1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2

93 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Đánh giá Tác Động Xã Hội Dự Án Giảm Nghèo Khu Vực Tây Nguyên Bản 2
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Đánh giá tác động xã hội, giảm nghèo, phát triển khu vực Tây Nguyên
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm đối tượng hưởng lợi của Dự án là hộ nghèo, trong đó nhóm nghèo là người dân tộc thiểu sốDTTS và phụ nữ là nhóm đối tượng dễ tổn thương nhận được sự quan tâm đặc biệt của Dự án.Và do

Trang 1

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI

DỰ ÁN GIẢM NGHÈO KHU VỰC TÂY NGUYÊN Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Ngãi & Quảng Nam

[BẢN THẢO 2]

[BẢN THẢO LẤY Ý KIẾN, KHÔNG TRÍCH DẪN DƯỚI MỌI HÌNH THỨC]

Tháng 8, 2013

Trang 2

Danh mục bảng, hình và hộp 4

LỜI CẢM ƠN 5

Danh mục từ viết tắt 6

TÓM TẮT BÁO CÁO 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 10

1.1 Bối cảnh của Đánh giá Tác động Xã hội 10

1.2 Mục tiêu của Đánh giá Tác động xã hội 11

1.3 Phương pháp luận của Đánh giá 11

1.3.1 Khung lý thuyết 11

1.3.2 Các công cụ thu thập thông tin 16

1.3.3 Quá trình chọn mẫu và mẫu 17

CHƯƠNG II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH CỦA BÁO CÁO 19

2.1 Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, vốn sinh kế và các yếu tố ngoại cảnh làm tăng tính dễ bị tổn thương 19

2.1.1 Tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án 20

2.1.2 Tiếp cận vốn sinh kế của nhóm đối tượng trong vùng Dự án 24

2.1.3 Nhiều yếu tố về môi trường/bối cảnh làm tăng tính dễ bị tổn thương của các nhóm yếu thế trong vùng Dự án 41

2.2 Cơ cấu tổ chức, thể chế và quá trình 44

2.2.1 Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng đến việc thực hiện Dự án 45

2.2.2 Các chính sách, quá trình và thể chế: mức độ tác động đến sự tham gia và hưởng lợi của đối tượng dễ bị tổn thương 50

2.2.3 Một số thiết chế văn hóa, tôn giáo có ảnh hưởng đến thực hiện Dự án 55

2.3 Kiểm chứng về mức độ phù hợp của chiến lược phát triển sinh kế của Dự án GNKVTN 60

2.3.1 Các phản hồi chính về các hỗ trợ phát triển CSHT 60

2.3.2 Các phản hồi chính về hỗ trợ phát triển sinh kế 62

2.3.3 Các phản hồi chính về nâng cao năng lực (NCNL) và tổ chức quản lý Dự án 63

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 66

3.1 Kết luận 66

3.2 Các khuyến nghị 68

3.2.1 Các khuyến nghị nhằm đảm bảo sự tham gia vào và thụ hưởng kết quả phát triển của Dự án của nhóm đối tượng dễ tổn thương 69

3.2.2 Các khuyến nghị hướng đến nhóm chủ thể khác có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến thành công của Dự án 71

3.3 Một số lưu ý về sử dụng báo cáo 72

Trang 3

Tài liệu tham khảo 73

Phụ lục 1: Khung hướng dẫn tham vấn 74

Phụ lục 2: Danh sách tỉnh/huyện/xã trong Dự án GNKVTN và khảo sát 79

Phụ lục 3: Danh sách phỏng vấn và thảo luận nhóm 80

Trang 4

Danh mục bảng, hình và hộp

Bảng 1.1: Bảng giải thích các thuật ngữ chính trong Khung SLA 13

Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010 21

Bảng 2.2: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, vệ sinh) giữa các nhóm dân tộc (2010) 22

Bảng 2.3: Tỷ lệ nghèo phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2010) 23

Bảng 2.4: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, về sinh) của các hộ trong vùng Dự án, phân theo giới tính chủ hộ (2010) 24

Bảng 2.5: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo dân tộc trong vùng Dự án (2010) 25

Bảng 2.6: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo giới trong vùng Dự án 2010) 26

Bảng 2.7: Số lượng lao động của hộ gia đình tại vùng Dự án theo nhóm dân tộc (2011) 29

Bảng 2.8: Số lượng lao động của hộ gia đình phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011) 29

Bảng 2.9: Chất lượng của lực lượng lao động tại vùng Dự án thể hiện qua trình độ chuyên môn cao nhất của chủ hộ (2010) 31

Bảng 2.10: Chất lượng lao động qua trình độ chuyên môn của chủ hộ, phân theo giới (2010) 32

Bảng 2.11: Cơ sở hạ tầng và tiện ích phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng Dự án (2010) 33

Bảng 2.12: Tiếp cận vốn của hộ gia đình trong vùng Dự án (tại 1/7/2011) 36

Bảng 2.13: Tiếp cận vốn của hộ gia đình trong vùng Dự án phân theo giới tính chủ hộ (tại 1/7/2011) 37

Bảng 2.14 Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án giữa các nhóm dân tộc (2010) 40

Bảng 2.15: Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án theo giới tính của chủ hộ 40

Hình 1.1: Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA) 12

Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án 20

Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010 21

Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010) 27

Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011) 30

Hình 2.5: Tỷ lệ hộ sở hữu phương tiện vật chất là máy móc nông nghiệp tại các tỉnh Dự án (2010) 34

Hình 2.6: Giá một số mặt hàng nông sản chính vùng Tây nguyên (ĐVT 000 VNĐ/kg) 42

Hộp 2.1: Hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên đất và nước trong vùng dự án 27

Hộp 2.2: Các ý kiến về phân công lao động giữa nam và nữ vùng dự án 30

Hộp 2.3: Các ý kiến về trình độ lao động của nhóm dân tộc thiểu số tại vùng dự án 31

Hộp 2.4: Các ý kiến về thói quen tiết kiệm của nhóm yếu thế vùng dự án 35

Hộp 2.5: Tính cộng đồng là nguồn vốn xã hội quan trọng của người DTTS di cư đến vùng Dự án39 Hộp 2.6: Một số ý kiến về tác động của làn sóng di cư 43

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả thực hiện khảo sát và lập báo cáo “Đánh giá tác động xã hội” cho Dự án Giảmnghèo Khu vực Tây Nguyên (GNKVTN) dưới sự ủy thác của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) vàNgân hàng Thế giới (NHTG) Trong quá trình thực hiện khảo sát, đánh giá, nhóm tác giả đã nhậnđược sự giúp đỡ và cộng tác nhiệt tình của các cơ quan có liên quan, cán bộ các cấp và ngườidân tại địa bàn khảo sát

Trước tiên, chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chuẩn

bị Dự án Trung uơng, các Ban Chuẩn bị Dự án cấp tỉnh, huyện Dự án GNKVTN, Ngân hàng Thếgiới vì những ý kiến đóng góp sâu sắc và sự hỗ trợ nhiệt tình của các ông/bà dành cho đoànnghiên cứu

Chúng tôi cũng xin được cảm ơn UBND các cấp, đại diện lãnh đạo các sở ban ngành tại sáu tỉnh

Dự án đã cung cấp và chia sẻ các thông tin hết sức thực tiễn, cụ thể và hữu ích, góp phần xâydựng nên phần lớn thông tin được trình bày trong báo cáo này Đồng thời, đoàn nghiên cứu cũngxin được cảm ơn chính quyền các địa phương đã t ạo điều kiện làm việc tốt nhất cho đoàn trongquá trình làm việc tại địa bàn khảo sát, giúp các cán bộ nghiên cứu tiếp cận người dân và cácdoanh nghiệp trong khu vực

Cuối cùng, xin được đặc biệt bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những người dân đại diện cho cácthôn/bản đã dành thời gian tham gia các hoạt động phỏng vấn và thảo luận nhóm, nhiệt tình cungcấp và làm rõ thông tin sống động để đoàn nghiên cứu có thể xây dựng và hoàn thiện các pháthiện quan trọng, kiểm chứng tính chính xác về các nhận định liên quan đến các vấn đề xã hội của

dự án GNKVTN

Do hạn chế về mặt thời gian và các nguồn lực nên nghiên cứu này có thể chưa bao quát được hếtcác khía cạnh tác động đến thực hiện Dự án GNKVTN Để thực hiện tốt hơn các nghiên cứu, phântích, báo cáo đánh giá trong tương lai, chúng tôi rất trân trọng và mong nhận được ý kiến đónggóp từ những độc giả quan tâm đến báo cáo này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Danh mục từ viết tắt

Agricensus 2011 : Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2011

Bộ/Sở LĐTB&XH : Bộ/Sở Lao động Thương binh và Xã hội

Kế hoạch PTKTXH : Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Trang 7

NH CSXH : Ngân hàng chính sách xã hội

NH NN& PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

Nhóm đối tượng hưởng lợi của Dự án là hộ nghèo, trong đó nhóm nghèo là người dân tộc thiểu số(DTTS) và phụ nữ là nhóm đối tượng dễ tổn thương nhận được sự quan tâm đặc biệt của Dự án.

Và do có nhiều khác biệt về các đặc điểm nghèo, mức độ dễ bị tổn thương cũng như tác động dựkiến của Dự án đối với các nhóm này cũng còn có nhiều khác biệt giữa các bên liên quan nên mộtĐánh giá xã hội cần và đã được tiến hành nhằm thu thập tư liệu làm nền tảng cho việc xây dựngkhung chính sách có sự tham gia để đảm bảo các bên liên quan được đóng góp một cách thíchđáng vào thiết kế và xây dựng cơ chế thực hiện Dự án sau này Mục đích của nghiên cứu đánhgiá là đưa ra được một phân tích tổng thể về các chiến lược/biện pháp/phương pháp khác nhau

để bảo đảm mục tiêu của dự án phù hợp với bối cảnh xã hội của nó với các mục tiêu cụ thể cầnđạt được là (i) xác định và mô tả đặc điểm các nhóm đối tượng có nguy cơ bị loại trừ khỏi sự thamgia và hưởng lợi từ Dự án; (ii) xác định các bên liên quan chính của Dự án; (iii) xác định các quátrình, thể chế, yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sự tham gia của đối tượng hưởng lợi; (iv) kiểmchứng mức độ phù hợp của chiến lược cải thiện sinh kế; và (v) trên cơ sở đó, đưa ra các khuyếnnghị về chiến lược can thiệp, nguyên tắc thiết kế dự án để đảm bảo các đối tượng dễ bị tổnthương sẽ được tham gia đầy đủ và thụ hưởng từ các can thiệp của Dự án như mong đợi

Để thực hiện các mục tiêu trên, Đánh giá được thiết kế trên cơ sở lý thuyết là “tiếp cận sinh kế bềnvững” (Sustainable livelihood approach) (DFID và AusAID), các phát hiện được xây dựng từ cácnguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập tại địa bàn khảo sát trong vùng Dự án (bằng cáccông cụ định tính như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) Các phát hiện chính của Báo cáo gồm:

Về đối tượng dễ tổn thương trong Dự án, nghiên cứu cho thấy người dân của vùng Dự án ở tìnhtrạng nghèo hơn so với mặt bằng chung của địa phương và của cả nước, VHLSS 2010 cho biết tỷ

lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2,5 lần so với tỷ lệ nghèo trung bình ởnông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80% cả nước Từ góc độdân tộc thì các nhóm dân tộc thiểu số là nhóm nghèo hơn (so với dân tộc Kinh) Còn nếu nhìn từgóc độ giới thì nhóm hộ có chủ hộ là nữ nghèo hơn so với nhóm hộ có chủ hộ là nam giới

Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy, tiếp cận của các nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số, hộ gia đình

có chủ hộ là nữ) đến nguồn vốn sinh kế (vốn tài nguyên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tàichính, vốn xã hội) cũng hạn chế hơn so với các nhóm còn lại Bên cạnh đó, các cú sốc về thiên tai

và dịch bệnh, biến động giá nông sản, và làn sóng di cư tự do đến các tỉnh Dự án (nhất là trongnhững năm trở lại đây) cũng là những yếu tố tác động mạnh, một cách tiêu cực đến đời sống vàsinh kế của các nhóm hưởng lợi trong vùng Dự án

Về cơ cấu tổ chức, có thể tạm chia cơ cấu tổ chức thành năm nhóm (1) Chủ thể chỉ đạo quá trìnhtriển khai dự án, UBND các cấp với sự tham gia trực tiếp của Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND,

1

26 huyện vùng dự án gồm: Đắk Glong, Đắk Song, Krông Nô, Tuy Đức (Đắk Nông); Buôn Đôn, Ea Súp,Krông Bông, Lắk, M' Đắk (Đắk Lắk); K Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, Ia Pa (Gia Lai); Ngọc Hồi,Đắk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong, Tu Mơ Rông (Kon Tum); Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ (Quảng Ngãi) và

Trang 9

có vai trò tiên quyết đối với thành công của Dự án (2) Chủ thể trực tiếp triển khai, BQLDA cáccấp, cần đặc biệt lưu tâm đến vấn đề về năng lực và nhân sự (3) Chủ thể hỗ trợ triển khai, các sởban ngành và các tổ chức hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân), chỉ có thể tham gia một cách hiệu quảnếu có sự chỉ đạo thống nhất của UBND cũng như các cân nh ắc thích đáng đến vai trò, năng lực,

và khối lượng của việc hiện nay của họ (4) Các chủ thể mang tính cộng đồng hiện nay chưa cóvai trò lớn tại địa phương nhưng cùng với các hoạt động của dự án, sự tham gia cũng như vai tròcủa họ sẽ lớn dần lên (5) Các chủ thể khác (khu vực sản xuất tư nhân, các nhà cung cấp dịch vụ)

có vai trò không nhỏ trong các hoạt động của dự án nhưng hiện cũng đang phải đối mặt với cáckhó khăn nhất định trong kết nối các đầu mối, tìm kiếm lao động địa phương thích hợp với các yêucầu của công việc tương ứng ở dự án, v.v

Về các thể chế, quy trình và chính sách, việc triển khai dự án sẽ còn chịu ảnh hưởng của hiệntrạng có nhiều chính sách/chương trình giảm nghèo cùng tồn tại tại thời điểm này trong vùng Dự

án Các hoạt động này tuy đa dạng nhưng vẫn còn hạn chế về nguồn lực, phương pháp tiếp cận(thiếu sự tham gia), v.v Bên cạnh đó, các cộng đồng mục tiêu vẫn còn tính chất quần tụ làng xãvới vai trò tự quản của làng và ảnh hưởng của già làng, các tập tục tín ngưỡng và lễ hội vẫn cònnặng nề, thói quen sinh hoạt và canh tác của một đời sống cũ không chịu nhiều sức ép, v.v và cảnhững quan niệm rập khuôn về các nhóm đối tượng của Dự án (đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu sốbản địa) Những yếu tố này sẽ có những chi phối nhất định với hoạt động phát triển sinh kế của

Dự án

Liên quan đến tính phù hợp của Dự án, các ý kiến phản hồi được chia thành ba nhóm về (1) các

hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, (2) hỗ trợ phát triển sinh kế, và (3) các hoạt động nâng cao nănglực Về cơ bản, các ý kiến phản hồi đánh giá cao những dự thảo thiết kế của Dự án, phương phápcan thiệp và dự kiến về các hoạt động chính của Dự án CSHT được thống nhất xây dựng theohướng hỗ trợ cho phát triển sinh kế, tuy nhiên cần có thêm hướng dẫn chi tiết và rõ ràng hơn vềmột số vấn đề như tính kết nối của các công trình, phương pháp đấu thầu có sự tham gia củacộng đồng, các quy định về sử dụng lao động địa phương, v.v Đối với các hoạt động phát triểnsinh kế thì có khá nhiều lo ngại và câu hỏi xoay quanh mô hình tổ nhóm sản xuất, vấn đề đượcđặc biệt đặt ra là phải tránh tính hình thức và thiếu hiệu quả của mô hình hợp tác xã trước đây.Nội dung và phạm vi hỗ trợ cũng cần được thiết kế phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số, trong

