1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSVHVN - Đặc trưng, vai trò của văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc

16 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng, vai trò của văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 35,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Đặc trưng, vai trò của văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc”... Đặc trưng văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên một nền văn hóa có nội dung phong phú và sức sống mãnh liệt:

“Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” Trong

đó văn hóa Đại Việt đã góp phần tô điểm thêm cho một văn hóa Việt Nam sau này phong phú và rực rỡ Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em

đã chọn đề tài: “Đặc trưng, vai trò của văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc”

Trang 2

NỘI DUNG

Chương 1

ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐẠI VIỆT TRONG LỊCH SỬ VĂN HÓA DÂN TỘC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm văn hóa

Ở phương Đông khái niệm văn hoá bắt nguồn từ tiếng Hán, văn là văn

vẻ (ý đẹp lời hay) hoá là sự biến đổi giáo hoá… Chính vì vậy phương Đông khái niệm văn hoá biểu hiện thế ứng xử đẹp, vẻ đẹp của con người nặng về văn hoá chuẩn mực, đạo đức xã hội.Văn hoá là nét đẹp, thế ứng xử đẹp Nhà triết học nhìn nhận văn hoá dưới dạng chinh phục nhận thức thế giới thiên nhiên, con người trong quá trình lịch sử Nhà dân tộc học nhìn nhận văn hoá dưới dạng những sắc thái văn hoá đặc thù của dân tộc Nhà văn hoá học nhìn nhận văn hoá dưới góc độ sáng tạo văn hoá của nhân loại Nhà sử học nhận thấy tiến trình phát triển văn hoá- lịch sử con người Chính vì vậy cách tiếp cận về khái niệm văn hoá rất đa tuyến và nhiều chiều

Từ "văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn), - E.B.Taylor định nghĩa văn hoá : “Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: "Đối với một số

Trang 3

tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise“

Theo ông Trần Ngọc Thêm: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể …) do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Định nghĩa này được tiếp cận và phan tích theo bốn đặc trưng sau:+ tính hệ thống: không nghiên cứu đơn lẻ, chỉ cộng đơn thuần mà theo hệ thống, theo tổng thể.+ tính giá trị:

VH chứa các giá trị, là thước đo nhân bản của con người và xã hội.+ tính lịch sử: VH hình thành qua quá trình lâu dài, tích lũy từ nhiều thế hệ, là chiều dày

và bề sâu của văn hóa.+ tính nhân sinh: VH là phần giao thoa giữa con người

và tự nhiên

Ban đầu khái niệm văn hoá là từ gốc La tin (culture) có nguồn gốc là vun trồng Khái niệm văn hoá của phương Tây nặng về chinh phục, cải tạo tự nhiên Sau này nó phát triển và lý giải theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận.Văn hoá là biểu hiện của phương thức sống của con người Sở

dĩ có có trên 400 định nghĩa về văn hoá bởi có nhiều ngành khoa học khác nhau tìm hiểu về văn hoá, lấy văn hoá làm đối tượng nghiên cứu.Một số định nghĩa khác về VH:

Văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra, là nhân hóa -Văn hóa

là tất cả những gì không phải của tự nhiên -Văn hóa là cái gì phân biệt được con người ta với các sinh vật khác, là cái phần của môi trường do con người sáng tạo ra -Văn hóa là đối lập với tự nhiên

Con người mong muốn càng ngày càng trở nên con người hơn Edouard Herriot (từng là Ngoại trưởng Pháp) nói: “Văn hóa là cái còn lại khi

Trang 4

người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (La culture c’ est ce qui rest quand on a tout oublié, c’ est ce qui manque quand

on a tout appris)

1.2 Đặc trưng văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc

Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng, phong phú với những nét đặc trưng và độc đáo, không thể nhầm lẫn với bất kỳ một đất nước nào trên thế giới Một trong những nét tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam đó chính là văn hóa Đại Việt:

