1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSVHVN - Đặc trưng văn hoá tín ngưỡng Việt Nam

17 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Văn Hoá Tín Ngưỡng Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn về sự cao cả của văn hóa văn minh, chỉ cần cảm nhận qua những hình thức tín ngưỡng tôn giáo mang đậm đà bản sắc Việt là thấy rõ.. Những hình thức tín ngưỡng sinh hoạt tâm linh mang m

Trang 1

MỞ ĐẦU

Sự tồn tại hào hùng và quật cường của bất cứ một dân tộc nào, trong bất cứ một hoàn cảnh địa lý nào, bao giờ cũng đặt ra những câu hỏi lớn Bởi lịch sử của nhân loại đã có tiền lệ, không ít những quốc gia thịnh trị, sau một thời gian dài rực rỡ xuất hiện đã dần dần tàn lụi, thậm chí vĩnh viễn biến mất Chẳng nói đâu xa, những quốc gia lừng lẫy một thời ở phía nam Đại Việt ví như Chiêm Thành hay Phù Nam là một minh chứng Ở họ, từng có những thiết chế xã hội văn minh, từng có những giá trị văn hóa độc đáo đỉnh cao

Đã có rất nhiều những đại thuyết sâu sắc bàn về sự tồn vong của một quốc gia, một dân tộc từ góc nhìn văn hóa Ngoài vô số những nguyên nhân hữu lý khác nhau, thì tựu chung đều cho rằng, sự tồn vong của một đất nước luôn phụ thuộc vào hai yếu tố lớn Đầu tiên phải thâm hậu mang một nội lực tinh hoa văn hóa của riêng mình, và tinh hoa đó được đặc biệt thể hiện ở con người Hai là luôn bền vững bảo đảm một nền văn minh đích thực, ngang bằng cao không kém những nền văn minh chung quanh đang lăm le xâm nội Hạnh phúc thay cho nước Việt, hơn ngàn năm nay chúng ta luôn sở hữu cả hai điều đó Vấn đề con người tinh hoa thì quá dễ thấy, bởi như "Đại cáo bình Ngô" tự tin từng viết: "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Nhưng hào kiệt đời nào cũng có" Còn về sự cao cả của văn hóa văn minh, chỉ cần cảm nhận qua những hình thức tín ngưỡng tôn giáo mang đậm đà bản sắc Việt là thấy rõ

Những hình thức tín ngưỡng sinh hoạt tâm linh mang mầu sắc bản địa, luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của đại bộ phận cư dân Việt Với tuyệt đối người Việt, gia đình dòng họ là nhất, nên tín ngưỡng thờ kính tổ tiên có thể coi gần như là "quốc đạo" Không kể sang hèn, nhà nào nhà nấy đều thành kính gìn giữ một bàn thờ gia tiên Ai ai mặt cũng long lanh một mầu thành thực sám hối, từ quan chí dân tất thẩy sắc diện đều thăng hoa thành thánh thiện

Trang 2

Nói chung những thao tác cầu cúng, với các nghi thức trang trọng phong phú, đa dạng luôn hiện diện thường xuyên ở mọi thành phần dân tộc khác nhau trên đất nước Tục thờ thần, thờ thánh thể hiện tính chất tín ngưỡng

đa thần đã có từ xa xưa

Loại đi vài điều không hay về những khía cạnh nhaỵ cảm của tín ngưỡng và tôn giáo nói chung thì tín ngưỡng mang bản sắc thuần Việt nói riêng vẫn luôn là những viên ngọc quý, nó tạo một sinh lực dồi dào cho sức sống của dân tộc Trong bối cảnh quốc tế đương đại, khi chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang lên ngôi ở vô số các quốc gia lớn nhỏ, thì một chủ nghĩa dân tộc chân chính luôn đem đến những bài học quý giá Sức mạnh dân tộc luôn

có một vị trí hàng đầu Các tín ngưỡng tôn giáo thuần chất bản địa cũng vậy,

nó chính là sự kết tinh đặc sắc của tâm thế Việt Để giản dị từ đó, nó tự tin hiện diện trong tiến trình văn minh thế giới Muốn cho lễ hội trở thành một hình thái hoạt động văn hoá mang nhiều ý nghĩa và ích lợi xã hội, những người quản lý văn hoá phải biết gạn đục khơi trong, phải nhận rõ cái hay cái đẹp, giá trị tinh thần của lễ hội, cũng như phải biết những mặt lạc hậu, những yếu tố mê tín trong lễ hội Muốn vậy, việc tìm hiểu bản chất các lễ hội cổ truyền, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian là hết sức cần thiết