đó chú trọng vào hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn nhắc lại, giới thiệu mô hình mới, cấp phát con giống vàvật tư nông nghiệp Câu hỏi về tính bền vững cũng là m ột vấn đề được các bên đặc biệt quan tâm

Về nâng cao năng lực và quản lý dự án thì nổi rõ nhất là các ý kiến về vai trò quan trọng của nângcao năng lực, bổ sung cán bộ chuyên trách bên cạnh các vị trí kiêm nhiệm và sự tham gia của cấp

xã với vai trò chủ đầu tư

Căn cứ vào các phát hiện chính được trình bày trong Báo cáo này, khuyến nghị cơ bản nhất củaBáo cáo có thể được tổng kết như sau: tiếp tục hoàn chỉnh thiết kế của Dự án theo nội dung vàhướng tiếp cận như hiện nay Tuy nhiên, cần tăng cường các chiến lược can thiệp để đảm bảo sựtham gia tích cực của các nhóm yếu thế vào việc lập kế hoạch và thụ hưởng các can thiệp của Dự

án Cơ sở hạ tầng được xây dựng phải phản ánh được nguyện vọng của các đối tượng dễ tổnthương Đồng thời, công tác tuyên truyền, vận động nhóm dễ tổn thương tích cực tham gia,khuyến khích sự ủng hộ của các cá nhân có uy tín trong cộng động cũng sẽ giúp cải thiện đáng kểtình trạng tham gia của các nhóm này

Ngoài ra, Báo cáo cũng có m ột số lưu ý về cách tiếp cận và sử dụng các kết quả và khuyến nghịcủa Báo cáo như các lưu ý về phạm vi khảo sát, tính tương đối về mặt thời gian của các thông tin

và khuyến nghị được trình bày, tính mở của Dự án, v.v

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương này trình bày các thông tin cơ sở về Bối cảnh thực hiện Đánh giá tác động xã hội (phần1.1), Mục tiêu của Đánh giá (phần 1.2) và Phương pháp đánh giá (phần 1.3), trong đó làm rõkhung lý thuyết (1.3.1), các giai đoạn và các công cụ thu thập thông tin đánh giá (1.3.2), quá trìnhchọn mẫu và mô tả mẫu (1.3.3) Nhờ đó, người đọc được cung cấp các thông tin cơ sở, có tínhdẫn dắt để có thể hiểu được cấu trúc và nội dung của các phát hiện được trình bày trong Chương

2 và các đề xuất trình bày trong Chương 3 của Báo cáo này

1.1 Bối cảnh của Đánh giá Tác động Xã hội

Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên (GNKVTN) (sau đây gọi tắt là Dự án) có Mục tiêu phát

triển (PDO) là “nâng cao cơ hội sinh kế cho các hộ gia đình và cộng đồng nghèo tại 26 huyện trong 06 tỉnh trong vùng Dự án” Dự án được triển khai tại sáu tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai,

Kon Tum, Quảng Nam, và Quảng Ngãi và 26 huyện2 Cơ quan chủ quản của Dự án là Bộ Kếhoạch và Đầu tư (KH&ĐT) và Nhà tài trợ là Ngân hàng thế giới (NHTG) Thời gian dự kiến triểnkhai là 5 năm (2014 đến 2018) với tổng vốn đầu tư là 165 triệu USD; trong đó, nguồn vốn vayODA từ Ngân hàng Thế giới (NHTG)là 150 triệu USD (chiếm 90%), vốn đối ứng của Chính phủViệt Nam là 15 triệu USD (chiếm 10%)

Dự án được thiết kế gồm bốn (04) Hợp phần với các mục tiêu cụ thể là: (1) Hợp phần Phát triển

cơ sở hạ tầng (CSHT) cấp xã và thôn/bản phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống dân sinhcũng như tạo việc làm trong xây dựng CSHT và bảo trì, duy tu công trình; (2) Hợp phần Phát triểnsinh kế bền vững có mục tiêu củng cố an ninh lương thực, đa dạng hóa và nâng cao thu nhập chongười dân thông qua cải thiện và đa dạng hóa sinh kế bền vững, phát triển liên kết thị trường (3)Hợp phần Phát triển CSHT kết nối, Nâng cao năng lực và Truyền thông có mục tiêu cải thiện điềukiện CSHT kết nối ở cấp huyện (phần cứng và phần mềm) để thúc đẩy sản xuất, đồng thời nângcao năng lực cán bộ; thúc đẩy truyền thông nâng cao nhận thức; (4) Hợp phần Quản lý Dự án cómục tiêu đảm bảo quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả các hoạt động của Dự án theo đúng thiết

kế Dự án

Vùng dự án và đối tượng hưởng lợi được lựa chọn dựa trên văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch

và Đầu tư (Công văn 10284/BKH&ĐT-KTĐP&LT ngày 11/12/2012 và Công văn KTĐP&LT ngày 17/12/2012) Theo đó, đối tượng dựa trên tỷ lệ nghèo của địa phương và ưu tiên

10462/BKH&ĐT-hỗ trợ cho các nhóm yếu thế Quy trình lựa chọn được thực hiện theo ba bước: (i) lựa chọn huyện

Dự án; (ii) lựa chọn xã trong huyện Dự án; và (iii) lựa chọn đối tượng hưởng lợi Danh mục 130 xãthuộc 26 huyện trong sáu tỉnh được cung cấp tại Phụ lục 2 của Báo cáo này

Do những thông tin về những đối tượng hưởng lợi thuộc Dự án GNKVTN chỉ ra rằng có sự khôngđồng nhất giữa các nhóm về giới tính, dân tộc, văn hóa, tình trạng kinh tế, mức độ tham gia v.v

Do vậy, những thách thức của Dự án là phải xác định đúng những yêu cầu đa dạng của cácnhóm, tập trung vào các nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo nói chung, nhóm dân tộc thiểu sốnói riêng, nhóm phụ nữ nghèo nói riêng) Hơn nữa, có một số lượng khá lớn các bên liên quan, cảtrong và ngoài Dự án GNKVTN có những quan điểm khác biệt về mức độ tác động mà các hoạtđộng của Dự án GNKVTN có thể tạo ra cũng như các kết quả cụ thể của Dự án này, nên quá trìnhĐánh giá xã hội và xây dựng Báo cáo sẽ rất cần thiết trong việc xây dựng khung chính sách mà ở

2

26 huyện vùng dự án gồm: Đắk Glong, Đắk Song, Krông Nô, Tuy Đức (Đắk Nông); Buôn Đôn, Ea Súp,Krông Bông, Lắk, M' Đắk (Đắk Lắk); K Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, Ia Pa (Gia Lai); Ngọc Hồi,Đắk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong, Tu Mơ Rông (Kon Tum); Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ (Quảng Ngãi) và

Trang 11

đó sự tham gia của tất cả các bên liên quan sẽ cho phép những ý kiến/đóng góp của họ tới thiết

kế và cơ chế thực hiện sau này của Dự án

Trong điều kiện này, Đánh giá tác động xã hội (sau đây gọi là Đánh giá) thuộc Dự án Giảm nghèoKhu vực Tây Nguyên đã được thực hiện độc lập và khởi động sau khi Nghiên cứu khả thi của Dự

án đã và đang đư ợc tiến hành Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án là một tài liệu dẫn chiếuquan trọng của Báo cáo đánh giá (chi tiết xem Chương 2 và Chương 3 của Báo cáo này) bởi cácphát hiện và khuyến nghị của Đánh giá này cung cấp các bổ khuyết và phản biện [về nội dung tácđộng xã hội] đến Báo cáo nghiên cứu khả thi

1.2 Mục tiêu của Đánh giá Tác động xã hội

Như đã dẫn trong Điều khoản tham chiếu (ĐKTC), các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể sau đâycần đạt được khi kết thúc Đánh giá

Mục tiêu chung: Với cách hiểu Đánh giá tác động xã hội là một báo cáo điều tra mang tính hệ

thống về các quy trình xã hội và các nhân tố tác động đến những kết quả thực hiện của Dự án,Đánh giá có mục tiêu là đưa ra một phân tích về các chiến lược/biện pháp/phương pháp khácnhau để bảo đảm mục tiêu của dự án phù hợp với bối cảnh xã hội của nó Đánh giá sẽ cung cấpnhững thông tin cơ cở để thiết kế các chiến lược mang tính xã hội của dự án Thực hiện Đánh giá

và xây dựng Báo cáo cũng là m ột quy trình nhằm mang phổ biến/chia sẻ các thông tin xã hội của

Dự án và huy động sự tham gia của các chủ thể hữu quan, thu thập và phản ánh quan điểm củacác bên liên quan cho thiết kế Dự án

Đánh giá được thiết kế hướng tới thực hiệncác mục tiêu cụ thể như sau: (i) xác định và mô tả đặc

điểm các nhóm đối tượng có nguy cơ bị loại trừ/hạn chế khỏi sự tham gia và hưởng lợi từ Dự án;(ii) xác định các bên liên quan chính của Dự án về tầm quan trọng/mức độ ảnh hưởng của các bênliên quan đến Dự án; (iii) xác định các quá trình, thể chế, yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sự thamgia của đối tượng hưởng lợi trong quá trình tham vấn, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện Dự án; (iv)kiểm chứng mức độ phù hợp của chiến lược cải thiện sinh kế [livelihood strategies] mà Dự án dựkiến thực hiện; và (v) trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị về chiến lược can thiệp, nguyên tắcthiết kế dự án để đảm bảo các đối tượng dễ bị tổn thương sẽ được tham gia đầy đủ và thụ hưởng

từ các can thiệp của Dự án như mong đợi

Để thực hiện các mục tiêu trên, Đánh giá được thiết kế trên cơ sở lý thuyết là “tiếp cận sinh kế bềnvững” (Sustainable livelihood approach) của DFID, các phát hiện được xây dựng từ các nguồn dữliệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập tại địa bàn khảo sát trong vùng Dự án (bằng các công cụđịnh tính như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) Chi tiết được trình bày trong phần tiếp theo củabáo cáo

1.3 Phương pháp luận của Đánh giá

1.3.1 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết chính sử dụng trong đánh giá là Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững(Sustainable Livelihoods Approach - SLA), (xem Hình 1.1 dưới đây)

Trang 12

Hình 1.1: Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA)

Nguồn: tổng hợp từ các tài liệu của DFID và AusAID

Cách tiếp cận này đưa ra một chỉ dẫn tổng quát cho một quá trình xây dựng các can thiệp phát

triển sinh kế cho cộng đồng, bao gồm các chương trình và dự án như Dự án GNKVTN Theo

Serrat (2008), tiếp cận sinh kế bền vững (the sustainable livelihoods approach)3 là một phương

pháp tư duy để xác định mục tiêu, phạm vi và ưu tiên cho các hoạt động/can thiệp phát triển dựa

trên các cân nhắc/phân tích về cách sinh sống của người nghèo, của đối tượng dễ tổn thương và

tầm quan trọng của các chính sách, các thể chế liên quan Các can thiệp/hoạt động phát triển

được xây dựng phải đảm bảo: (i) lấy con người/nhóm đối tượng nghèo và dễ tổn thương làm trung

tâm; (ii) đảm bảo tính tham gia (của) và tính đáp ứng đến đối tượng nghèo và dễ tổn thương; (iii)

đa cấp độ (multilevel); (iv) được thực hiện với mối liên kết/đối tác giữa khu vực công và khu vực tư

nhân; (v) linh hoạt/dễ điều chỉnh (dynamic); và (vi) cuối cùng nhưng không kém quan trọng là bền

vững Cách tiếp cận này cho phép nối kết các chủ thể với môi trường chung có ảnh hưởng đến

kết quả của chiến lược sinh kế Tiếp cận này tính đến một cách thấu đáo các tiềm năng của cộng

đồng như năng lực/trình độ của người lao động, mạng lưới xã hội (tài sản xã hội), tiếp cận đến các

nguồn lực vật chất và tài chính cần thiết cho phát triển sinh kế và khả năng ảnh hưởng đến và của

các thể chế cốt lõi (core institutional)

Nếu đi từ phía bên phải của Khung SLA sang phía trái, người đọc thấy được xuất phát điểm của

các dự định/kế hoạch phát triển sinh kế chính là hướng đến các kết quả sinh kế (livelihood

3

Tiếp cận sinh kế bền vững giúp xác định các ưu tiên hành động/can thiệp thực tiễn, dựa trên quan điểm và mối quan tâm

của các đối tượng liên quan nhưng không phải là “chìa khóa vàng” (panacea) cho mọi vấn đề Tiếp cận này không thay thế

cho các công cụ khác, như phát triển có sự tham gia (participatory development), tiếp cận ngành (sector-wide approaches)

hoặc phát triển nông thôn tổng hợp (integrated rural development).

H

Ảnh hưởng

& Can thiệp

CÁC CHIẾN LƯỢC SINH KẾ

CƠ CẤU

Chính quyền Khu vực tư

Tô chức dân sự

Luật Chính sách Văn hóa Thể chế

QUY TRÌNH

Trang 13

outcomes) tích cực cho một cộng đồng nghèo, nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Các kết quả sinh

kế này cũng chính là các mục tiêu phát triển, gồm tăng thêm thu nhập cho cộng đồng, tăng tính ổnđịnh trong các hoạt động sinh kế (nhờ đó tăng tính ổn định trong đời sống nói chung); giảm tính dễtổn thương của cộng đồng; tăng cường an ninh lương thực và sử dụng tài nguyên thiên nhiên mộtcách bền vững (đôi khi các kết quả này có thể mâu thuẫn nhau, ví dụ thu nhập cao trong ngắn hạn

có thể triệt phá tài nguyên thiên nhiên) Để đạt được kết quả sinh kế, cần thực hiện các can thiệphay các chiến lược sinh kế (livelihood strategies) Chiến lược sinh kế là một tập hợp các hoạt động

và phương pháp thực hiện các hoạt động đó, nhằm đạt mục tiêu sinh kế Các chiến lược sinh kếnày lại được triển khai và thực hiện nhờ vào một cấu trúc xã hội (structure) gồm các chủ thể (nhànước/chính quyền và khu vực tư nhân, dân sự) thông qua các quá trình/quy trình/định chế(processes) gồm quy định của luật pháp, các chương trình/chính sách cụ thể, tập quán/phong tục,v.v Để có được các chiến lược sinh kế, việc phân tích đánh giá phải được tiến hành ở hai cấp độ

là (1) bối cảnh [gây tổn thương] và (2) mức độ tiếp cận/sở hữu của đối tượng đối với các nguồnlực khả dụng cho phát triển sinh kế gồm nguồn nhân lực (human capital), nguồn tài nguyên(natural capital), nguồn lực vật chất (nhân tạo) (physical capital), nguồn tài lực (financial capital) vànguồn lực xã hội (social capital) Xem Bảng 1.1 để có giải thích chi tiết hơn cho các thuật ngữtrong Khung SLA

Cần lưu ý là gi ữa các yếu tố trong khung SLA này có mối quan hệ tương hỗ, cụ thể các kết quảsinh kế khi đạt được lại góp phần tăng cường các nguồn lực mà đối tượng có thể tiếp cận/sở hữu;các quá trình/cấu trúc có thể tác động thay đổi những thành phần trong bối cảnh [gây tổn thương]