1.2.1 Tín ngưỡng tôn giáo

văn hóa Đại Việt có sự pha trộn và kết hợp hài hòa giữa những yếu tố Nam Á và Đông Á trong một vị thế cân bằng văn hóa Sự cân bằng đó được thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và đan xen giữa Phật, Đạo và Nho, giữa văn hóa dân gian làng xã và văn hóa quan liêu cung đình

Tín ngưỡng tôn giáo trong thời kỳ đầu có xu hướng phát triển mạnh mẽ theo đạo Phật giáo của văn hóa Nam Á và có sự chuyển dần sang sắc thái văn hóa Đông Á quan liêu Nho giáo trong giai đoạn cuối Ngoài các tín ngưỡng tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Nho giáo thì các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng cũng được khuyến khích và tự do phát triển

Những tín ngưỡng dân gian này được thể hiện qua hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái với hình ảnh các vị thiên thần và nhân thần, các anh hùng và danh nhân được truyền thuyết hóa và tôn vinh

1.2.2 Giáo dục

Khi nhắc đến văn hóa Đại Việt thì không thể không nhắc đến giáo dục Nền giáo dục Đại Việt phát triển từ thời Phật giáo nhưng có sự hưng thịnh và phát triển mạnh mẽ nhất vào thời kỳ Nho giáo

Trang 5

Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ dưới thời Trần và minh chứng cho việc đó là sự ra đời của Quốc Tử Giám, hay còn được gọi với các tên khác như Quốc tử viện, Quốc học viện Năm 1236 là thời điểm đặt chức Thượng thư tri viện Quốc tử viện, đưa con em văn thần và tụng thần (chức quan tư pháp) vào học

Quốc học viện được nhà nước sửa sang, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh Thất thập nhị hiền để thờ, lại xuống chiếu vời Nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng Tử thư lục kinh vào năm 1253 Vào năm 1272, xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám và có thể giảng bàn ý nghĩa của Tứ thư, Ngũ kinh sung vào nơi vua đọc sách

1.2.3 Văn học

Văn học chữ Hán phát triển: công cuộc xây dựng đất nước và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trở thành chủ đề chính của các bài thơ, phú và hịch như Hịch tướng sĩ, Bạch đằng giang phú, Bình ngô đại cáo, Hàng loạt tập thơ cữ Hán ra đời để thể hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc Văn học dân tộc ngày càng phát triển

Truyện kí: Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái

Thế kỉ XI – XII, chữ Nôm ra đời thể hiện tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, tự hào dân tộc đánh dấu sự phát triển của văn học dân tộc Xuất hiện một số nhà thơ Nôm

Đặc điểm của văn học: thể hiện tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, tự hào dân tộc Ca ngợi những chiến công anh hùng, cảnh đẹp của quê hương đất nước đánh dấu sự hình thành của văn học dân tộc

1.2.4 Kiến trúc

Kiến trúc là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự độc đáo ấn tượng và phóng phú cho nền văn hóa Đại Việt Dưới thời

Trang 6

Lý-Trần-Hồ, các công trình về nghệ thuật kiến trúc-điêu khắc được xuất hiện rộng rãi, Nhìn chung, kiến trúc thời Lý mang tính hoành tráng, quy mô còn kiến trúc mang tính thực dụng, khỏe khoắn

Các công trình kiến trúc không chỉ mang nét độc đáo, đồ sộ mà còn chứa đựng tinh thần Phật giáo Cung điện và thành quách là những công trình kiến trúc do nhà nước đứng ra chỉ huy xây dựng, huy động sức lực của dân chúng theo chế độ tạo sịch, trưng tập và phần nào là lao động làm thuê Công trình kiến lớn nhất thời Lý-Trần là thành Thăng Long với 3 vòng thành Đại