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Đặc trưng văn hoá tín ngưỡng Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận lần này trước hết để phục vụ hoạt

động học tập, nghiên cứ và để phục vụ nhu cầu hiểu biết áp dụng thực tiễn

Trang 3

NỘI DUNG:

I VÀI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG VĂN HOÁ VIỆT

1.1 Định nghĩa khái niệm tín ngưỡng văn hoá:

- Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải

thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng

- Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo

- Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo:

- Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo

- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc, còn tôn giáo thường không mang tính dân gian

1.2 Văn hoá tín ngưỡng người Việt:

Văn hoá tín ngưỡng người Việt thường được phân loại hết sức rõ ràng…

- Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên

(nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường

nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó

làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.

- Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của

người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôn giáo

ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân

Trang 4

- Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện

sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn

giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn

là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầu xin Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong

đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt là tính dụng Tôn giáo là để

phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống

A, Tín ngưỡng phồn thực

1 Nguồn gốc:

• Sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người (văn hóa gốc nông nghiệp)

• Những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật để giải thích hiện thực – triết lí

âm dương

• Những trí tuệ bình dân nhìn thấy ở thực tiễn một sức mạnh siêu nhiên

và sùng bái nó như thần thánh

• Kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực ( Phồn: nhiều, thực: nảy nở)

2 Biểu hiện:

• Thờ cơ quan sinh dục nam nữ (thờ sinh thực khí) (thực: nảy nở, khí: công cụ)

• Đây là hình thức đơn giản của tín ngưỡng phồn thực phổ biến ở các nền văn hóa gốc nông nghiệp

• Thờ hành vi giao phối

• Ý nghĩa của tục này: sự hợp thân của nam nữ như một ma thuật kích thích sự sinh sôi nảy nở của vạn vật

3 Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống người Việt cổ:

• Chày – cối: Sinh thực khí nam nữ

• Việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối

Trang 5

• Biểu hiện ở trống đồng…?

• Ở các nhà mồ Tây Nguyên (trang trí cơ quan sinh dục nữ thần Tây Nguyên, biểu hiện của sinh tồn)

B, Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

1 Nguồn gốc

• Là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người

• Đặc biệt là đối với các nền văn hóa gốc nông nghiệp

2 Biểu hiện

• Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến các nữ thần chiếm ưu thế

•Các nữ thần thường là các bà mẹ

• Ngoài ra còn có việc thờ động vật và thực vật…

3 Vai trò của tín ngưỡng

• Các nữ thần Việt Nam =>Tục thờ Mẫu: Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước

• Biểu hiện ở tin ngưỡng Tam Phủ: Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thượng Thoải (Thủy)

• Mẫu ở vị trí cao nhất, chính giữa, thường có sắc phục mầu đỏ (Bà Chúa Liễu Hạnh), Mẫu đệ Nhất Thượng Thiên

• Bên phải có sắc phục mầu xanh, Mẫu đệ Nhị Thượng Ngàn

• Phía trái là Mẫu đệ Tam Thoải Phủ (cai quản sông nước)

• Thượng thiên thánh mẫu, vị thần sáng tạo ra bầu trời, trước hết là đại diện cho nguồn sinh lực vô biên, cốt lõi của sự sống và mọi nguồn hạnh phúc

• Bà còn được biết đến là Mẫu Liễu Hạnh của Tứ Bất Tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam

• Thượng ngàn thánh mẫu là mẹ thế gian gắn với người Việt từ thời nguyên thủy Trước đây, bà không chỉ có mặt ở rừng núi mà còn có mặt ở khắp mọi miền

• Bà là con gái của Sơn Tinh

Trang 6

• Mẫu Thoải (Thủy) hay Bà Chúa Lạch là vị thần sáng tạo ra mọi miền của nước, biển, sông, suối, đầm, hồ