Bảng 1.1: Bảng giải thích các thuật ngữ chính trong Khung SLA

Khung sinh kế bền

vững (SLA)

: Khung sinh kế bền vững giúp tổ chức các nhân tố hạn chế hay tăng cường

cơ hội sinh kế, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ giữa các nhân tố này

Ý niệm trung tâm là các hộ gia đình khác nhau có tiếp cận khác nhau đốivới các tài sản sinh kế vốn là mục tiêu phát triển và mở rộng của phươngpháp tiếp cận sinh kế bền vững (DFID)

Bối cảnh [gây tổn

thương]/vunerable

context

: Các yếu tố làm nên bối cảnh gây tổn thương gồm các cú sốc (shocks), các

xu hướng (trends) và tính mùa vụ (seasonity) có ảnh hưởng trực tiếp đếntình trạng tài sản của hộ gia đình, cá nhân cũng như làm phương h ại cáclựa chọn sinh kế của người dân

Các cú sốc làm hủy hoại tài sản có thể kể đến như các hiện tượng thời tiếtcực đoan như bão, lũ l ụt, hạn hán hoặc giá rét, các xung đột dân sự Các

cú sốc này có thể khiến người dân mất nơi trú ẩn, nhà ở và mùa màng, nênbiện pháp ứng phó thường là tẩu tán tài sản, cất trữ ở nơi khác hay thuhoạch sớm đối với cây trồng và vật nuôi Những cú sốc về kinh tế vĩ mô gầnđây như khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng gây ra các các tác động tiêucực đến thu nhập của người nghèo, nông dân, do sút giảm giá nông sản vàsản lượng tiêu thụ trên thị trường quốc tế Cú sốc khác có thể kể đến nhưdịch bệnh không kiểm soát được làm hủy hoại tài sản là vật nuôi và câytrồng của người dân

Các xu hướng gồm, dù có thể dự báo được, nhưng có thể mang đến tácđộng tích cực hoặc tiêu cực Các xu hướng gồm: xu hướng về dân số, dân

cư (ví dụ dịch chuyển lao động nông thôn ra thành thị để đáp ứng nhu cầulao động của quá trình công nghiệp hóa ở các đô thị); xu hướng về nguồntài nguyên (ví dụ tình trạng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn ở vùng ven biển,giảm lượng nước mạch ngầm, mất đất canh tác do mực nước biển dângcao), xu hướng kinh tế trong nước và quốc tế (ví dụ thiếu hụt nguồn cungcấp cô ca trên phạm vi toàn cầu); và xu hướng về công nghệ (ví dụ côngnghệ trong sản xuất giống, công nghệ trong sản xuất phân bón vi sinh) Các

xu hướng này đều có tác động quan trọng đến tỷ suất đầu tư, do đó ảnhđến các chiến lược sinh kế được lựa chọn Không phải xu hướng nào cũng

Trang 14

bất lợi Tuy nhiên việc sử dụng thuật ngữ bối cảnh gây tổn thương [hàm ýtính bất lợi từ môi trường] là nhằm nhấn mạnh thực tế rằng tổng hợp các xuhướng này giải thích [trực tiếp hoặc gián tiếp] cho rất nhiều khó khăn màngười nghèo phải đối diện Tính dễ tổn thương sẵn có trong sinh kế củangười nghèo khiến họ khó đối phó với những nguy cơ, dù có dự đoán đượchay không Ngoài ra, điều này cũng làm giảm khả năng [của người nghèo]

để tác động ngược trở lại đối với môi trường nhằm giảm các nguy cơ này;

và hệ quả là, họ lại càng trở nên dễ tổn thương hơn Kể cả khi xu hướng làtích cực, thì người nghèo cũng thường khó được lợi vì họ thiếu tài sản,thiếu cách tổ chức đủ mạnh để khai thác được các cơ hội từ những xuhướng tích cực này

Tính mùa vụ được thể hiện ở: (i) thay đổi giá cả hàng nông sản (giá cao khihàng hóa nông sản khan hiếm, giá thấp khi đúng vụ thu hoạch và sản lượnglớn; (ii) cơ hội nghề nghiệp cao ở thời gian đình điểm của sản xuất (ví dụ vụthu hoạch cà phê tại vùng Tây Nguyên); (iii) nguồn cung ứng lương thựccao sau thời gian thu hoạch cây lương thực (điển hình là ngô và gạo) vàthấp ở thời gian “giáp hạt”; chi phí sản xuất thay đổi vào mùa mưa hoặcmùa khô (phát sinh chi phí bơm nước tưới vào mùa khô hoặc chi phí sấykhô nông sản sau khi thu hoạch vào mùa mưa) Yếu tố mùa vụ đều ít nhiềuảnh hưởng đến đời sống của người nghèo, người nông dân

Bối cảnh [gây tổn thương] nằm ngoài khả năng kiểm soát của người dân.Trong ngắn hạn đến trung hạn, một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ người dânhầu như không thể làm gì để trực tiếp thay đổi các yếu tố thuộc bối cảnhnày

Khả năng phòng vệ : Là khả năng đối chọi và phục hồi từ những cú sốc và duy trì hoặc củng cố

các năng lực sản xuất, tài sản và hoạt động của của người dân sau những

cú sốcCác sinh kế : Một sinh kế bao gồm năng lực sản xuất, tài sản và các hoạt động cần có để

kiếm sống

Sinh kế được gọi là bền vững khi sinh kế đó có thể đối chọi và phục hồi từnhững cú sốc và duy trì hoặc củng cố các năng lực sản xuất, tài sản, vàhoạt động của mình không chỉ bây giờ mà cả sau này nhưng lại không làmtổn hại đến cơ sở nguồn lực tự nhiên

Chiến lược sinh kế

(natural-Sau khi thực hiện các chiến lược sinh kế, các kết quả sinh kế dự kiến sẽđược tạo ra, với giả định là không có các rủi ro, các phát sinh bất lợi khôngthể khắc phục làm giảm hoặc xóa bỏ các kết quả tạo ra hoạt động sinh kế.Vốn con người : Sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, kiến thức và kỹ năng, năng lực làm việc,

khả năng thích nghi

Vốn xã hội : Các mạng lưới và mối liên hệ (khách quen, hàng xóm, quan hệ họ tộc), các

quan hệ tin cậy với sự thông hiểu và giúp đỡ lẫn nhau, các nhóm chínhthức và không chính thức, các giá trị và hành vi chung, các nguyên tắc vàphong tục giống nhau, đại diện tập thể, các cơ chế tham gia trong việc raquyết định, sự lãnh đạo

Vốn tự nhiên : Đất đai và sản vật, nước và nguồn nước, cây cối và các sản phẩm từ rừng,

Trang 15

sinh vật tự nhiên, các loại sợi và lương thực tự nhiên, sự đa dạng sinh học,dịch vụ môi trường.

Vốn vật chất : Cơ sở hạ tầng (phương tiện vận chuyển, đường xá, xe cộ, các tòa nhà và

chỗ ở an toàn, nguồn cấp nước và hệ thống xử lý rác thải, năng lượng,truyền thông), các công cụ và công nghệ (các công cụ và thiết bị sản xuất,hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tập quán sản xuất)

Vốn tài chính : Tiền tiết kiệm, các khoản tín dụng và vay nợ (chính thức và không chính

thức), các khoản tiền chuyển về, lương hưu, lương định kỳ

và kết quả; các tổ chức xã hội/dân sự đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điềukiện kết nối các chủ thể công/tư nhân đến đối tượng hưởng lợi

Các thể chế và quy trình được giải thích gồm các luật, các quy định, chínhsách, thiết chế vận hành, các thỏa thuận, chuẩn mực xã hội, và các thông

lệ Những yếu tố này quy định phương thức vận hành của các cấu trúc Các

tổ chức công quyết định chính sách không thể vận hành hiệu quả nếukhông có các định chế và quy trình phù hợp Các thể chế/chính sách có ảnhhưởng mạnh mẽ đến người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương thôngqua hoạt động của các tổ chức/chủ thể Các thể chế và quy trình là quantrọng đối với mọi khía cạnh của hoạt động sinh kế, tạo động lực khuyếnkhích người dân đưa ra lựa chọn tốt hơn, cho phép hoặc không cho phéptiếp cận đến các loại nguồn vốn sinh kế; tạo điều kiện cho người dânchuyển đổi một dạng vốn/tài sản thành một dạng vốn/tài sản khác, thôngqua các thị trường Do đó các chính sách vì người nghèo trở nên một thành

tố quan trọng trong Khung tiếp cận sinh kế bền vững (SLA)

Nếu coi Dự án GNKVTN đưa ra một tập hợp các can thiệp dự kiến nhằm cải thiện sinh kế (hay tạo

ra các kết quả sinh kế) thì Đánh giá tác động xã hội sẽ xem xét (soi xét) lại quá trình xây dựng cáccan thiệp đó bằng việc đi từ bên trái sang bên phải của Sơ đồ khung SLA ở trên (Hình 1.1) theocác bước như dưới đây

Bước 2

Bước 1

Bước 3

Rà soát chiến lược sinh kế Dự án (gồm mục tiêu phát triển và mục tiêu

cụ thể của 04 hợp phần và các tiểu hợp phần/các hoạt động DA)

Rà soát nhóm đối tượng, thực trạng nghèo (đa chiều) và các đặc điểm

xã hội quan trọng khác của nhóm nghèo, nhóm dân tộc, nhóm phụ nữ

 thẩm định lại tính phù hợp của mục tiêu Dự án và nhu cầu củanhóm đối tượng

Đánh giá các yếu tố: (1) tiếp cận nguồn vốn sinh kế của các đối tượng;

và (2) bối cảnh gây tổn thương/bất lợi (các xu hướng, các cú sốc, yếu

tố mùa vụ bất lợi)

Đánh giá về cấu trúc/cơ cấu (chủ thể tham gia quản lý và vận hành dự

án từ khu vực chính quyền, khu vực dân sự/đoàn thể, xã hội; khu vực

tư nhân (doanh nghiệp, người kinh doanh) và các chính sách (chươngtrình giảm nghèo); quy chế (dân chủ, sự tham gia, v.v.) và thiết chế

Trang 16

1.3.2 Các công cụ thu thập thông tin

Ở từng bước tiến hành đánh giá xã hội, các phương pháp và công cụ thu thập thông tin định tính,định lượng khác nhau đã được sử dụng, cụ thể gồm

Bước 1: Rà soát chiến

lược sinh kế của Dự án

: Nghiên cứu tài liệu:

 Bản thảo nghiên cứu khả thi Dự án cấp tỉnh và trung ương;

 Các báo cáo, tài liệu nghiên cứu sẵn có phục vụ công tác nghiêncứu khả thi Dự án;

 Bản thảo Khung chính sách đền bù Dự án (cho các đối tượng cóthể bị mất đất do thực hiện Dự án)

Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu:

 Cán bộ Ban chuẩn bị Dự án (BCB DA) cấp trung ương và cấp tỉnh;

 Cán bộ NHTG

Bước 2: Rà soát nhóm

đối tượng dễ tổn thương

của Dự án

: Nghiên cứu tài liệu và tính toán dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu sẵn có:

 Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010 (VHLSS 2010);

 Tổng điều tra nông nghiệp 2011 (Agricensus 2011);

 Dữ liệu thống kê cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã;

 Quyết định của UBND các tỉnh công bố tỷ lệ nghèo hàng năm;

 Các chính sách, chiến lược giảm nghèo của các địa phương.Phỏng vấn sâu:

 Cán bộ các cơ quan chính quyền các cấp và các sở/ngành;

 Cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội (nông dân, phụ nữ);

 Hộ kinh tế khá;

 Đại diện các doanh nghiệp, cơ sở kinh tế tư nhân;

 Đại diện một số tổ chức phi chính phủ (NGO) địa phương

Thảo luận nhóm:

 Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);

 Nhóm dân tộc thiểu số bản địa;

 Nhóm dân tộc thiểu số di cư;

 Nhóm phụ nữ (thuộc các thành phần dân tộc)

Bước 3: Đánh giá các

yếu tố ảnh hưởng đến

sinh kế (tiếp cận vốn sinh

kế và bối cảnh gây bất lợi)

: Nghiên cứu tài liệu và tính toán dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu sẵn có:

 Tổng điều tra nông nghiệp 2011 (Agricensus 2011);

 Báo cáo phát triển kinh tế xã hội các địa phương;

 Các công bố về giá cả nông sản (từ nhiều nguồn tổng hợp);

 Các dữ liệu thủy văn

Phỏng vấn sâu:

 Cán bộ các cơ quan chính quyền các cấp và các sở/ngành;

 Cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội (nông dân, phụ nữ);

 Hộ kinh tế khá;

 Đại diện các doanh nghiệp, cơ sở kinh tế tư nhân;

 Đại diện một số tổ chức phi chính phủ (NGO) địa phương

Thảo luận nhóm:

 Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);

Trang 17

 Nhóm dân tộc thiểu số di cư;

 Nhóm phụ nữ (thuộc các thành phần dân tộc);

Bước 4: Đánh giá về cấu

trúc/cơ cấu và các chính

sách (chương trình giảm

nghèo); quy chế (dân chủ,

sự tham gia, v.v.) và thiết

chế văn hóa có ảnh

hưởng đến triển khai thực

hiện Dự án

: Nghiên cứu tài liệu:

 Báo cáo nghiên cứu khả thi cấp trung ương (mô tả cấu trúc quản lý

dự án và vai trò của các cơ quan hữu trách);

 Quy chế dân chủ;

 Văn kiện và các báo cáo của các chương trình/d ự án giảm nghèotại địa phương (Chính sách ổn định đời sống người dân tộc di cưtỉnh Đắk Nông, Chương trình 30A, FLITCH, 3M v.v)

 Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);

 Nhóm dân tộc thiểu số bản địa;

 Nhóm dân tộc thiểu số di cư;

 Nhóm phụ nữ (thuộc các thành phần dân tộc)

Chi tiết các công cụ thu thập dữ liệu định tính sơ cấp được trình bày trong phụ đính của Báo cáo.Đánh giá được thực hiện bắt đầu từ tháng 12/2012, chia ra các giai đoạn, gồm thiết kế và nghiêncứu tại bàn; khảo sát thực địa (gồm cả khảo sát thí điểm và khảo sát chính thức); xử lý dữ liệu vàxây dựng các phát hiện ban đầu; và xây dựng báo cáo đầy đủ Trong các giai đoạn ở trên, khảosát thực địa có ý nghĩa quan tr ọng nhất vì cung cấp những cơ sở khách quan và hiện thực cho cácphát hiện của Báo cáo Ở bước này, các kỹ thuật phổ biến của đánh giá nông thôn có sự tham gia(participatory rural assessment - PRA) được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia trong các cuộc thảoluận nhóm tập trung và khuyến khích đối tượng cung cấp thông tin chia sẻ ý kiến khi phỏng vấnsâu bán cấu trúc

1.3.3 Quá trình chọn mẫu và mẫu

Việc khảo sát thực địa được thực hiện tại cả sáu tỉnh thuộc Dự án, mỗi tỉnh chọn một huyện(Krông Nô của Đắk Nông, M’Đrắk của Đắk Lắk, Ia Pa của Gia Lai, Kon Rẫy của Kon Tum, Ba Tơcủa Quảng Ngãi, Phước Sơn của Quảng Nam) Tiêu chí để lựa chọn các huyện là tỷ lệ nghèo vàthành phần dân tộc Về tỷ lệ nghèo, các huyện được chọn không phải là những huyện nghèo nhất,cũng không phải là huyện khá nhất trong vùng Dự án của từng tỉnh Về thành phần dân tộc, cáchuyện được chọn theo cách sao cho các nhóm dân tộc thiểu số bản địa có dân số lớn trong vùng