La, Hoàng thành và Cấm thành

Triều đại Lý nổi bật với công trình kiến trúc như các điện Càn Nguyên, Tập Hiền, Giảng Võ, các cung Long Thụy, Thủy Hoa Thời Trần có các cung điện Quan Triều, Thánh Tử, Thiên An, Diên Hồng Các cung điện có cảnh quan thiên nhiên được bố trí lộng lẫy và xứng hợp như các hồ, ngòi, vườn tược, vườn bách thảo

1.2.5 Khoa học kĩ thuật

Từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV, nhiều công trình khoa học ra đời như:

Sử học: Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu ( thời Trần), Đại Việt sử lược, Trùng Hưng thực lực, Việt Nam thế chí

Chính trị: Hoàng triều đại điển

Quân sự: Binh thư yếu lược và Vạn kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Kỹ thuật: Hồ Nguyên Trừng đã cho chế tạo súng thần cơ và thuyền chiến có lầu Kinh đô Thăng Long được xây dựng

1.3 Vai trò của văn hóa Đại Việt trong lịch sử văn hóa dân tộc

Văn hóa Đại Việt với những nét đặc sắc, độc đáo và ấn tượng đã góp phần quan trọng tạo nên sự đa dạng, phong phú cho nền văn hóa Việt Nam

Trang 7

Dưới thời các triều đình, văn hóa của Đại Việt luôn có sự dung hòa từ những nền văn hóa của Đông Á và Nam Á Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn Điều kiện tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam Tuy nhiên điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hoá và tâm lý dân tộc Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hoá giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia, Ấn Độ v.v Cùng cội nguồn văn hoá Đông Nam Á, nhưng do

sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hoá Hán, nền văn hoá Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hoá Đông Á

Trang 8

Chương 2 GÌN GIỮ, PHÁT HUY BẢN SẮC, GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA ĐẠI VIỆT

TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

2.1 Thực trạng văn hóa Việt Nam ngày nay

Đầu tiên là từ những cái dễ thấy nhất như đi đứng, nói năng, ăn mặc, phục trang Xu hướng chung của giới trẻ là bắt chước, học theo phim nước ngoài, theo các diễn viên, các ca sĩ nổi tiếng Những mái tóc nhuộm nhiều màu, những bộ quần áo cộc cỡn, lạ mắt, những cử chỉ đầy kiểu cách, những câu nói lẫn lộn Tiếng Anh, Tiếng Việt… đó là biểu hiện của một thứ văn hoá đua đòi phù phiếm Sự chân phương, giản dị mà lịch lãm, trang nhã vốn là biểu hiện truyền thống của người Việt Nam đã không được nhiều bạn trẻ quan tâm, để ý Chạy theo những hình thức như vậy cũng là biểu hiện của việc quay lưng lại với bản sắc văn hoá dân tộc ở một chiều sâu khó thấy hơn là quan niệm, cách nghĩ, lối sống Rất nhiều thanh, thiếu niên Việt Nam không nắm được lịch sử dân tộc dù đã được học rất nhiều, trong khi đó lại thuộc lòng vanh vách tiểu sử, đời tư của các diễn viên, ca sĩ ; không biết, không hiểu và không quan tâm tới các lễ hội dân gian vốn là sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời của nhân dân trong khi rất sành về “chát”, về ca nhạc, cà phê Ngày lễ, tết họ đến nhà thờ hoặc vào chùa hái lộc nhưng không biết bàn thờ gia tiên đã có những gì Họ coi sự cần cù, chăm chỉ là biểu hiện của sự cũ

kĩ, lạc hậu… Tất cả đều là biểu hiện của một sự thiếu ý thức trong giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tiếp xúc với nhiều công dân trẻ tuổi, người ta thấy dấu

ấn của bản sắc văn hoá Việt Nam là rất mờ nhạt, mà đậm nét lại là một thứ văn hoá ngoại lại hỗn tạp Đó là một thực trạng đang khá phổ biến hiện nay