• Sau này ngài còn mang chức năng gần giống với Quan Âm Nam Hải

• Hệ thống các chùa Tứ Pháp (Bắc Ninh): Pháp Vân (Chùa Bà Dâu), Pháp Vũ (chùa Bà Đậu), Pháp Lôi (chùa Bà Tướng), Pháp Điện (chùa Bà Dàn)

• Pháp Vân (nữ thần mây)

• Pháp Vũ (nữ thần mưa)

• Pháp Lôi (nữ thần sấm)

• Pháp Điện (nữ thần chớp)

• Tứ pháp <= Man Nương:

• Man Nương – Khâu Đà La – Chùa Linh Quang (Bắc Ninh)

• Để đứa bé vào cây dâu – mưa to – cây dau trôi về Luy Lâu – Sĩ Nhiếp cho người vớt lên làm Điện Kính Thiên – Man Nương dùng dãi yếm kéo cây lên

• Sĩ Nhiếp cho tạc tượng Tứ Pháp

• Cây có khối đá – vứt xuống sông – sáng rực – không ai vớt được – tự nhảy vào lòng Man Nương – Thạch Phật Quang

• Man Nương thờ ở chùa Phúc Nghiêm

• Chùa Dâu – Thuận Thành – Bắc Ninh

• Tượng Pháp Vân ở Chùa Dâu(phía trước là hộp Thạch Phật Quang)

C, Tín ngưỡng sùng bái con người

1 Nguồn gốc

• Do quan niệm trong con người có thể xác và linh hồn

• Người xưa đã thần thánh hóa linh hồn và linh hồn trở thành đầu mối tín ngưỡng

2 Biểu hiện

• - Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Niềm tin chết là về nơi chín suối, ở nơi chín suối, ông bà có thể đi về thăm nom phù hộ con cháu

Trang 7

• Tục thờ thổ công

• Tín ngưỡng thờ thần: thần làng (thành Hoàng), Tứ bất tử (Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh)

• Tản Viên (với truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh) và Thánh Gióng (với truyền thuyết Thánh Gióng) là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một cộng đồng cư dân nông nghiệp

=>Một mặt, ứng phó với môi trường tự nhiên là chống lụt và, mặt khác, ứng phó với môi trường xã hội là chống giặc ngoại xâm

Sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên ĐẤT NƯỚC

Liễu Hạnh - người con gái quê ở xã Vân Cát (huyện Vụ Bản, Nam Định), tương truyền là công chúa con Trời, ba lần (con số 3!) từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên Đàng,

Xin vua cha cho xuống trần gian để sống cuộc đời của một người phụ

nữ bình dị với khát vọng về tự do, hạnh phúc

Chính là hiểu tượng cho ước vong thứ hai Hai ước vọng thiêng liêng

ấy đã tạo nên CON NGƯỜI

Bản chất văn hoá tín ngưỡng Việt

- Bản chất mối quan hệ giữa lễ hội và tín ngưỡng là mối quan hệ giữa nguyên nhân và hiện tượng, giữa nội dung và hình thức, giữa chuẩn mực, giá trị và biểu tượng, giữa tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng Nhà nghiên cứu Lê Hồng Lý đã chỉ ra rằng, "Kèm theo các tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ Thành hoàng, đạo Mẫu, tín ngưỡng nông nghiệp, là các lễ hội dân gian Đó là những sinh hoạt văn hoá cộng đồng mang đậm tính chất tín ngưỡng của người Việt qua các thời đại"

- Những lễ hội cổ truyền quy mô mà ta thấy ngày nay đều bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh Bắt đầu có thể chỉ là những nghi lễ đơn sơ, tập hợp một cộng đồng nhỏ của một phạm vi cư trú nhỏ, hoặc có cùng một nguyện vọng thỉnh cầu sự che chở của các lực lượng siêu nhiên nào đó với một mục đích cụ thể: mưa thuận gió hoà, không dịch bệnh Dần dần, nghi lễ

Trang 8

lớn lên về quy mô, mở rộng sức thu hút người tham dự và bồi đắp thêm nhiều lớp ý nghĩa của các tầng văn hoá về sau Bên cạnh những yếu tố tín ngưỡng dân gian, có thêm dấu ấn của các tín ngưỡng và tôn giáo ngoại nhập như: Phật, Nho, Lão "Xuất phát từ tín ngưỡng, lễ hội dân gian trở thành một sinh hoạt tín ngưỡng lớn nhất, tổng hợp nhất trong văn hoá làng xã Việt Nam"