Dự án như Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, M’nông, và J’rai (ở Tây Nguyên), H’re và Cơ Tu (ở Quảng Ngãi

và Quảng Nam) nằm trong đối tượng khảo sát Tại mỗi huyện, 02 xã được chọn khảo sát theo cáctiêu chí dân tộc để đảm bảo có cả nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nhóm dân tộc thiểu số di cư(riêng với huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi và huyện Phước Sơn, Quảng Nam thì tiêu chí dân tộc thiểu

số di cư không được áp dụng vì vấn đề dân tộc thiểu số di cư đến không phải là một hiện tượngphổ biến tại đây như tại các huyện Dự án ở Tây Nguyên) Danh sách xã khảo sát được nêu trongPhụ lục 2

Quá trình khảo sát thực địa được thực hiện với mẫu khảo sát gồm 488 đối tượng khác nhau Cụthể: 100 cán bộ cấp tỉnh (bao gồm cơ quan trực tiếp triển khai các hoạt động của Dự án và các cơquan/tổ chức khác), 50 cán bộ huyện, 40 cán bộ xã và 14 già làng/trưởng bản được khảo sát bằng

Trang 18

hình thức phỏng vấn sâu; ở cấp hộ gia đình, 115 đ ại diện các hộ gia đình dân tộc thiểu số bản địa,

59 đại diện hộ gia đình dân tộc thiểu số di cư; 88 phụ nữ được tham vấn thông qua hình thức thảoluận nhóm tập trung; bên cạnh đó, đoàn đánh giá phỏng vấn đại diện của 09 hộ làm ăn khá giả tạicác thôn/buôn và 11 doanh nghiệp trong hai lĩnh vực là xây dựng và nông nghiệp

Ngoài các thông tin thu thập qua khảo sát trực tiếp, báo cáo đánh giá này tham khảo nhiều nghiêncứu sẵn có về các vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số, bình đẳng giới trong vùng Dự án; sửdụng dữ liệu từ các cuộc điều tra gồm Khảo sát Mức sống dân cư năm 2010 (VHLSS 2010), TổngĐiều tra Nông nghiệp 2011 (Agricensus 2011) và Tổng Điều tra doanh nghiệp 2010

Như vậy, với quy mô và cơ cấu ở trên, mẫu khảo sát đảm bảo phản ánh được quan điểm củanhững bên liên quan khác nhau trong Dự án, đặc biệt là nhóm đối tưởng hưởng lợi của Dự án,cũng là nhóm đ ối tượng dễ tổn thương mà Đánh giá này hướng đến Quá trình tham vấn các chủthể này, đặc biệt đưa vào các chủ thể không trực tiếp quản lý Dự án (như doanh nghiệp, các hộdân khá giả), giúp thực hiện một trong những mục tiêu phái sinh là cung cấp thông tin và tham vấncác đối tượng về thiết kế Dự án

Trang 19

CHƯƠNG II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH CỦA BÁO CÁO

Như khung lý thuyết SLA đã gợi ý và theo thiết kế của Đánh giá này, các phát hiện chính của báocáo được trình bày theo các nhóm nội dung với trình tự sau: Phần 2.1 mô tả đặc điểm của các đốitượng hưởng lợi dễ bị tổn thương gồm các đặc điểm nghèo, mức độ tiếp cận/sở hữu các loại hìnhvốn sinh kế, và yếu tố bối cảnh làm nghiêm trọng hơn tính dễ bị tổn thương của nhóm hưởng lợiyếu thế; Phần 2.2 nêu các phát hiện chính liên quan đến cấu trúc/cơ cấu quản lý và các quytrình/chính sách/đ ịnh chế; trong đó 2.2.1 là các phát hiện chính về các bên liên quan có ảnhhưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình thực hiện và khả năng thành công trong thực hiện cácmục tiêu của Dự án, cũng như nh ững rủi ro tiềm tàng liên quan đến những đối tượng này; phần2.2.2 là các phát hiện về các quá trình/định chế (gồm các chương trình/chính sách, các thiết chếvăn hóa/tôn giáo, quy định về dân chủ cấp cơ sở và sự tham gia của cộng đồng vào phát triểnkinh tế-xã hội của địa phương Phần 2.3 tập trung vào những phản hồi chính của đối tượng hưởnglợi và các bên liên quan về thiết kế của Dự án (chiến lược sinh kế dự kiến) tại thời điểm khảo sát.Dựa trên các phát hiện này, Báo cáo sẽ đưa ra một số khuyến nghị chính trong Chương 3

2.1 Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, vốn sinh kế và các yếu tố ngoại cảnh làm tăng tính dễ bị tổn thương

Tính dễ tổn thương được miêu tả thông qua tình trạng bấp bênh trong đời sống của các cá nhân,

hộ gia đình và cộng đồng khi phải đối mặt với những thay đổi của môi trường xung quanh Ngườidân cứ thoát nghèo rồi lại nghèo và khái niệm “tính dễ tổn thương” thể hiện những thay đổi nàymột cách chuẩn xác hơn là các thước đo về chuẩn nghèo

Tính dễ tổn thương, như khung SLA đã nêu, đến từ: (i) các yếu tố ngoại cảnh gây tổn thương haycòn gọi là bối cảnh gây tổn thương (vunerability context) và (ii) mức độ tự phòng vệ thấp của đốitượng/người dân [không đủ khả năng và phương tiện] để đối mặt với những rủi ro/đe dọa từ bốicảnh Bối cảnh gây tổn thương gồm các cú sốc (shocks), các xu hướng (trends) và tính mùa vụ(seasonity) có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng tài sản của hộ gia đình/cá nhân cũng như các

lựa chọn sinh kế của người dân [Xem Bảng 1.1 để có giải thích đầy đủ về các khái niệm bối cảnh gây tổn thương] Còn mức độ tự phòng vệ thấp của đối tượng/người dân là do tình trạng sở hữu

tài sản thấp (nghèo) và thiếu tiếp cận đến các nguồn vốn sinh kế nên không đủ khả năng vàphương tiện để đối mặt với những rủi ro/đe dọa từ bối cảnh

Phần 2.1 này sẽ trình bày đặc tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án, sau đó là cácphát hiện về tình trạng tiếp cận thấp đến các nguồn sinh kế và cuối cùng là những yếu tố của bốicảnh gây tổn thương đến nhóm này

Chiều phân tích [dimension] là theo nhóm dân tộc và và giới tính của chủ hộ Việc lựa chọn chiềuphân tích phản ánh mối quan tâm của Dự án đối với các nhóm dân tộc thiểu số (bản địa và di cưđến) cũng như nhóm đ ối tượng nữ giới Ngoài ra, hai chiều phân tích này giúp việc đưa ra các đềxuất của Báo cáo phù hợp nhất với từng nhóm đối tượng cụ thể, nhằm giảm thiểu rủi ro đối tượngbất lợi hơn/dễ bị tổn thương hơn không được tham gia đầy đủ hoặc chỉ thụ hưởng các thành quảphát triển/kết quả sinh kế do Dự án đầu tư một cách hạn chế

Về dân tộc, ba nhóm chính được so sánh là nhóm Kinh, nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nhóm

dân tộc thiểu số khác Chỉ tính riêng trên địa bàn 26 huyện Dự án, có 41 dân tộc cùng sinh sống,trong đó đồng bào DTTS chiếm 60%, dân tộc Kinh là 40% Sắp xếp theo mức tăng đần, tỷ trọngcác dân tộc tại vùng Dự án như sau: Cơ Tu (1%), Ê đê (3%), M’Nông (5%), Jarai (7%), Bana(7.4%), Xơ Đăng (9.3%), H’rê (10%), dân tộc thiểu số khác – không xếp loại được riêng vì có

Trang 20

nhiều nhóm có tỷ trọng rất nhỏ trong số liệu khảo sát thứ cấp (16%) và Kinh (40%) Các nhóm dântộc thiểu số bản địa chính trong vùng Dự án là Ê Đê, M’Nông (chủ yếu tại Đắk Lắk và Đắk Nông);Jarai, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng (chủ yếu tại Gia Lai và Kon Tum); H’rê và Ca Dong (tại QuảngNgãi) và Cơ Tu (tại Quảng Nam)

(xem Hình 2.1) Các dữ liệu được

phân tích ở ba cấp độ xã Dự án

(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)

và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các

dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa

vào phân tích khi phù hợp nhằm

làm nổi bật tính so sánh của các

tỉnh Dự án và cả nước; trong một

số trường hợp dữ liệu của các xã

nằm ngoài Dự án nhưng trong 26

huyện Dự án, các huyện ngoài Dự

án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự

án được đưa vào phân tích để làm

nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự

án và vùng ngoài Dự án Trong

một số trường hợp, do dữ liệu thứ

cấp chỉ hiện hữu đối với cấp tỉnh

(ví dụ tình trạng dinh dưỡng của

dân cư) nên phân tích chỉ dừng lại ở việc so sánh giữa sáu tỉnh Dự án với tình trạng chung của cảnước

Về giới, giới tính của chủ hộ được xác định là chiều phân tích thứ hai Dữ liệu theo nhóm hộ có nữ

làm chủ hộ và nam làm chủ hộ được phân tích chỉ trong phạm vi vùng Dự án từ cấp xã đến cấpTỉnh Một lưu ý là tại vùng Dự án, đó là chế độ mẫu hệ và chế độ phụ hệ tồn tại song song và vớinhững nhóm dân tộc theo chế độ mẫu hệ, chủ hộ thường là nữ giới Tại Quảng Nam và Quảngngãi, nhóm dân tộc thiểu số bản địa chính là Cơ Tu, Hre, Giẻ Triêng theo chế độ phụ hệ Tại cáctỉnh Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số bản địa chính như Jarai, M’nông, Êđê theo chế độ mẫu hệ(một số nét văn hóa đặc trưng và/hoặc vai trò của nam giới và nữ giới tại gia đình và xã h ội củahai chế độ này được phân tích khi chúng có ảnh hưởng đến Dự án)

2.1.1 Tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án

Theo Báo cáo Nghiên cứu khả thi Dự án [phiên bản 2, sẵn có tại thời điểm khảo sát], Dự án đặt sựquan tâm đặc biệt đến nhóm hưởng lợi yếu thế, gồm các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộcthiểu số bản địa [hay theo cách gọi thường ngày của cư dân địa phương là dân tộc tại chỗ), hộdân tộc thiểu số di cư (nhất là các hộ di cư trong khoảng 3 - 5 năm gần đây) và phụ nữ Trên cơ

sở phân tích số liệu thứ cấp và khảo sát hiện trường, Báo cáo này tái khẳng định những đối tượng

hộ nghèo (thuộc các thành phần dân tộc), người dân tộc thiểu số và phụ nữ là những đối tượng cótiếp cận vốn sinh kế bất lợi hơn, chịu tác động mạnh hơn của yếu tố ngoại cảnh bất lợi và có rủi ro

bị gạt ra ngoài lề (ở các mức độ khác nhau) trong quá trình tham vấn, lập kế hoạch và tổ chứcthực hiện cũng như thụ hưởng kết quả của Dự án

Thứ nhất, người dân của vùng Dự án ở tình trạng nghèo hơn so với mặt bằng chung của địa phương và của cả nước: Vùng Dự án là nghèo hơn mức trung bình của cả nước, VHLSS

2010 cho biết tỷ lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2.5 lần so với tỷ lệnghèo trung bình ở nông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80%

(xem Hình 2.1) Các dữ liệu được

phân tích ở ba cấp độ xã Dự án

(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)

và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các

dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa

vào phân tích khi phù hợp nhằm

làm nổi bật tính so sánh của các

tỉnh Dự án và cả nước; trong một

số trường hợp dữ liệu của các xã

nằm ngoài Dự án nhưng trong 26

huyện Dự án, các huyện ngoài Dự

án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự

án được đưa vào phân tích để làm

nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự

án và vùng ngoài Dự án Trong

một số trường hợp, do dữ liệu thứ

cấp chỉ hiện hữu đối với cấp tỉnh

(ví dụ tình trạng dinh dưỡng của

dân cư) nên phân tích chỉ dừng lại ở việc so sánh giữa sáu tỉnh Dự án với tình trạng chung của cảnước

Về giới, giới tính của chủ hộ được xác định là chiều phân tích thứ hai Dữ liệu theo nhóm hộ có nữ

làm chủ hộ và nam làm chủ hộ được phân tích chỉ trong phạm vi vùng Dự án từ cấp xã đến cấpTỉnh Một lưu ý là t ại vùng Dự án, đó là chế độ mẫu hệ và chế độ phụ hệ tồn tại song song và vớinhững nhóm dân tộc theo chế độ mẫu hệ, chủ hộ thường là nữ giới Tại Quảng Nam và Quảngngãi, nhóm dân tộc thiểu số bản địa chính là Cơ Tu, Hre, Giẻ Triêng theo chế độ phụ hệ Tại cáctỉnh Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số bản địa chính như Jarai, M’nông, Êđê theo chế độ mẫu hệ(một số nét văn hóa đặc trưng và/hoặc vai trò của nam giới và nữ giới tại gia đình và xã hội củahai chế độ này được phân tích khi chúng có ảnh hưởng đến Dự án)

2.1.1 Tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án

Theo Báo cáo Nghiên cứu khả thi Dự án [phiên bản 2, sẵn có tại thời điểm khảo sát], Dự án đặt sựquan tâm đặc biệt đến nhóm hưởng lợi yếu thế, gồm các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộcthiểu số bản địa [hay theo cách gọi thường ngày của cư dân địa phương là dân tộc tại chỗ), hộdân tộc thiểu số di cư (nhất là các hộ di cư trong khoảng 3 - 5 năm gần đây) và phụ nữ Trên cơ

sở phân tích số liệu thứ cấp và khảo sát hiện trường, Báo cáo này tái khẳng định những đối tượng

hộ nghèo (thuộc các thành phần dân tộc), người dân tộc thiểu số và phụ nữ là những đối tượng cótiếp cận vốn sinh kế bất lợi hơn, chịu tác động mạnh hơn của yếu tố ngoại cảnh bất lợi và có rủi ro

bị gạt ra ngoài lề (ở các mức độ khác nhau) trong quá trình tham vấn, lập kế hoạch và tổ chứcthực hiện cũng như thụ hưởng kết quả của Dự án

Thứ nhất, người dân của vùng Dự án ở tình trạng nghèo hơn so với mặt bằng chung của địa phương và của cả nước: Vùng Dự án là nghèo hơn mức trung bình của cả nước, VHLSS

2010 cho biết tỷ lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2.5 lần so với tỷ lệnghèo trung bình ở nông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80%

cả nước

Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án

Nguồn: Agricensus 2011

Dân tộc Kinh, 39,610

M'Nông, 5,27 0 Jarai, 7,180

Bana , 7,390

Xơ Đăng, 9,300

Cơ Tu, 1,120

Hre, 10,310

DTTS khác, 16,380

nhiều nhóm có tỷ trọng rất nhỏ trong số liệu khảo sát thứ cấp (16%) và Kinh (40%) Các nhóm dântộc thiểu số bản địa chính trong vùng Dự án là Ê Đê, M’Nông (chủ yếu tại Đắk Lắk và Đắk Nông);Jarai, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng (chủ yếu tại Gia Lai và Kon Tum); H’rê và Ca Dong (tại QuảngNgãi) và Cơ Tu (tại Quảng Nam)

