. Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong trong hoạt động xuất bản, những đối tượng cụ thể được bảo hộ quyền tác giả. Làm rõ về tầm quan trọng về bảo hộ quyền tác giả trong quá trình sáng tạo. Mỗi cá nhân, tập thể, tổ chức trong quá trình sáng tác, đều được được pháp luật, xã hội công nhận về những thành quả mà mình sáng tạo hoặc sở hữu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Vấn đề bảo hộ và sở hữu trí tuệ trong bối cảnh xã hội hiện đại pháttriển ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và là một vấn đề nan giải đối vớinhiều quốc gia trên thế giới Vấn đề bảo hộ quyền tác giả đang được rất nhiềungười quan tâm khi lao động trí óc ngày càng phát triển và ngày càng nhiềusản phẩm trí tuệ được tạo ra kéo theo đó tình trạng xâm phạm quyền sở hữutrí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng cũng đáng báo động Chính vì vậy,việc đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ là việc tác giả cần phải làm khi sản sinh

ra những đứa con tinh thần của mình, giúp chủ thể sáng tạo ra tác phẩm, chủ

sở hữu tác phẩm khẳng định vững chắc hơn nữa quyền tác giả của mình.Đồng thời, nó sẽ là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng chứng minh chonguồn gốc của tác phẩm nếu có tranh chấp xảy ra Do đó, đăng ký quyền tácgiả là một việc vô cùng quan trọng để bảo vệ những tài sản trí tuệ

Quyền tác giả là quyền của cá nhân hoặc một tổ chức đối với sản phẩmlao động trí óc của mình tạo nên Quyền tác giả được ghi nhận cho các tácphẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc,tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứngdụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính Nhữngloại hình trên đều là một loại sản phẩm vật chất trừu tượng, là cả một quátrình dày công nghiên cứu sáng tác không phải ngày một ngày hai có thể hoànthành Mà hiện nay với sự phát triển đi lên từng ngày của công nghệ thôngtin, việc vi phạm bản quyền diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực với các hình thức

và mức độ khác nhau Vấn đề này vẫn diễn ra hàng ngày và nếu vẫn còn tiếptục thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, đầu tư, phát triển kinh tế

- văn hóa - xã hội của đất nước

Trong thời gian qua Nhà nước đã có ban hành nhiều văn bản pháp luật

để bảo hộ nhưng căn cứ vào thực tiễn những năm qua vẫn còn xảy ra rất nhiều

Trang 2

vụ việc, việc áp dụng luật vẫn còn lỏng lẻo chưa đủ sức răn đe.

Mục đích nghiên cứu

Đăng ký quyền tác giả hay còn gọi là đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả

là việc làm cần thiết để đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm, chống lạicác hành vi sử dụng trái phép tác phẩm như: mạo danh tác giả, sao chép, sửdụng tác phẩm mà không được sự cho phép của tác giả Để tạo ra một tácphẩm có giá trị và sáng tạo, đòi hỏi sự lao động trí óc, trí tuệ, thời gian và tàichính Việc đăng ký bản quyền tác giả là sự chứng nhận cho sự sáng tạo,thành quả lao động của tác giả Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận vàthực tiễn về vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong trong hoạt động xuất bản,những đối tượng cụ thể được bảo hộ quyền tác giả Làm rõ về tầm quan trọng

về bảo hộ quyền tác giả trong quá trình sáng tạo Mỗi cá nhân, tập thể, tổ chứctrong quá trình sáng tác, đều được được pháp luật, xã hội công nhận về nhữngthành quả mà mình sáng tạo hoặc sở hữu

Đối tượng nghiên cứu

Cũng chính là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là các Tác phẩmvăn học, nghệ thuật và khoa học

Những cá nhân, tập thể, tổ chức đã và đang trong công cuộc sáng tạocác tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác.Phạm vi nghiên cứu không giới hạn, trên thế giới, trong nước và tập trung đisâu hơn vào từng đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật ViệtNam (Luật sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản khác có liên quan)

Trang 3

xuất bản học, xã hội học, những kiến thức về văn hóa xã hội Luận văn đề cập

và đi sâu nghiên cứu về các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả Tập trungchủ yếu vào quyền nhân thân và quyền tài sản trong đối tượng bảo hộ bằngcách đưa cách dẫn chứng xung quanh lĩnh vực xuất bản Thông qua các quyđịnh, luật liên quan đến bảo hộ quyền tác giả để minh chứng cho quyền tàinhân thân và quyền tài sản đối với những người sáng tạo tác phẩm, chủ sởhữu