- Tín ngưỡng là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của con người

và của cộng đồng người ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào một thái thiêng liêng, cái cao cả, cái đáng sùng kính trong thế giới người hoặc thế giới siêu nhiên nào đó Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác biệt nhau về hình thức và trình độ tổ chức Đặc điểm này không chỉ quy định sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, mà còn xác định bản chất và đặc trưng dân gian của tín ngưỡng Ta có thể nhận thấy, về bản chất, tín ngưỡng khi chưa thành tôn giáo sơ khai hay tôn giáo dân gian thì bản thân nó là tín ngưỡng dân gian

- Mikhail Bakhtin, một nhà văn hoá nổi tiếng người Nga, đã cung cấp một sự kiến giải có tính nguyên lý về lễ hội Ông viết: "Hội hè (mọi kiểu) - đó

là một hình thái nguyên sinh rất quan trọng của văn hoá nhân loại Không thể tìm nguồn gốc và không thể cắt nghĩa nó xuất phát từ những điều kiện thực tiễn và những mục tiêu của lao động xã hội, hoặc là - hình thức giải thích còn dung tục hơn - từ nhu cầu sinh vật (sinh lý) là được nghỉ ngơi thường kỳ Hội

hè bao giờ cũng có một nội dung hàm nghĩa sâu, một nội dung thế giới cơ bản

và sâu sắc" Theo ông, không có một khâu nào trong toàn bộ quá trình lao động "tự thân chúng lại có thể trở thành hội hè" Hay hiểu một cách khác, là

lễ hội không chỉ xuất phát thuần tuý từ quá trình lao động, từ những phương tiện vật chất, mà trước hết là từ mục tiêu cao nhất của sự tồn tại nhân sinh, tức

là từ thế giới tinh thần, tư tưởng, từ lý tưởng sống

- Hoạt động của lễ hội bao giờ cũng liên quan mật thiết với hệ thống quan niệm về thời gian: thời gian vũ trụ, thời gian sinh học, thời gian lịch sử

và thời gian tâm lý (còn gọi thời gian tâm linh) Trong sự tụ hội của bốn phạm

Trang 9

trù thời gian đó, lễ hội được tổ chức Đó là một thời điểm có tính bước ngoặt trong cuộc sống của giới tự nhiên, của lịch sử, của xã hội và con người (những ngày sinh và ngày hoá của một vị thánh, một vĩ nhân, một anh hùng, một vị thành hoàng làng, hoặc những ngày tái sinh, tái lập một vụ mùa, một ngành nghề) Chẳng hạn, ở nước ta, thời gian lễ hội của các tỉnh thuộc châu thổ Bắc Bộ tập trung vào mùa xuân, mật độ cao nhất vào tháng giêng âm lịch, thậm chí có những ngày lễ hội diễn ra rất nhiều nơi: ngày mồng 4, mồng 6, mồng 8 tháng giêng Sau đó lễ hội diễn ra tập trung ở nửa đầu tháng hai và nửa đầu tháng ba âm lịch Ở Tây Nguyên, lễ hội tập trung vào tháng ba Những ngày đó tạo nên cảm quan chủ đạo trong lễ hội, tạo nên tính thiêng liêng và tính triết lý của cả lễ hội Cái lý tưởng và cái hiện thực nhất thời được hoà làm một trong cảm quan thế giới lễ hội đặc thù đó

- Tính chất văn hoá tín ngưỡng của lễ hội thể hiện rõ trong mối quan

hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội, sự gắn kết mật thiết và sự tác động qua lại giữa tín ngưỡng và văn hoá, mà thực chất là mối quan hệ của hai hình thái văn hoá, văn hoá giao tiếp cộng đồng và văn hoá tâm linh