(xem Hình 2.1) Các dữ liệu được

phân tích ở ba cấp độ xã Dự án

(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)

và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các

dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa

vào phân tích khi phù hợp nhằm

làm nổi bật tính so sánh của các

tỉnh Dự án và cả nước; trong một

số trường hợp dữ liệu của các xã

nằm ngoài Dự án nhưng trong 26

huyện Dự án, các huyện ngoài Dự

án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự

án được đưa vào phân tích để làm

nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự

án và vùng ngoài Dự án Trong

một số trường hợp, do dữ liệu thứ

cấp chỉ hiện hữu đối với cấp tỉnh

(ví dụ tình trạng dinh dưỡng của

dân cư) nên phân tích chỉ dừng lại ở việc so sánh giữa sáu tỉnh Dự án với tình trạng chung của cảnước

Về giới, giới tính của chủ hộ được xác định là chiều phân tích thứ hai Dữ liệu theo nhóm hộ có nữ

làm chủ hộ và nam làm chủ hộ được phân tích chỉ trong phạm vi vùng Dự án từ cấp xã đến cấpTỉnh Một lưu ý là t ại vùng Dự án, đó là chế độ mẫu hệ và chế độ phụ hệ tồn tại song song và vớinhững nhóm dân tộc theo chế độ mẫu hệ, chủ hộ thường là nữ giới Tại Quảng Nam và Quảngngãi, nhóm dân tộc thiểu số bản địa chính là Cơ Tu, Hre, Giẻ Triêng theo chế độ phụ hệ Tại cáctỉnh Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số bản địa chính như Jarai, M’nông, Êđê theo chế độ mẫu hệ(một số nét văn hóa đặc trưng và/hoặc vai trò của nam giới và nữ giới tại gia đình và xã hội củahai chế độ này được phân tích khi chúng có ảnh hưởng đến Dự án)

2.1.1 Tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án

Theo Báo cáo Nghiên cứu khả thi Dự án [phiên bản 2, sẵn có tại thời điểm khảo sát], Dự án đặt sựquan tâm đặc biệt đến nhóm hưởng lợi yếu thế, gồm các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộcthiểu số bản địa [hay theo cách gọi thường ngày của cư dân địa phương là dân tộc tại chỗ), hộdân tộc thiểu số di cư (nhất là các hộ di cư trong khoảng 3 - 5 năm gần đây) và phụ nữ Trên cơ

sở phân tích số liệu thứ cấp và khảo sát hiện trường, Báo cáo này tái khẳng định những đối tượng

hộ nghèo (thuộc các thành phần dân tộc), người dân tộc thiểu số và phụ nữ là những đối tượng cótiếp cận vốn sinh kế bất lợi hơn, chịu tác động mạnh hơn của yếu tố ngoại cảnh bất lợi và có rủi ro

bị gạt ra ngoài lề (ở các mức độ khác nhau) trong quá trình tham vấn, lập kế hoạch và tổ chứcthực hiện cũng như thụ hưởng kết quả của Dự án

Thứ nhất, người dân của vùng Dự án ở tình trạng nghèo hơn so với mặt bằng chung của địa phương và của cả nước: Vùng Dự án là nghèo hơn mức trung bình của cả nước, VHLSS

2010 cho biết tỷ lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2.5 lần so với tỷ lệnghèo trung bình ở nông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80%

cả nước

Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án

Nguồn: Agricensus 2011

Dân tộc Kinh, 39,610

Êde, 3,440 M'Nông, 5,27 0

Trang 21

Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010

Tỷ lệ nghèo (%) Tỷ lệ cận nghèo (%)

Trung bình 26 huyện trong Dự án 45,0 8,4

Huyện ngoài Dự án nhưng trong sáu tỉnh 20,0 7,1

Trung bình của các xã ngoài Dự án nhưng trong 26

Nguồn: Agricensus 2011 và * tỷ lệ nghèo cả nước theo công bố của Bộ LĐTBXH

Trong năm 2010, khi tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước giảm xuống chỉ còn 14,2% (Bảng 2.1) thì

tỷ lệ nghèo của sáu tỉnh Dự án là gần 25% và cứ thế tăng dần nếu xét ở quy mô hẹp hơn cho 26huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án Ở quy mô cấp tỉnh, cứ khoảng 4 người thì có một người làngười nghèo, còn ở các xã Dự án thì cứ 2 người chắc chắn sẽ có một người nghèo Tỷ lệ cậnnghèo của vùng Dự án cũng cao hơn so với mức trung bình Cả nước chỉ có 6,98% dân số nằmtrong diện cận nghèo nhưng con số này xét chung cho sáu tỉnh và xét riêng cho 130 xã Dự ántương ứng sẽ là 7,39% và 8,07% Nếu chỉ so sánh giữa các xã trong các huyện Dự án, có thể thấy

tỷ lệ nghèo của xã không trong Dự án thấp hơn hẳn tỷ lệ trung bình của 130 xã Dự án (34,9% sovới 51,9%); hay so sánh giữa các huyện trong sáu tỉnh, ta thấy tỷ lệ nghèo của 26 huyện cao hơnhẳn các huyện còn lại (45% so với 20%) Xét trên phạm vi cả nước, rõ ràng tỷ lệ nghèo của sáutỉnh là cao hơn gấp đôi tỷ lệ chung của cả nước (24,9% so với 11,8%) Mặc dù, Dự án GNKVTN

đã có tiêu chí lựa chọn các xã/huyện đưa vào Dự án là phải có tỷ lệ nghèo cao hơn (cụ thể chỉhuyện có tỷ lệ nghèo trên 30% mới trở thành vùng Dự án) nhưng các dữ liệu thể hiện sự chênhlệch lớn giữa vùng Dự án và ngoài Dự án phản ánh sự tụt hậu về kinh tế của khu vực Dự án, đồngthời ám chỉ đời sống kinh tế khó khăn đặc biệt của người dân vùng Dự án

Thứ hai, từ góc độ dân tộc, dữ liệu khẳng định nhóm nghèo hơn là các nhóm dân tộc thiểu số: Dữ liệu thứ cấp khẳng định nhóm nghèo hơn trong vùng Dự án là nhóm dân tộc thiểu số (bản

địa và di cư) so với dân tộc Kinh (Hình 2.2)

Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010

Nguồn: Tính toán cho vùng Dự án từ dữ liệu Agricensus 2011

37

30

77

57 85

Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010

Tỷ lệ nghèo (%) Tỷ lệ cận nghèo (%)

Trung bình 26 huyện trong Dự án 45,0 8,4

Huyện ngoài Dự án nhưng trong sáu tỉnh 20,0 7,1

Trung bình của các xã ngoài Dự án nhưng trong 26

Nguồn: Agricensus 2011 và * tỷ lệ nghèo cả nước theo công bố của Bộ LĐTBXH

Trong năm 2010, khi tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước giảm xuống chỉ còn 14,2% (Bảng 2.1) thì

tỷ lệ nghèo của sáu tỉnh Dự án là gần 25% và cứ thế tăng dần nếu xét ở quy mô hẹp hơn cho 26huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án Ở quy mô cấp tỉnh, cứ khoảng 4 người thì có một người làngười nghèo, còn ở các xã Dự án thì cứ 2 người chắc chắn sẽ có một người nghèo Tỷ lệ cậnnghèo của vùng Dự án cũng cao hơn so với mức trung bình Cả nước chỉ có 6,98% dân số nằmtrong diện cận nghèo nhưng con số này xét chung cho sáu tỉnh và xét riêng cho 130 xã Dự ántương ứng sẽ là 7,39% và 8,07% Nếu chỉ so sánh giữa các xã trong các huyện Dự án, có thể thấy

tỷ lệ nghèo của xã không trong Dự án thấp hơn hẳn tỷ lệ trung bình của 130 xã Dự án (34,9% sovới 51,9%); hay so sánh giữa các huyện trong sáu tỉnh, ta thấy tỷ lệ nghèo của 26 huyện cao hơnhẳn các huyện còn lại (45% so với 20%) Xét trên phạm vi cả nước, rõ ràng tỷ lệ nghèo của sáutỉnh là cao hơn gấp đôi tỷ lệ chung của cả nước (24,9% so với 11,8%) Mặc dù, Dự án GNKVTN

đã có tiêu chí lựa chọn các xã/huyện đưa vào Dự án là phải có tỷ lệ nghèo cao hơn (cụ thể chỉhuyện có tỷ lệ nghèo trên 30% mới trở thành vùng Dự án) nhưng các dữ liệu thể hiện sự chênhlệch lớn giữa vùng Dự án và ngoài Dự án phản ánh sự tụt hậu về kinh tế của khu vực Dự án, đồngthời ám chỉ đời sống kinh tế khó khăn đặc biệt của người dân vùng Dự án

Thứ hai, từ góc độ dân tộc, dữ liệu khẳng định nhóm nghèo hơn là các nhóm dân tộc thiểu số: Dữ liệu thứ cấp khẳng định nhóm nghèo hơn trong vùng Dự án là nhóm dân tộc thiểu số (bản

địa và di cư) so với dân tộc Kinh (Hình 2.2)

Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010

Nguồn: Tính toán cho vùng Dự án từ dữ liệu Agricensus 2011

Trung bình 26 huyện trong Dự án 45,0 8,4

Huyện ngoài Dự án nhưng trong sáu tỉnh 20,0 7,1

Trung bình của các xã ngoài Dự án nhưng trong 26

Nguồn: Agricensus 2011 và * tỷ lệ nghèo cả nước theo công bố của Bộ LĐTBXH

Trong năm 2010, khi tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước giảm xuống chỉ còn 14,2% (Bảng 2.1) thì

tỷ lệ nghèo của sáu tỉnh Dự án là gần 25% và cứ thế tăng dần nếu xét ở quy mô hẹp hơn cho 26huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án Ở quy mô cấp tỉnh, cứ khoảng 4 người thì có một người làngười nghèo, còn ở các xã Dự án thì cứ 2 người chắc chắn sẽ có một người nghèo Tỷ lệ cậnnghèo của vùng Dự án cũng cao hơn so với mức trung bình Cả nước chỉ có 6,98% dân số nằmtrong diện cận nghèo nhưng con số này xét chung cho sáu tỉnh và xét riêng cho 130 xã Dự ántương ứng sẽ là 7,39% và 8,07% Nếu chỉ so sánh giữa các xã trong các huyện Dự án, có thể thấy

tỷ lệ nghèo của xã không trong Dự án thấp hơn hẳn tỷ lệ trung bình của 130 xã Dự án (34,9% sovới 51,9%); hay so sánh giữa các huyện trong sáu tỉnh, ta thấy tỷ lệ nghèo của 26 huyện cao hơnhẳn các huyện còn lại (45% so với 20%) Xét trên phạm vi cả nước, rõ ràng tỷ lệ nghèo của sáutỉnh là cao hơn gấp đôi tỷ lệ chung của cả nước (24,9% so với 11,8%) Mặc dù, Dự án GNKVTN

đã có tiêu chí lựa chọn các xã/huyện đưa vào Dự án là phải có tỷ lệ nghèo cao hơn (cụ thể chỉhuyện có tỷ lệ nghèo trên 30% mới trở thành vùng Dự án) nhưng các dữ liệu thể hiện sự chênhlệch lớn giữa vùng Dự án và ngoài Dự án phản ánh sự tụt hậu về kinh tế của khu vực Dự án, đồngthời ám chỉ đời sống kinh tế khó khăn đặc biệt của người dân vùng Dự án

Thứ hai, từ góc độ dân tộc, dữ liệu khẳng định nhóm nghèo hơn là các nhóm dân tộc thiểu số: Dữ liệu thứ cấp khẳng định nhóm nghèo hơn trong vùng Dự án là nhóm dân tộc thiểu số (bản

địa và di cư) so với dân tộc Kinh (Hình 2.2)

Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010

Nguồn: Tính toán cho vùng Dự án từ dữ liệu Agricensus 2011

17

59 51

Đăk Nông

Trang 22

Quan sát dễ nhận thấy tại các tỉnh Dự án, tỷ lệ nghèo của người Kinh luôn thấp hơn tỷ lệ nghèocủa các nhóm dân tộc thiểu số Điển hỉnh như tỉnhKon Tum, tỷ lệ nghèo của người Kinh chỉ là11%, trong khi tỷ lệ nghèo của nhóm dân tộc thiểu số bản địa là hơn 70% và của các nhóm dântộc khác là gần 50% Không tại một tỉnh nào, tỷ lệ nghèo trong nhóm dân tộc Kinh vượt quá con số40% nhưng lại có thể dễ dàng tìm thấy những tỷ lệ nghèo trên 70-80% ở các nhóm dân tộc thiểu

số khác ở các tỉnh Dự án Khoảng cách giữa nhóm có tỷ lệ nghèo thấp nhất (luôn luôn là nhómKinh) với nhóm có tỷ lệ nghèo cao nhất thường là 40-50 điểm phần trăm, và khoảng cách giữanhóm này với nhóm ở giữa thường chỉ khoảng 10% Riêng đối với Kon Tum, tỉnh có sự phân hóalớn nhất, thì khoảnh cách chênh lệch này tương ứng là 62 và 25 điểm phần trăm

Từ Hình 2.2, có thể thấy rằng, tại các vùng Dự án, cứ gặp ba người Kinh thì ít nhất hai ngườitrong số họ sống trên ngưỡng nghèo.Còn nếu gặp 3 người dân tộc thiểu số thì có nhiều khả năng

2 người trong số họ sống dưới ngưỡng nghèo Và đây mới chỉ là tỷ lệ nghèo thô xét theo các tiêuchuẩn tiền tệ, còn nếu xét theo thước đo nghèo đa chiều thì có thể dễ dàng dự đoán được rằngvới phân bố dân cư (người Kinh chủ yếu tập trung ở các thành phố và trung tâm văn hóa - kinh tế

- xã hội), tập tục sinh hoạt (còn nhiều điểm lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số) như hiện naythì tỷ lệ nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số có thể còn cao hơn nữa và khoảng cách giữa nhóm Kinh

và các nhóm dân tộc còn lại tại các vùng Dự án sẽ còn lớn hơn nhiều, đặc biệt khi bóc tách chi tiếtđến các khía cạnh của nghèo đa chiều như giáo dục, y tế, nước sạch

Bảng 2.2: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, vệ sinh) giữa các nhóm dân tộc (2010)

Tỷ lệ hộ (%)

Sử dụng điện lướiquốc gia

dùng nguồn nướcsạch cho ăn uống

Có hố xí hợp vệsinh

Trang 23

Ngoại trừ tiếp cận với điện lưới khá đồng đều giữa ba nhóm dân tộc (Kinh, dân tộc thiểu số bảnđịa, và các nhóm dân tộc thiểu số khác), còn lại tiếp cận với nước sạch và vệ sinh đều thể hiện rõ

sự phân hóa Tại các xã Dự án, chưa đến một nửa số đồng bào dân tộc thiểu số bản địa có sửdụng nước sạch trong ăn uống và chưa đến 7% trong số họ có tiếp cận với hố xí hợp vệ sinh.Nhóm dân tộc di cư có khá hơn một chút với tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt trên 70% nhưng tỷ lệ sửdụng hố xí hợp vệ sinh vẫn ở mức cực kỳ thấp, chỉ hơn 11%