Trang 9

2.2 Gìn giữ, phát huy và phát triển những bản sắc văn hóa Đại Việt nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung trong quá trình toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loại cần được đặc biệt chú trọng Không ít người thường nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn, giữ gìn văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa Điều đó đúng, cần thiết, song có lẽ chưa đầy đủ Chúng ta hoàn toàn có thể phát huy, phát triển, hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc trong quá trình trên

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc trong thế giới hiện đại, không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kinh tế, mà còn

mở rộng, lan tỏa, thâm nhập các lĩnh vực khác của đời sống, từ xã hội, môi trường đến khoa học, công nghệ, văn hóa, pháp luật, giáo dục, Chính quá trình tác động và thấm sâu của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vào toàn bộ các lĩnh vực của một dân tộc, một quốc gia mà nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề hệ trọng đối với sự đứng vững, tồn tại và phát triển của từng quốc gia, dân tộc và của từng khu vực trên thế giới trong quan hệ mang tính toàn cầu đang diễn ra cực kỳ phong phú và phức tạp hiện nay Toàn cầu hóa vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ, đối với vấn đề giữ gìn, bảo vệ, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa riêng biệt, độc đáo,

có tính truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia trong bối cảnh và đặc điểm mới của thế giới hiện đại

Ở đây, về mặt văn hóa, trong quá trình toàn cầu hóa, mỗi dân tộc phải đứng trước và luôn luôn phải xử lý mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa có xu hướng mạnh, tạo ra các giá trị phổ quát chung với bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của

Trang 10

dân tộc Và đây cũng chính là một đặc điểm riêng trong quan hệ giữa toàn cầu hóa và văn hóa của các dân tộc

Xét về mặt lịch sử và đặc trưng văn hóa, văn hóa Việt Nam không hề

xa lạ với sự giao lưu, tiếp nhận, tác động lẫn nhau của văn hóa các nước và văn hóa khu vực Quá trình này diễn ra không ngừng, theo cả chiều dài lịch sử

và theo cả không gian, địa - ván hóa

Có một đặc trưng hay một quy luật cần nhấn mạnh là, trong quá trình giao lưu, tiếp nhận đó, chỉ có những giá trị văn hóa bên ngoài nào phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, được chọn lọc và được Việt hóa mới có thể trở thành những thành tố hữu cơ cấu thành văn hóa Việt Nam Sự chọn lọc

và sự sàng lọc để trở thành giá trị văn hóa Việt Nam đã diễn ra không ngừng, thầm lặng và cực kỳ tinh tế trong tiến trình lịch sử và tiến trình văn hóa Ví

dụ, những giá trị tốt đẹp của Phật giáo và Nho giáo, từ những thế kỷ đầu Công nguyên, đã qua quá trình sàng lọc đó để những ý tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo trong sự hòa quyện với khát vọng hướng thiện, yêu thương con người của dân tộc ta trở thành một phẩm giá đặc trưng của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam Đó là chủ nghĩa nhân văn mộc mạc nhưng sâu sắc và bền vững trong văn hóa Việt Nam Những giá trị đạo đức xã hội mà Nho giáo truyền bá vào Việt Nam từ hàng ngàn năm đã bắt rễ và hòa đồng với những quan điểm và khát vọng đạo đức của văn hóa bản địa Việt Nam, tạo nên những chuẩn mực vững bền về đạo đức của văn hóa truyền thống, được thể hiện từ trong gia đình, làng xóm đến cộng đồng và đất nước

Đặc điểm trên của văn hóa Việt Nam không chỉ thể hiện trong quá khứ

xa xôi, mà cả trong giai đoạn cận và hiện đại, khi mà sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng, phức tạp hơn Đó là giai đoạn gặp nhau, tác động lẫn nhau, vừa như là sự "đối chọi" lại vừa như là sự

"hấp dẫn" lẫn nhau giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Trong tình hình đó, ở Việt Nam đã diễn ra một quá trình rất phong phú, tinh

Ngày đăng: 13/10/2023, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w