- Các nhân tố tín ngưỡng làm hạt nhân tinh thần, tư tưởng và tâm lý cho các hoạt động lễ hội cùng các yếu tố văn hoá phát huy và thăng hoa Người ta hay nói tới mối quan hệ giữa phần lễ và phần hội trong lễ hội - bản chất mối quan hệ này là (quan hệ) phần tín ngưỡng và phần văn hoá Phần tín ngưỡng mang lại tính thiêng liêng, yếu tố thanh lọc cho mọi thành viên về dự

lễ hội Ngược lại, những yếu tố văn hoá, nghệ thuật dân gian mang đến cho hoạt động tín ngưỡng sức sống của đời thường, sự gần gũi với mọi số phận con người, xoá đi gián cách giữa các nhóm xã hội, thức dậy trong mỗi người

sự tự tin vào chính mình, khơi dậy tinh thần tự nguyện và làm mềm mại những gì khô cứng trong giáo lý, đơn giản hoá những lễ thức phức tạp của một vài tín ngưỡng Cũng chính nhờ vậy, trong một hình thái lễ hội, cả hai yếu tố tín ngưỡng và văn hoá đều tồn tại và dung dưỡng cho nhau

II ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ TÍN NGƯỠNG VIỆT

Trang 10

Lễ hội tín ngưỡng dân gian trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng nhằm thoả mãn một nhu cầu về văn hoá tâm linh của nhân dân ta Bởi vì nó biểu hiện đậm đặc bản chất và đặc trưng văn hoá tín ngưỡng, tích hợp nhiều hình thức và trình độ tín ngưỡng dân gian, tạo nên sự đa dạng và phong phú về màu sắc của lễ hội Trong đời sống văn hoá hàng năm, thời gian

lễ hội là thời gian quan trọng và có nhiều ý nghĩa nhất

Người tham dự lễ hội, bởi vậy, luôn cảm thấy thanh thản với những điều mong ước tốt lành, giãi bày tâm niệm của mình mong sao cho đất nước bình yên, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, gia đình an khang, thịnh vượng Ứng xử của người đi dự lễ hội chứa đựng trong nó cả bốn hình thức ứng xử vốn có: ứng xử với tự nhiên, ứng xử với cộng đồng, ứng xử với chính mình và ứng xử với đấng thiêng liêng Có thể nói ứng xử của con người trong

lễ hội là ứng xử văn hoá nguyên sinh Đó cũng chính là triết lý, hàm nghĩa sâu

xa nhất của lễ hội

Do vậy, chúng ta có thể nhận thấy thêm giá trị của lễ hội dân gian không chỉ ở sự phản ánh văn hoá dân tộc mà còn ở sự đóng góp của nó vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị tín ngưỡng và văn hoá dân tộc Đặc trưng của sự phản ánh đó là tính biểu tượng Biểu tượng của lễ hội được biểu đạt qua những nghi cụ, nghi lễ, trò diễn, trò chơi, các cuộc rước, các biểu trưng, phong tục, phục trang, giả trang và cả phần nghệ thuật dân gian Các biểu tượng của lễ hội biểu thị sự kết hợp và tích hợp các hình thái chuẩn mực và giá trị, những thành tố của văn hoá dân tộc Bởi vậy, trong lễ hội - tín ngưỡng dân gian hàm chứa nhiều lớp hiện tượng văn hoá, bản sắc văn hoá, giá trị nhân văn và dân chủ có thể phát huy trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1 Tính cộng đồng:

- Trong lễ hội, con người có những quan hệ thân mật và sự giao tiếp phóng khoáng; con người được tái sinh bằng sự tái hoà nhập cộng đồng Những quan hệ tưởng như đã cũ được đổi mới trong những ngày lễ hội Lễ

Ngày đăng: 13/10/2023, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1, “Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam” PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên
2, “Đạo Mẫu tam phủ tứ phủ”, Nxb Dân Trí, trang 213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Mẫu tam phủ tứ phủ
Nhà XB: Nxb Dân Trí
3, “Về tín ngưỡng bản sắc Việt”, Nguyễn Việt Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng bản sắc Việt
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
4, “Văn hoá và tín ngưỡng dân gian”, Viện Văn hoá dân gian xuất bản, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và tín ngưỡng dân gian
Nhà XB: Viện Văn hoá dân gian
Năm: 2001
6, “Văn Hóa Tín Ngưỡng Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hạnh, Nxb Trẻ 7, “100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam”,Hồng Minh, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hóa Tín Ngưỡng Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hạnh, Nxb Trẻ7, “100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ7
5, “Tạp chí Di sản” (số 7 năm 2004) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w