Bức tranh toàn cảnh dù nhìn xa hay nhìn gần đều cho thấy sự tụt hậu của các nhóm dân tộc thiểu

số so với người Kinh cả về cả về kinh tế, vệ sinh, nước sạch Trong đó, nhóm dân tộc thiểu số bảnđịa là nhóm hạn chế hơn cả, đặc biệt là tiếp cận với công trình vệ sinh thì nhóm này bị hạn chếhơn hẳn so với hai nhóm còn lại Chỉ duy nhất có tiếp cận với điện lưới quốc gia là nhóm dân tộcthiểu số bản địa có tỷ lệ tiếp cận cao hơn các nhóm dân tộc thiểu số khác do nhiều nhóm mới di

cư đến còn chưa ổn định chỗ ở, các thôn/xã mới lập hoàn toàn nên chưa có cơ sở hạ tầng và tiếpcận với các dịch vụ cơ bản (trong đó có điện) Trong số các hộ dân tộc thiểu số di cư (đến từ miềnBắc như Dao, Mường, Thái, H’Mông và từ đồng bằng sông Mê-kông), các hộ di cư tự do trongthời gian 3 năm trở lại đây thường là những đối tượng khó khăn hơn

Thứ ba, từ góc độ giới, nhóm hộ có chủ hộ là nữ nghèo hơn so với nhóm hộ có chủ hộ là nam giới trong vùng Dự án: Nhóm hộ với chủ hộ là nữ (gồm dân tộc theo xã hội mẫu hệ và phụ

hệ) có tỷ lệ nghèo cao hơn đáng kể so với chủ hộ là nam Chênh lệch về tỷ lệ nghèo trong nhóm

hộ có nữ làm chủ hộ so với nhóm hộ có nam làm chủ hộ, tính riêng cho địa bàn 130 xã Dự án, là

10 điểm phần trăm (tương ứng với 60,4% và 50,4%) Còn tính cho 26 huyện trong Dự án vàchung cho cả sáu tỉnh được khảo sát lần lượt đều là trên 12 và 13 điểm % (xem Bảng 2.3)

Bảng 2.3: Tỷ lệ nghèo phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2010)

Giới tính chủ hộ Tỷ lệ nghèo Tỷ lệ cận nghèo

Nếu tính cả số hộ ở trong nhóm cận nghèo vào thì mức chênh lệch nói trên sẽ giảm đi chút ít do tỷ

lệ hộ gia đình cận nghèo trong nhóm hộ có nữ làm chủ hộ lại thấp hơn so với nhóm nam làm chủ

hộ Điều này có thể là do cái nghèo của nhóm nữ làm chủ hộ thực sự do thiếu sức lao động, thiếunăng lực sản xuất dẫn đến cái nghèo của họ dai dẳng và bần cùng hơn Còn cái nghèo của củanhóm nam làm chủ hộ có thể còn do phương thức sinh hoạt và quản lý gia đình của người chủ giađình (nam giới), khiến gia đình họ không quá bần cùng (vì vẫn có sức lao động, khả năng sảnxuất) nhưng cũng không khá giả hẳn lên được

“Hộ khó khăn là các hộ đàn bà không có chồng (chồng chết), con; nhà đông con (10 khẩu) không phát triển

được”

(Già làng, xã Ia Broai, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai)

Điều đó có thể thấy rõ hơn qua số liệu của Bảng 2.4 Mặc dù nghèo hơn so với nhóm hộ có namgiới làm chủ hộ (tính theo thước đo tiền tệ) nhưng tiếp cận với điện và nước sạch của nhóm hộ có

nữ làm chủ hộ lại tương tự [ở phạm vi xã Dự án] hoặc cao hơn [ở phạm vi huyện Dự án và tỉnh

Dự án] Tuy vậy, tình hình tiếp cận với hố xí hợp vệ sinh thì nhóm hộ có nam làm chủ lại cao hơn[với mức chênh lệch dao động trên dưới một đến ba điểm phần trăm ở cả ba cấp xã, huyện, tỉnh

Dự án] Sự khác biệt trong tiếp cận các dịch vụ và tiện ích sinh hoạt cơ bản này của hai nhóm hộ

Trang 24

gia đình có thể được giải thích bằng mối quan tâm của chủ hộ có giới tính khác nhau được đặtvào các tiện ích khác nhau Phụ nữ làm chủ hộ có thể quan tâm hơn đến việc sử dụng nước sạchcho sinh hoạt gia đình và ăn u ống.

“Trong gia đình, ngư ời phụ nữ ngoài lo việc đồng áng còn là người nội trợ và chăm lo chính cho con cái Nên

họ lo cái ăn, cái uống cho cả gia đình ch ứ nam giới không lo”

(Nông dân Xã Quảng Phú, Krông Nô, Đắk Nông)

“Đối với vấn đề dinh dưỡng hay đảm bảo an ninh lương thực, thì chỉ có giao cho phụ nữ, hội phụ nữ làm là phù hợp, vì phụ nữ lo chuyện ăn, chuyện sinh hoạt, chuyện dinh dưỡng vệ sinh cho các thành viên còn lại.

Người dân tộc nào cũng th ế, phụ hệ hay mẫu hệ cũng thế cả.”

(Ý kiến chung của nhiều cán bộ và người dân về vai trò của phụ nữ với dinh dưỡng của gia đình)

Dữ liệu cho thấy nếu việc tiếp cận các tiện ích sinh hoạt hoặc dịch vụ cơ bản ít bị phụ thuộc vàolao động [điện lưới, sử dụng nước sạch cho ăn uống] thì tỷ lệ ở nhóm hộ có nữ làm chủ hộ caohơn hoặc tương đồng với nhóm hộ có nam làm chủ, còn nếu cần có nhân công để triển khai [nhưxây nhà vệ sinh] thì tỷ lệ này ở nhóm nữ không còn ưu thế hoặc tương đồng như vậy nữa

Bảng 2.4: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, về sinh) của các hộ trong vùng Dự án, phân

theo giới tính chủ hộ (2010)

Giới tính chủ hộ

Tỷ lệ hộ (%)

sử dụng điện lướiquốc gia

dùng nguồn nướcsạch cho ăn uống

có hố xí hợp vệsinh

2.1.2 Tiếp cận vốn sinh kế của nhóm đối tượng trong vùng Dự án

Như Khung SLA, cơ sở lý thuyết của Đánh giá này đã chỉ ra, nguồn vốn sinh kế được phân thànhnăm loại hình gồm: (i) vốn tài nguyên, (ii) vốn con người; (iii) vốn vật chất; (iv) vốn tài chính và cuốicùng nhưng không kém quan trọng là (v) vốn xã hội Tổng hòa các nguồn vốn này sẽ là điều kiệncần để các cộng đồng có thể thực hiện các hoạt động kinh tế Nhưng cần lưu ý rằng các yếu tốkhác như cấu trúc (structure) và các định chế/quy trình (processes) mới là các điều kiện đủ để cácvốn sinh kế được đưa vào khai thác trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cho cộng đồng Phầntiếp theo, trước hết sẽ phân tích, dưới góc nhìn so sánh, giữa các nhóm dân tộc và theo giới tính

về mức độ tiếp cận/sở hữu các nguồn vốn sinh kế này

(a) Về vốn tài nguyên: Vốn tài nguyên có thể bao gồm đất đai và sản vật, nước và nguồn nước,

cây cối và các sản phẩm từ rừng, sinh vật tự nhiên, các loại sợi và lương thực tự nhiên, sự đadạng sinh học, môi trường, khí hậu Trong phạm vi của Đánh giá xã hội này, việc tiếp cận nguồnvốn tự nhiên quan trọng nhất là đất đai sẽ được lựa chọn để phân tích, so sánh cho các nhóm đốitượng dễ bị tổn thương của Dự án Cơ hội để thụ hưởng các nguồn vốn tự nhiên khác như khíhậu, môi trường, sự đa dạng sinh học, sản vật từ rừng, v.v về cơ bản sẽ không có ý nghĩa khácbiệt giữa nhóm yếu thế và nhóm không yếu thế

Trang 25

Bảng 2.5: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo dân tộc trong vùng Dự án (2010)

Diện tích đất sở hữu (m2) trung bình hộ Diện tích trồng cây trung bình hộ (m2)Đất trồng

cây hàngnăm

Đất trồngcây lâunăm

Đấtlâmnghiệp

Tổngdiệntích lúa ngô

càphê tiêu

địa 11.915 2.422 5.078 19.416 4.934 2.156 908 50 416 632DTTS khác 10.224 5.343 1.074 16.641 4.066 2.015 2.714 93 1.768 667

26 huyện

trong Dự

án

Kinh 7.089 7.509 1.100 15.698 2.131 1.493 4.828 301 1.466 781DTTS bản

địa 11.236 1.817 4.652 17.706 4.695 2.077 669 27 325 409DTTS khác 10.126 4.746 1.359 16.232 3.981 2.148 2.474 87 1.485 588

6 tỉnh Dự

án

Kinh 2.622 4.110 957 7.689 1.891 511 2.791 212 683 303DTTS bản

địa 8.699 4.359 2.798 15.856 4.048 1.585 2.386 81 1.007 646DTTS khác 8.428 5.485 1.919 15.833 3.361 2.820 3.126 164 1.084 985

Nguồn: Agricensus 2011

Tính riêng cho 130 xã Dự án thì trung bình tổng điện tích đất sở hữu của các nhóm dân tộc không

có khác biệt lớn khi dân tộc thiểu số bản địa sở hữu khoảng 1,94 ha, hai nhóm Kinh và các dân

tộc thiểu số khác sở hữu khoảng 1,65 ha mỗi hộ Nếu xét cho cả sáu tỉnh nói chung thì diện tích

sở hữu đất bắt đầu có sự phân hóa rõ khi nhóm Kinh chỉ sở hữu bằng khoảng 1/2 so với diện tích

sở hữu của mỗi nhóm dân tộc kia Không có sự chênh lệch nhiều về sở hữu đất giữa nhóm dân

tộc thiểu số bản địa và và dân tộc di cư đến, có lẽ do nhóm dân tộc di cư đến có xu hướng mua

đất từ nhóm dân tộc thiểu số bản địa Quỹ đất mới cũng không còn nên m ặc dù là nhóm đã cư trú

lâu đời nhưng nhóm dân tộc thiểu số bản địa không cho thấy ưu thế hơn các nhóm Kinh và dân

tộc thiểu số khác về sở hữu đất đai

Tuy tổng diện tích đất sở hữu không có nhiều khác biệt nhưng sử dụng đất thì lại có sự khác biệt

rõ rệt giữa ba nhóm dân tộc Nhóm Kinh sở hữu rất ít đất trồng cây hàng năm và đất lâm nghiệp,

đặc biệt là đất lâm nghiệp Họ tập trung vào trồng cây lâu năm/cây công nghiệp là những loại cây

có giá trị kinh tế cao và là lợi thế của các tỉnh Dự án Ngoại trừ ở phạm vi tính chung cho sáu tỉnh

(quỹ đất của nhóm Kinh thấp chỉ bằng khoảng 1/2 của mỗi nhóm còn lại), còn lại ở phạm vi tính

riêng cho 26 huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án thì diện tích trồng cây lâu năm của nhóm dân tộc

Kinh luôn vượt trội hơn hẳn so với nhóm dân tộc thiểu số bản địa và dân tộc thiểu số còn lại Nếu

chỉ tính riêng cho 130 xã Dự án thì nhóm Kinh trung bình mỗi hộ sở hữu hơn 0,93 ha đất trồng cây

lâu năm, trong khi nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nhóm dân tộc khác chỉ sở hữu lần lượt

khoảng 0,24 và 0,53 ha mỗi hộ (xem Bảng 2.5)

Quỹ đất của nhóm dân tộc thiểu số bản địa chủ yếu được đầu tư cho trồng cây hàng năm (lúa,

ngô) và lâm nghiệp, là hai loại cây không đòi hỏi đầu tư và chăm sóc nhiều nhưng không cho hiệu

quả kinh tế và thu nhập lớn như những loại cây mà nhóm dân tộc Kinh chú trọng và nhóm dân tộc

khác đang có xu hướng đầu tư Diện tích đầu tư trung bình của các hộ dân tộc khác vào cây hàng

năm cũng khá cao, tương đương v ới nhóm dân tộc thiểu số bản địa (xấp xỉ 1,0-1,1 ha ở cấp xã và

huyện Dự án, giảm xuống khoảng 0,85 ha nếu tính chung cho cả sáu tỉnh Dự án) Nhưng diện tích

đất dành cho cây lâu năm của họ lại cao hơn hẳn Có thể do nhóm này có nhiều người mới di cư

đến cần thu hoạch hàng năm để đảm bảo cuộc sống trong quá trình tích lũy thêm đất, nhưng mục

tiêu dài hạn của họ vẫn là tăng dần đầu tư và chờ thu hoạch từ các diện tích cây lâu năm/cây công

nghiệp

Trang 26

Số liệu về cơ cấu cây trồng của nhóm dân tộc Kinh, dân tộc thiểu số bản địa, và các dân tộc thiểu

số khác cũng hoàn toàn thống nhất với số liệu và các phân tích trên đây về sở hữu đất và xuhướng sử dụng đất của ba nhóm này Nhóm dân tộc thiểu số bản địa dẫn đầu về sở hữu đất trồngcây hàng năm và lâm nghiệp thì cũng là nhóm đầu tư đất nhiều nhất cho cây lúa và cây ngô.Nhóm dân tộc Kinh, nhìn chung, là nhóm có diện tích cà phê, cao su, tiêu, điều trung bình cho mỗi

hộ lớn hơn cả Nhóm dân tộc khác tuy trồng lúa ngô xấp xỉ như nhóm dân tộc thiểu số bản địanhưng diện tích cà phê, cao su, tiêu, điều của họ lại lớn hơn nhiều Đặc biệt là ở các xã Dự án, tỷtrọng đất trung bình mà mỗi hộ trong nhóm này dành cho cây cao su là rất cao, nên mặc dù diệntích đất trồng cây lâu năm của họ thấp hơn nhiều so với các hộ người Kinh nhưng diện tích câycao su lại đạt mức xấp xỉ như với nhóm người Kinh (0,17 ha so với 0,19 ha) Số liệu tính chungcho địa bàn cả sáu tỉnh cho thấy, diện tích đất trung bình mỗi hộ trong nhóm này dành cho cây càphê, cao su, và điều còn lớn hơn con số này ở nhóm người Kinh

Phân tích giới về sở hữu đất cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa nhóm hộ gia đình có nam làmchủ hộ so với nhóm nữ làm chủ hộ (như Bảng 2.6 trình bày)

Bảng 2.6: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo giới trong vùng Dự án 2010)

Diện tích đất sở hữu (m2) trung bình hộ Diện tích trồng cây trung bình hộ (m2)Đất trồng

cây hàngnăm

Đất trồngcây lâunăm

Đấtlâmnghiệp

Tổngdiệntích lúa ngô cà phê tiêu

Trang 27

Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010)

a Cây hàng năm, lâu năm và lâm nghiệp

b Các loại cây trồng chính

Nguồn: Agricensus 2011

Các ý kiến từ nhiều đối tượng, người dân, cán bộ ở hầu khắp các xã khảo sát như được tổng hợptrong Hộp 2.1 dưới đây cũng đều phản ánh khó khăn về hạn chế đến nguồn tài nguyên đất vànước như một khó khăn chính hạn chế phát triển sản xuất trong vùng Dự án Kể cả trong trườnghợp có diện tích đất canh tác lớn, thì khó khăn về địa hình (chia cắt, đất dốc) kết hợp với khó khăn

về điều kiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi) càng làm nghiêm trọng hơn tình hình sản xuấtnông nghiệp của đại đa số người dân vùng Dự án

Hộp 2.1: Hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên đất và nước trong vùng Dự án

“Đồi cao nhất làm ngô không có được, ba phần tư (3/4) diện tích là đồi núi Thủy lợi rất khó khăn chủ yểu dựa vào khe nước tự nhiên Chỉ có 2 đập thủy lợi phục vụ cho 45ha Khe mà cạn thì dân sẽ mất mùa Cây sắn trồng trên đồi Năng suất sắn bình thường phải đạt 25 tấn/ha Đất tốt nhất ở đây cũng chưa t ới 5 tấn/ha Năng suất thấp chủ yếu là do đất không tốt (60%) ”

Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010)

a Cây hàng năm, lâu năm và lâm nghiệp

b Các loại cây trồng chính

Nguồn: Agricensus 2011

Các ý kiến từ nhiều đối tượng, người dân, cán bộ ở hầu khắp các xã khảo sát như được tổng hợptrong Hộp 2.1 dưới đây cũng đều phản ánh khó khăn về hạn chế đến nguồn tài nguyên đất vànước như một khó khăn chính hạn chế phát triển sản xuất trong vùng Dự án Kể cả trong trườnghợp có diện tích đất canh tác lớn, thì khó khăn về địa hình (chia cắt, đất dốc) kết hợp với khó khăn

về điều kiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi) càng làm nghiêm trọng hơn tình hình sản xuấtnông nghiệp của đại đa số người dân vùng Dự án

Hộp 2.1: Hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên đất và nước trong vùng Dự án

“Đồi cao nhất làm ngô không có được, ba phần tư (3/4) diện tích là đồi núi Thủy lợi rất khó khăn chủ yểu dựa vào khe nước tự nhiên Chỉ có 2 đập thủy lợi phục vụ cho 45ha Khe mà cạn thì dân sẽ mất mùa Cây sắn trồng trên đồi Năng suất sắn bình thường phải đạt 25 tấn/ha Đất tốt nhất ở đây cũng chưa t ới 5 tấn/ha Năng suất thấp chủ yếu là do đất không tốt (60%) ”

(Cán bộ, xã Eatrang, Huyện M’Đrắk, Đắk Lắk)

“Khó khăn lớn nhất là thiếu nước: không có đập thủy lợi; phải dùng nước trời, nước khe suối Phải đi xa để lấy nước (cả vợ lẫn chồng) Từ tháng Ba, tháng Tư đến tháng Tám không có nước”.