Trang 4

NỘI DUNG

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỐI TƯỢNG BẢO

HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Theo Luật sở hữu trí tuệ 2005 Bảo hộ quyền tác giả là Tổng hợp chếđịnh pháp lý nhằm bảo hộ bằng pháp luật quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả,chủ sở hữu tác phẩm đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệthuật, khoa học

“Các quyền tinh thần và quyền kinh tế thuộc quyền tác giả là đối tượng bảo hộ quyền tác giả”

Trong cuốn Quyền tác giả và hoạt động xuất bản có nói “Quyền tác giả bao gồm, không phân biệt, tất cả các tác phẩm văn học và nghệ thuật Một mặt, nếu không cần phải thực hiện bất cứ một thủ tục nào thì riêng một thành phẩm vật chất được tạo ra có thể được bảo hộ bằng quyền tác giả Mặt khác, việc bảo hộ này gắn liền sự tồn tại của cái mà các luật gia gọi là “một sáng tạo có sự độc đáo” Việc kết hợp các tiêu chuẩn khác đó cho phép, dựa theo luật pháp và pháp chế, xây dựng một tiểu luận loại hình thái học về các tác phẩm được bảo hộ.”

1.2 Quyền tác giả, đăng ký bản quyền tác giả (bổ sung)

Quyền tác giả là quyền của cá nhân hoặc một tổ chức đối với sản phẩmlao động trí óc của mình tạo nên Quyền tác giả được ghi nhận cho các tácphẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc,

Trang 5

tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứngdụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính Sản phẩm

đó thuộc về tác giả và do tác giả sáng tạo ra chứ không sao chép, copy từ bất

kỳ nguồn nào

Quyền tác giả được hiểu như là một nhóm các quyền, gồm các quyềnnhân thân và các quyền tài sản Các quyền tài sản được gọi là “độc quyền”khai thác hoặc cho người khác khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tácgiả Các quyền nhân thân (ngoại trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vôthời hạn

1.3 Đối tượng bảo hộ quyền tác giả

Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩmkhác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác

Những tác loại hình này đều dựa trên sự sáng tác có thể là của một cáhay là một tập thể với mong muốn truyền đạt thông tin nghiên cứu của mìnhđến với công chúng các tác phẩm được viết bằng chữ hoặc một ký tự được in

ra thành một bản vật chất

Ví dụ như với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạotập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phảnánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xãhội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏnghoặc bằng cách khác Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:

Truyện, thơ, câu đố;

Điệu hát, làn điệu âm nhạc;

Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;

Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫukiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức

Trang 6

Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gianphải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và đảm bảo giữ gìn giá trịđích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.

Bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết trình

Các tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dướimột hình thức vật chất nhất định

Ví dụ như “bài giảng” được hiểu là bài thuyết trình được truyền đạttrực tiếp mà trước, sau hoặc vào thời điểm đang thuyết trình Bài giảng đóđược thể hiện dưới dạng vật chất nhất định bằng bất kỳ phương thức địnhhình nào, nhằm đưa các thông tin về một chủ đề nhất định cho một nhómngười nghe hoặc cho những người quan tâm khác Bài giảng được đối xử như

là tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả Để bài giảng được đăng kýbảo hộ quyền tác giả thì cần có một số các điều kiện cơ bản như: Đối với bàigiảng của tác giả thì tác giả phải là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và làchủ sở hữu; bài giảng phải được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưađược công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Namtrong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầutiên ở nước khác

Tác phẩm báo chí, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh,kiến trúc;

Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trongbản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm,ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay khôngtrình diễn

Tác phẩm sân khấu là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn,bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hìnhthể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác

Trang 7

Tác phẩm điện ảnh là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kếthợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyêntắc của ngôn ngữ điện ảnh Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điệnảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.

Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc,hình khối, bố cục như: Hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và cáchình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản Riêng đối với loại hình

đồ họa, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ

ký của tác giả

Mỹ thuật ứng dụng khác là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màusắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vậthữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: Thiết kế đồ họa (hìnhthức thể hiện của biểu trưng, hệ thống nhận diện và bao bì sản phẩm), thiết kếthời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí

Tác phẩm nhiếp ảnh Là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quantrên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay cóthể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹthuật khác Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích

Tác phẩm kiến trúc Là tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm:+ Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nộithất, phong cảnh

+ Công trình kiến trúc

Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

Bản đồ, họa đồ, sơ đồ, bản vẽ địa hình, công trình khoa học

bao gồm họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, các loạicông trình khoa học và kiến trúc

Trang 8

1.4 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Để trở thành “tác phẩm” – là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả, thìcác sản phẩm, ý tưởng trong các lĩnh vực văn học, khoa học, nghệ thuật phảiđảm bảo các điều kiện sau:

– Tác phẩm phải được cụ thể hoá trên một loại vật chất nhất định;– Tác phẩm phải có tính nguyên gốc (tác phẩm phải do chính tác giảtrực tiếp sáng tạo, không sao chép, bắt chước tác phẩm khác);

– Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm ngườitrực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả;

– Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được công bố lần đầutiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào Tác phẩm phải cótính nguyên gốc, không sao chép hay bắt chước tác phẩm khác

Ngoài ra tác phẩm không thuộc các đối tượng không được đăng kýquyền tác giả quy định tại Điều 15 Luật SHTT 2005 gồm:

– Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin

– Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khácthuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó

– Quá trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý,

số liệu

Trang 9

CHƯƠNG II QUYỀN CỦA ĐỐI TƯỢNG BẢO HỘ

2.1 Quyền nhân thân

“Quyền nhân thân là quyền cơ bản của công dân, trong đó có công dân là tác giả được quy định trong bộ Luật Dân sự Tuy nhiên, tác giả còn là người sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Vì vậy, quyền nhân thân của tác giả là các quyền gắn liền với nhân thân của người sáng tạo

Quyền đứng tên trên tác phẩm là cách gọi khác của quyền được đứngtên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tácphẩm được công bố, sử dụng trong nhóm quyền nhân thân thuộc cơ chếquyền tác giả theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửađổi, bổ sung 2009 Chính vì thuộc nhóm quyền nhân thân không thể chuyểngiao nên không phải bất cứ chủ sở hữu quyền tác giả nào cũng có quyền này.Việc đứng tên tác phẩm có ý nghĩa trong việc thể hiện được dấu ấn của tác giảđối với tác phẩm

Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc chỉ duy nhất có tác giảmới có được quyền nhân thân riêng biệt này Căn cứ theo quy định tại Điều

37 và Điều 38 Luật này thì chủ thể có quyền đứng tên trên tác phẩm bao gồm:

Trang 10

 Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả: Tác giả sử dụng thời gian, tàichính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm

 Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả: Các đồng tác giả sửdụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo

Tác giả có quyền sử dụng tên thật hoặc bút danh của mình trên tácphẩm, có thể vì một số lí do nào đó tác giả không muốn để tên thật thì sẽ lấy

một bút danh khác Như nhà văn Nguyên Ngọc khi viết tiểu thuyết “Đất nước

đứng lên” đã để tên thật của mình là Nguyên Ngọc trên tác phẩm Sau này

khi các Nhà xuất bản phát hành các bản in khác cũng đều để tên tác giả Nguyên Ngọc như lúc đầu ông sáng tác Tuy nhiên Năm 1962 ông trở lại

miền Nam, lấy bí danh Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở khu V, là Chủ tịch

chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng của quân khu V Trong thời gian này ông sáng tác truyện Rừng xà nu

Được đặt tên cho tác phẩm

Tác giả đặt tên cho tác phẩm của mình nhằm mục đích cá biệt hóa tácphẩm; thể hiện dấu ấn cá nhân và cá tính sáng tạo Hơn nữa, cũng là cơ sở đểngười đón nhận hình dung nội dung tư tưởng của tác phẩm ngay khi biết têntác phẩm Tên gọi của tác phẩm thể hiện khái quát về chủ đề của tác phẩm,thể hiện dấu ấn cá nhân của tác giả và tạo nên sự phân biệt với các tác phẩmkhác Một cái tên độc đáo, sáng tạo có thể gây ấn tượng ban đầu, thu hútngười khác tiếp cận với tác phẩm

Trang 11

Luật sở hữu trí tuệ quy định các đối tượng có quyền đặt tên cho tácphẩm, gồm:

– Tác giả, người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm

– Quyền đặt tên cho tác phẩm không áp dụng đối với tác giả của tácphẩm dịch Điều này là phù hợp bởi tác phẩm dịch phải tôn trọng tác phẩmgốc Việc chuyển sang ngôn ngữ, hệ thống ký hiệu khác nhưng không cónghĩa là được đặt lại tên tác phẩm gốc