55,08 58,27 56,05 59,76 42,51 48,01

28,49 26,09 27,64 24,61 43,24 38,94

20,69 21,96 21,23 22,5 23,72 30,49

10,57 11,55 11,01 12,21 9,01

9,47

15,48 13,77 15,95 13,42 27,82 24,11

0,78 0,42

Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010)

a Cây hàng năm, lâu năm và lâm nghiệp

b Các loại cây trồng chính

Nguồn: Agricensus 2011

Các ý kiến từ nhiều đối tượng, người dân, cán bộ ở hầu khắp các xã khảo sát như được tổng hợptrong Hộp 2.1 dưới đây cũng đều phản ánh khó khăn về hạn chế đến nguồn tài nguyên đất vànước như một khó khăn chính hạn chế phát triển sản xuất trong vùng Dự án Kể cả trong trườnghợp có diện tích đất canh tác lớn, thì khó khăn về địa hình (chia cắt, đất dốc) kết hợp với khó khăn

về điều kiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi) càng làm nghiêm trọng hơn tình hình sản xuấtnông nghiệp của đại đa số người dân vùng Dự án

Hộp 2.1: Hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên đất và nước trong vùng Dự án

“Đồi cao nhất làm ngô không có được, ba phần tư (3/4) diện tích là đồi núi Thủy lợi rất khó khăn chủ yểu dựa vào khe nước tự nhiên Chỉ có 2 đập thủy lợi phục vụ cho 45ha Khe mà cạn thì dân sẽ mất mùa Cây sắn trồng trên đồi Năng suất sắn bình thường phải đạt 25 tấn/ha Đất tốt nhất ở đây cũng chưa t ới 5 tấn/ha Năng suất thấp chủ yếu là do đất không tốt (60%) ”

(Cán bộ, xã Eatrang, Huyện M’Đrắk, Đắk Lắk)

“Khó khăn lớn nhất là thiếu nước: không có đập thủy lợi; phải dùng nước trời, nước khe suối Phải đi xa để lấy nước (cả vợ lẫn chồng) Từ tháng Ba, tháng Tư đến tháng Tám không có nước”.

16,43 15,64 16,30 15,64 14,25 13,05

Đất lâm nghiệp

0,78 0,42 0,92 0,49 1,9 1,2

6,41 6,12 5,82 5,65 7,85 7,53

4,35 4,32 3,5 3,59 4,25 4,26

Trang 28

(Thảo luận nhóm phụ nữ, xã Ba Khâm, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi)

“Mặc dù diện tích đất rộng nhưng địa hình chia cắt, manh mún; ruộng cách nhà 5-6 km, đi mất nửa ngày mới đến nơi Đất rẫy cũng b ị chia cắt, mỗi nơi có một tí Vì ruộng xa nên bà con không bón phân chuồng - không ai vác lên được.”

(Thảo luận nhóm phụ nữ, xã Ba Khâm, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi)

“Khó khăn nhất là 9 hộ trong thôn thiếu ruộng đất, lý do là do bố mẹ trước kia lười, không chịu khai hoang nên không có đất để chia cho con cháu”.

(Già làng, xã Ia Broai, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai)

“Nguyên nhân nghèo ở buôn là do đất kém mầu mỡ, không bằng phẳng Dân sống rải rác nên điều kiện giao thương khó khăn Buôn cũng khó khăn về nguồn nước”.

(Trưởng thôn, xã AeTrang, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk)

“Hiện tại đất đai chưa có giấy tờ chủ sở hữu, mình làm thì cứ làm nhưng rất ảnh hưởng đến cuộc sống vì

lo lắng về việc đất này có được cấp giấy không, nếu bị thu hồi thì sẽ mất các khoản đầu tư”.

(Thảo luận nhóm dân tộc thiểu số di cư, xã Quảng Phú, huyện Krong nô, tỉnh Đắk Nông)

Nguồn:Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Trong khi nông nghiệp là nguồn thu nhập chính trên tổng thu nhập của người dân vùng Dự án(trên phạm vi sáu tỉnh, tỷ lệ hộ có thu nhập chính từ nông nghiệp là 95,32%, của 26 huyện Dự án

là 98,19%, của 130 xã Dự án là 98,73 (Nguồn: Agricansus 2011), các phân tích trên đây càng trở

nên quan trọng trong việc giải thích vì sao các hộ nghèo là các hộ nữ, hộ dân tộc thiểu số lại có xuhướng chung là canh tác cây ngắn ngày, loại cây trồng dù không đem lại hiệu quả kinh tế caonhưng lại đáp ứng nhu cầu thu nhập ngắn hạn và đòi hỏi vòng quay vốn ngắn

(b) Về vốn con người: Vốn con người hàm ý “số lượng và chất lượng của lực lượng lao động”,

trong đó, chất lượng được phản ánh quả tình hình sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, kiến thức và

kỹ năng, năng lực làm việc, khả năng thích nghi của lực lượng lao động

Về số lượng lao động, theo các dữ liệu thứ cấp hiện có, có thể khẳng định tỷ lệ tham gia lao động

thực tế của sáu tỉnh Dự án cao hơn so với tỷ lệ người đang trong độ tuổi lao động (65,5% so với60,9%, theo Agricensus 2011) Chênh lệch này có thể xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn dẫnđến sức ép phải tham gia lao động đối với cả các cá nhân không còn trong độ tuổi lao động (ngườigià, trẻ em) Việc các hộ nghèo neo đơn (người già) vẫn tham gia lao động giải thích cho sự chênhlệch này

Nhìn từ góc độ dân tộc, có thể thấy, với tỷ lệ sinh con cao hơn, số nhân khẩu trung bình của các

hộ dân tộc thiểu số thường cao hơn so với hộ người Kinh Trung bình, một hộ người Kinh cókhoảng 3,8 – 3,9 khẩu, còn hộ đồng bào dân tộc thiểu số thì có từ 4,4 – 4,9 khẩu Tương ứng thì

số lao động trung bình của một hộ dân tộc thiểu số cũng cao hơn m ột chút khi so với các hộ ngườiKinh, con số này dao động trong mức 2,6 - 2,8 lao động/hộ dân tộc so với 2,3 – 2,4 lao động/hộngười Kinh (Bảng 2.7) Như vậy, về số lượng nhóm hộ dân tộc Kinh ở tình trạng ít lao động hơn

so với hộ dân tộc thiểu số Tuy nhiên, cần nhìn vào chất lượng của lao động mới có được một bứctranh đầy đủ hơn về “lao động” (workforce) của các hộ (xem thêm Bảng 2.7)

Trang 29

Bảng 2.7: Số lượng lao động của hộ gia đình tại vùng Dự án theo nhóm dân tộc (2011)

Số nhân khẩutrung bình(người)

Tỷ lệ ngườitrong tuổi laođộng/quy mô

hộ (%)

Tỷ lệ lao độngthực tế/quy mô

hộ (%)

Số lượng lao độngtrung bình/hộ (sốtrung bình tuyệtđối)

Bảng 2.8: Số lượng lao động của hộ gia đình phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011)

Giới tính chủ hộ

Số nhân khẩutrung bình(người)

Tỷ lệ số ngườitrong tuổi laođộng/quy mô

hộ (%)

Tỷ lệ lao độngthực tế/quy

mô hộ (%)

Số lượng lao độngtrung bình/hộ (sốtrung bình tuyệtđối)

ra, theo các mô tả, chia sẻ của các đối tượng khảo sát, trong các hộ có nam làm chủ như trongHộp 2.2 dưới đây

Trang 30

Hộp 2.2: Các ý kiến về phân công lao động giữa nam và nữ vùng Dự án

“Phân công lao động trong sản xuất giữa nam và nữ không công bằng cho phụ nữ, phụ nữ làm nhiều việc hơn kể cả việc nặng, trong khi đó nam không chịu đi làm”.

(Cán bộ, Hội Nông dân, tỉnh Quảng Nam)

“Lao động chính trong gia đình của dân tộc Cơ Tu là phụ nữ với lý do (i) phong tục tập quán từ thời xưa - nhà trai tốn nhiều tiền để cưới vợ nên tâm lý phụ nữ có tâm lý chăm chỉ để “trả nợ””.

(Cán bộ, Ban dân tộc, tỉnh Quảng Nam)

“Trong hoạt động nông nghiệp, người phụ nữ làm rẫy làm nương, cuốc ruộng, trồng sắn, trồng bắp, người đàn ông, làm bẫy, bắt cá”.

(Già làng, xã Phước Chanh, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam)

Nguồn:Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Về chất lượng lao động, tại vùng Dự án, nhìn chung, được đánh giá là thấp Về tình trạng sức

khỏe, mặc dù không có dữ liệu sẵn có cho biết tình hình sức khỏe của nhóm đối tượng đang ở độtuổi lao động trong vùng Dự án, nhưng dữ liệu về tình trạng trẻ suy dưỡng dưới năm tuổi cũng cóthể là một phong vũ biểu cho biết tình hình sức khỏe chung của cộng đồng

Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011)

a % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi b % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi

Nguồn: Viện Dinh dưỡng (NIN)

Như Hình 2.4 cho thấy, chỉ hai tỉnh miền Trung là Quảng Nam và Quảng Ngãi có tỷ lệ trẻ em dướinăm tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi và chiều cao/tuổi tương tự như mức trung bình cả nước,còn tỷ lệ này của các tỉnh Tây Nguyên là cao hơn rất đáng kể so với mức trung bình của cả nước

Ba địa phương là Đắk Lắk, Đăk Nông, Kon Tum có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao đáng lo ngại Các

dữ liệu này không chỉ cho thấy chất lượng của lực lượng lao động tương lai mà có thể suy diễnrằng sức khỏe của lực lượng lao động hiện tại cũng ở tình trạng tương tự, bởi mức độ suy dinhdưỡng của trẻ, trong chừng mực nhất định, là tấm gương phản chiếu tình trạng dinh dưỡng chungcủa hộ gia đình Các dữ liệu này có ý nghĩa quan tr ọng đối với Dự án bởi một trong những nộidung dự kiến tác động thuộc Tiểu hợp phần 2.1 hiện nay là nâng cao khả năng tự chủ về lươngthực cho các hộ dân và cải thiện hành vi dinh dưỡng

Chất lượng lao động thấp được phản ánh qua dữ liệu về trình độ của lực lượng lao động vùng Dự

án Ở cấp độ tỉnh, có tới 92,3% chủ hộ chưa qua đào tạo hoặc không có chứng chỉ đào tạo (Bảng2.9) Nếu phân tích sâu hơn từ góc độ dân tộc và giới, chúng ta sẽ thấy nhóm dân tộc thiểu số vànhóm hộ có chủ là nữ giới sẽ gặp bất lợi hơn Bảng 2.9 minh họa rõ hơn chất lượng lao động rấtthấp tại cả sáu tỉnh nói chung và 130 xã Dự án nói riêng thông qua chỉ số về trình độ chuyên môn

Gia Lai

Hộp 2.2: Các ý kiến về phân công lao động giữa nam và nữ vùng Dự án

“Phân công lao động trong sản xuất giữa nam và nữ không công bằng cho phụ nữ, phụ nữ làm nhiều việc hơn kể cả việc nặng, trong khi đó nam không chịu đi làm”.

(Cán bộ, Hội Nông dân, tỉnh Quảng Nam)

“Lao động chính trong gia đình của dân tộc Cơ Tu là phụ nữ với lý do (i) phong tục tập quán từ thời xưa - nhà trai tốn nhiều tiền để cưới vợ nên tâm lý phụ nữ có tâm lý chăm chỉ để “trả nợ””.

(Cán bộ, Ban dân tộc, tỉnh Quảng Nam)

“Trong hoạt động nông nghiệp, người phụ nữ làm rẫy làm nương, cuốc ruộng, trồng sắn, trồng bắp, người đàn ông, làm bẫy, bắt cá”.

(Già làng, xã Phước Chanh, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam)

Nguồn:Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Về chất lượng lao động, tại vùng Dự án, nhìn chung, được đánh giá là thấp Về tình trạng sức

khỏe, mặc dù không có dữ liệu sẵn có cho biết tình hình sức khỏe của nhóm đối tượng đang ở độtuổi lao động trong vùng Dự án, nhưng dữ liệu về tình trạng trẻ suy dưỡng dưới năm tuổi cũng cóthể là một phong vũ biểu cho biết tình hình sức khỏe chung của cộng đồng

Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011)

a % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi b % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi

Nguồn: Viện Dinh dưỡng (NIN)

Như Hình 2.4 cho th ấy, chỉ hai tỉnh miền Trung là Quảng Nam và Quảng Ngãi có tỷ lệ trẻ em dướinăm tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi và chiều cao/tuổi tương tự như mức trung bình cả nước,còn tỷ lệ này của các tỉnh Tây Nguyên là cao hơn rất đáng kể so với mức trung bình của cả nước

Ba địa phương là Đắk Lắk, Đăk Nông, Kon Tum có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao đáng lo ngại Các

dữ liệu này không chỉ cho thấy chất lượng của lực lượng lao động tương lai mà có thể suy diễnrằng sức khỏe của lực lượng lao động hiện tại cũng ở tình trạng tương tự, bởi mức độ suy dinhdưỡng của trẻ, trong chừng mực nhất định, là tấm gương phản chiếu tình trạng dinh dưỡng chungcủa hộ gia đình Các dữ liệu này có ý nghĩa quan trọng đối với Dự án bởi một trong những nộidung dự kiến tác động thuộc Tiểu hợp phần 2.1 hiện nay là nâng cao khả năng tự chủ về lươngthực cho các hộ dân và cải thiện hành vi dinh dưỡng

Chất lượng lao động thấp được phản ánh qua dữ liệu về trình đ ộ của lực lượng lao động vùng Dự

án Ở cấp độ tỉnh, có tới 92,3% chủ hộ chưa qua đào tạo hoặc không có chứng chỉ đào tạo (Bảng2.9) Nếu phân tích sâu hơn từ góc độ dân tộc và giới, chúng ta sẽ thấy nhóm dân tộc thiểu số vànhóm hộ có chủ là nữ giới sẽ gặp bất lợi hơn Bảng 2.9 minh họa rõ hơn chất lượng lao động rấtthấp tại cả sáu tỉnh nói chung và 130 xã Dự án nói riêng thông qua chỉ số về trình độ chuyên môn

Gia Lai

Kon Tum

Quảng Nam

Quảng Ngãi

26,7

24,3

0 5 10 15 20 25 30 35 40

Trung bình cả nước

Đắk Lắk

Đắk Nông

Gia Lai

Hộp 2.2: Các ý kiến về phân công lao động giữa nam và nữ vùng Dự án

“Phân công lao động trong sản xuất giữa nam và nữ không công bằng cho phụ nữ, phụ nữ làm nhiều việc hơn kể cả việc nặng, trong khi đó nam không chịu đi làm”.