– Tác giả chương trình máy tính và các nhà đầu tư sản xuất chươngtrình máy tính có thể thỏa thuận về việc đặt tên và việc phát triển các chươngtrình máy tính

Được công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật SHTT, thì quyền công bố tácphẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm được xác định là quyềnnhân thân có thể chuyển nhượng được cho người khác Có thể nói, quyềncông bố tác phẩm hoặc cho phép người phép công bố tác phẩm gắn liền vớiyếu tố “kinh tế, tài sản” nhiều hơn so với việc gắn với yếu tố nhân thân, danh

dự, uy tín của cá nhân Cũng chính vì vậy, mà tại Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ

có quy định “Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này” Nói một cách đơn giản thì quyền công bố tác phẩm

hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là một trong những quyền thuộcquyền tác giả được thừa kế theo quy định của pháp luật

Khoản 2 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP về quyền tác giả vàquyền liên quan ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định:

“Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành

Trang 12

tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc”.

Như vậy, công bố tác phẩm được hiểu là việc phát hành bản sao tácphẩm đến công chúng, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của côngchúng tùy theo bản chất của tác phẩm, với sự đồng ý của chủ sở hữu quyềntác giả Các hành vi trình diễn một tác phẩm sân khấu, âm nhạc, trình chiếutác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng, phát sóng một tác phẩm văn học,trưng bày tác phẩm tạo hình, xây dựng tác phẩm kiến trúc không được coi làcông bố tác phẩm

Công bố tác phẩm hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quancủa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.Việc xác định một tác phẩm đã đượccông bố hay chưa có ý nghĩa rất quan trọng:

- Thứ nhất, việc xác định một tác phẩm đã được công bố có nghĩa xácđịnh thời điểm công bố tác phẩm đó Thời điểm này có ý nghĩa quan trọng,làm căn cứ tính thời hạn bảo hộ của tác phẩm

- Thứ hai,việc xác định tác phẩm đã được công bố xác định giới hạnlãnh thổ mà tác phẩm được bảo hộ bởi lẽ phạm vi bảo hộ quyền tác giả mangtính lãnh thổ

- Thứ ba, việc xác định tác phẩm đã được công bố xác định giới hạnquyền tác giả và quyền liên quan Giới hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liênquan chính là các trường hợp sử dụng tác phẩm không cần xin phép, không

Trang 13

cần trả tiền nhuận bút, thù lao được quy định tại Điều 25 và Điều 32 LuậtSHTT 2005 (Sửa đổi bổ sung 2009) Chỉ những tác phẩm “đã được công bố”mới có thể được áp dụng hai điều luật nêu trên mà thôi Vấn đề này càng trởnên quan trọng đối với các tác phẩm tính thời hạn bảo hộ không theo nguyêntắc đời người, như tác phẩm điện ảnh, tác phẩm di cảo và tác phẩm không rõtác giả hoặc tác phẩm khuyết danh, tác phẩm phát sóng.

“Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, âm nhạc, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng, phát sóng một tác phẩm văn học, trưng bày tác phẩm tạo hình, xây dựng tác phẩm kiến trúc.”

Vào tháng 9 năm 2019 Nhà xuất bản Trẻ tiếp tục đồng hành cùng nhà

văn Nguyễn Nhật Ánh phát hành truyện dài “Làm bạn với bầu trời”

Thông tin từ NXB tiết lộ: “Tác phẩm mới nhất của nhà văn NguyễnNhật Ánh sẽ mang đến một câu chuyện giản dị, nhưng chứa đầy bất ngờ chotới trang cuối cùng Và đẹp lộng lẫy, vì lòng vị tha và tình yêu thương, khiếnmắt rưng rưng vì một nỗi mừng vui hân hoan Cuốn sách như một đốm lửa

thắp lên lòng khát khao sống tốt trên đời” Làm bạn với bầu trời của Nguyễn

Nhật Ánh viết về điều tốt mà không khiên cưỡng, giáo điều Tác phẩm đongđầy cảm xúc tích cực, khiến độc giả muốn được hưởng, được làm những điềutốt dù nhỏ bé

Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây thương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Theo Khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì sửa chữa, cắt xénhoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh

dự và uy tín của tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả

Ngày đăng: 13/10/2023, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w