(Cán bộ, Hội Nông dân, tỉnh Quảng Nam)

“Lao động chính trong gia đình của dân tộc Cơ Tu là phụ nữ với lý do (i) phong tục tập quán từ thời xưa - nhà trai tốn nhiều tiền để cưới vợ nên tâm lý phụ nữ có tâm lý chăm chỉ để “trả nợ””.

(Cán bộ, Ban dân tộc, tỉnh Quảng Nam)

“Trong hoạt động nông nghiệp, người phụ nữ làm rẫy làm nương, cuốc ruộng, trồng sắn, trồng bắp, người đàn ông, làm bẫy, bắt cá”.

(Già làng, xã Phước Chanh, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam)

Nguồn:Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Về chất lượng lao động, tại vùng Dự án, nhìn chung, được đánh giá là thấp Về tình trạng sức

khỏe, mặc dù không có dữ liệu sẵn có cho biết tình hình sức khỏe của nhóm đối tượng đang ở độtuổi lao động trong vùng Dự án, nhưng dữ liệu về tình trạng trẻ suy dưỡng dưới năm tuổi cũng cóthể là một phong vũ biểu cho biết tình hình sức khỏe chung của cộng đồng

Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011)

a % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi b % trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi

Nguồn: Viện Dinh dưỡng (NIN)

Như Hình 2.4 cho th ấy, chỉ hai tỉnh miền Trung là Quảng Nam và Quảng Ngãi có tỷ lệ trẻ em dướinăm tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi và chiều cao/tuổi tương tự như mức trung bình cả nước,còn tỷ lệ này của các tỉnh Tây Nguyên là cao hơn rất đáng kể so với mức trung bình của cả nước

Ba địa phương là Đắk Lắk, Đăk Nông, Kon Tum có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao đáng lo ngại Các

dữ liệu này không chỉ cho thấy chất lượng của lực lượng lao động tương lai mà có thể suy diễnrằng sức khỏe của lực lượng lao động hiện tại cũng ở tình trạng tương tự, bởi mức độ suy dinhdưỡng của trẻ, trong chừng mực nhất định, là tấm gương phản chiếu tình trạng dinh dưỡng chungcủa hộ gia đình Các dữ liệu này có ý nghĩa quan trọng đối với Dự án bởi một trong những nộidung dự kiến tác động thuộc Tiểu hợp phần 2.1 hiện nay là nâng cao khả năng tự chủ về lươngthực cho các hộ dân và cải thiện hành vi dinh dưỡng

Chất lượng lao động thấp được phản ánh qua dữ liệu về trình đ ộ của lực lượng lao động vùng Dự

án Ở cấp độ tỉnh, có tới 92,3% chủ hộ chưa qua đào tạo hoặc không có chứng chỉ đào tạo (Bảng2.9) Nếu phân tích sâu hơn từ góc độ dân tộc và giới, chúng ta sẽ thấy nhóm dân tộc thiểu số vànhóm hộ có chủ là nữ giới sẽ gặp bất lợi hơn Bảng 2.9 minh họa rõ hơn chất lượng lao động rấtthấp tại cả sáu tỉnh nói chung và 130 xã Dự án nói riêng thông qua chỉ số về trình độ chuyên môn

Gia Lai

Kon Tum

Quảng Nam Quảng Ngãi

Trang 31

Bảng 2.9: Chất lượng của lực lượng lao động tại vùng Dự án thể hiện qua trình độ chuyên môn cao

Cao đẳng và đại họctrở lên

Kết quả phỏng vấn, thảo luận nhóm với các đối tượng khảo sát tại địa bàn vùng Dự án cũng chothấy các đối tượng dân tộc thiểu số bản địa thường là nhóm có trình độ học vấn thấp nhất, chậmthay đổi và ít có sự tiếp thu với các mô hình sản xuất mới (xem Hộp 2.3)

Hộp 2.3: Các ý kiến về trình độ lao động của nhóm dân tộc thiểu số tại vùng Dự án

“Dân tộc Cơ tu là thành phần dân tộc đông nhất trong tỉnh, đa số họ không biết cách làm ăn”.

(Cán bộ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, tỉnh Quảng Nam)

“Áp dụng khoa học kỹ thuật chưa tốt, tập huấn xong làm 1 vụ rất tốt Tuy nhiên, khi khuyến nông về

bà con lại sản xuất như trước, ít chăm sóc, bón phân”.

(Cán bộ xã Ba Khâm, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi)

“Nếu có ý kiến về thay đổi sinh kế, họ chỉ dám thay đổi rất ít Và họ đặc biệt chỉ dám trồng các loại cây ít phải chăm sóc như Keo, Muồng đen, Bạch đàn, Xà cừ Còn trồng cà phê và điều thì không đạt

hiệu quả” (TLN Nhóm phụ nữ xã Ea Trang, Huyện M’Đrắk, Đắk Lắk)

“Chúng tôi có khuyến khích người dân tộc tại chỗ, nhưng tay nghề của người dân tộc đáp ứng

Trang 32

không cao nên doanh nghiệp hạn chế tuyển”

(Đại diện doanh nghiệp, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk)

“Người dân tộc ở đây không có chí vươn lên thoat nghèo Họ nghĩ “cứ thế này là được” - làm

chơi, làm được gì ăn nấy, không có nhu cầu sắm, có thì mua không thì thôi Làm việc theo hứng”

(Cán bộ Hội nông dân, tỉnh Quảng Ngãi)

“Người tại chỗ ỷ lại, không chịu làm ăn Khi đưa vào sản xuất thì người di cư đến áp dụng nhanh và

tốt hơn nhiều Họ cứ trông chờ và luôn nghĩ nhà nư ớc sẽ phải cung cấp và trợ giúp”

(Cán bộ Sở NNPTNT,tỉnh Đắk Nông)

Nguồn: Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Và nhìn sâu hơn vào phân tổ theo nhóm hộ có nam làm chủ hộ so với nhóm hộ có nữ làm chủ hộ,

ta sẽ lại thấy chất lượng của lao động của nhóm chủ hộ nữ là thấp hơn so với nhóm chủ hộ lànam Ngoài việc là tỷ lệ nữ chủ hộ đạt trình độ cao đẳng và đại học trở lên có cao hơn một chút sovới nhóm nam chủ hộ ở quy mô 130 xã hoặc 26 huyện Dự án (ở quy mô chung cho cả sáu tỉnh thì

tỷ lệ này của nữ lại trở về thông lệ là thấp hơn so với nhóm nam) thì tỷ lệ chủ hộ nữ chưa qua đàotạo hoặc không có chứng chỉ lại luôn cao hơn so với tỷ lệ này ở các chủ hộ nam (dù xét ở quy mô

130 xã Dự án hay cho 26 huyện và toàn bộ sáu tỉnh) (xem Bảng 2.10)

Bảng 2.10: Chất lượng lao động qua trình độ chuyên môn của chủ hộ, phân theo giới (2010)

Cao đẳng và đạihọc trở lên

(c) Về vốn vật chất: Cách hiểu vốn vật chất khá rộng, được giải thích bao gồm các yếu tố như cơ

sở hạ tầng (phương tiện vận chuyển, đường sá, xe cộ, nhà ở, chỗ cư trú an toàn, nguồn cấp nước

và hệ thống xử lý rác thải, năng lượng, truyền thông), các công cụ và công nghệ (các công cụ vàthiết bị sản xuất, các đầu vào cho sản xuất, v.v.) Phần phân tích tiếp theo không bao quát đến tìnhhình nhà ở/nơi cư trú hay vấn để xử lý rác thải cho vùng Dự án mà tập trung phân tích (i) cơ sởvật chất phục vụ sản xuất (đường giao thông, chợ, chi nhánh ngân hàng, thông tin/truyền thông,

cơ sở chế biến nông sản, v.v.) và (ii) mức độ sở hữu các máy móc, thiết bị nông nghiệp, bởi đây lànhững điều kiện vật chất thuộc phạm vi dự kiến hỗ trợ của Dự án GNKVTN và như trên đã nêu,với tỷ lệ hộ tham gia hoạt động nông nghiệp chiếm đại đa số bộ phận dân cư như vùng Dự án, hainhóm vốn vật chất này mang tính quyết định đến năng lực sinh kế của người dân

Các dữ liệu cho thấy hạn chế về cơ sở hạ tầng là một yếu tố cơ bản dẫn đến khó khăn trong pháttriển sinh kế trong vùng Dự án Bên cạnh các cơ sở hạ tầng cơ bản (đường giao thông), các tiệntích CSHT hậu cần phục vụ cho sản xuất khác (như tiện ích sơ chế và bảo quản, kho bãi, chợ, vậnchuyển, thông tin, truyền thông, ngân hàng) cũng còn rất hạn chế Đây là khó khăn chung đối vớitất cả các đối tượng trong toàn vùng Dự án, như Bảng 2.11 dưới đây cho biết

Trang 33

Bảng 2.11: Cơ sở hạ tầng và tiện ích phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng Dự án (2010)

Đường

ô tôđến xã(%)

Bưuđiệnxã(%)

Hệ thốngloatruyềnthôngđến thôn(%)

Tỷ lệ

xã cóchợtrongđịa bàn

xã (%)

Tỷ lệ xã

có ngânhàng/chinhánhtại xã(%)

Số hộ/cơ sởchuyên chếbiến nông sảntrên địa bàn

xã (xay xát,chế biến )

Số hộ/cơ

sở chuyênchế biếnlâm sảntrên địabàn xã

130 xã Dự án 96,9 16,7 61,5 12,3 5,4 8,4 2,9

Xã ngoài Dự án nhưng

trong huyện Dự án 98,6 19,8 80,8 47,3 9,9 16,9 8,3

26 huyện Dự án 97,0 16,3 64,7 20,1 5,6 10,5 3,2Huyện không thuộc Dự

án nhưng trong sáu tỉnh 99,0 20,7 83,9 52,0 10,9 18,0 9,5

Tỷ lệ trung bình của sáu

Nguồn: Agricensus 2011

Với căn cứ lựa chọn là các xã nghèo nên nhìn chung 130 xã Dự án có cơ sở hạ tầng và tiện íchphục vụ sản xuất nông nghiệp hạn chế hơn các vùng còn lại Tại tất cả các khía cạnh được xét, từđường ô tô đến xã cho đến hệ thống bưu điện, loa truyền thông, chợ, ngân hàng, các cơ sở chếbiến nông lâm sản, tỷ lệ hiện hữu ở các xã Dự án đều thấp hơn khi so với các xã còn lại tronghuyện cũng như so v ới toàn bộ địa bàn của sáu tỉnh Cá biệt như với chợ, trong phạm vi các xã

Dự án, chỉ hơn 12% số xã có chợ Trong khi đó con số này ở các xã ngoài Dự án là 47,3%, cáchuyện không thuộc Dự án là 52% và tính chung cho cả sáu tỉnh là 42% Chênh lệch về tiện íchphục vụ sản xuất nông nghiệp cũng khá rõ rệt Ở 130 xã Dự án thì trung bình chỉ có 8,4 hộ chếbiến nông sản và 2,9 hộ chế biến lâm sản trên một xã, tức là tương ứng chỉ bằng khoảng 1/2 và1/3 số hộ làm nghề này ở các xã ngoài Dự án Tỷ lệ xã có ngân hàng/chi nhánh ngân hàng tại xãtính cho 130 xã Dự án cũng chỉ bằng khoảng một nửa khi so với vùng ngoài Dự án và toàn bộ sáutỉnh nói chung

“Khó khăn chủ yếu của người dân ở thôn là đường giao thông vào cánh đồng để vận chuyển nông

sản” (Trưởng thôn, xã AeTrang, huyện M’Đrắk, Đắk Lắk)

““Thôn có nhiều hộ nghèo, nhưng đưa vào danh sách chính thức chỉ có 10 hộ Nguyên nhân nghèo chính là giao thông khó khăn, mùa mưa không đi lại được Sản phẩm chỉ bán rẻ được tại chỗ, muốn bán giá cao hơn thì phải chở đến nơi mua nhưng giao thông lại không thuận tiện”

(Trưởng thôn, xã Đ ắk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum)

Về các thiết bị, máy móc nông nghiệp sử dụng cho sản xuất, dữ liệu thứ cấp được phân tích theodân tộc và theo giới như trình bày lần lượt trong Hình 2.5 dưới đây Trước hết, có sự chênh lệchgiữa nhóm Kinh với các nhóm dân tộc thiểu số và giữa nhóm hộ gia đình có nam làm chủ hộ sovới nhóm hộ có nữ làm chủ hộ Nhóm dân tộc Kinh luôn là nhóm có sở hữu cao nhất ở mọi loạiphương tiện máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với máy xay xát và bơm nước

là hai loại máy móc chắc chắn phải sử dụng và sử dụng với tần xuất lớn trong sản xuất nôngnghiệp

Tương tự như vậy, nhóm hộ gia đình có nam làm chủ hộ, vốn là nhóm thường có ưu thế hơn,cũng là nhóm có sở hữu cao hơn so với nhóm hộ có nữ làm chủ hộ đối với mọi loại máy móc nôngnghiệp Không một nhóm máy móc nào được xét mà các hộ có nam làm chủ hộ không có sở hữu.Trong đó, nhóm hộ có nữ làm chủ hộ lại cho thấy sở hữu rất thấp, gần như là không có đối với cácloại máy như máy xay xát có động cơ, máy xử lý gỗ, máy phát điện

Trang 34

Hình 2.5: Tỷ lệ hộ sở hữu phương tiện vật chất là máy móc nông nghiệp tại các tỉnh Dự án (2010)

a Theo dân tộc

b Theo giới tính chủ hộ

Nguồn: Agricensus 2011

Cần lưu ý rằng, vì sáu tỉnh Dự án, như đã phân tích ở phần trên, là những địa phương nghèo hơn

so với mức trung bình của cả nước, nên tỷ lệ hộ sở hữu các công cụ phương tiện sản xuất nôngnghiệp cũng là rất rất nhỏ Ví dụ, với máy bơm nước dùng cho nông nghiệp, tỷ lệ hộ người Kinh

sở hữu chỉ là 2%, hộ dân tộc thiểu số bản địa là 1,2% và hộ DTTS khác là 1,6% Có nghĩa là cứ

100 hộ dân tộc Kinh tại sáu tỉnh Dự án thì có hai hộ có máy bơm nước dùng cho nông nghiệp Tỷ

lệ sở hữu với các loại máy móc, phương tiện khác như máy xay xát có động cơ, máy xay xátkhông động cơ, máy xử lý gỗ, máy nổ, mát phát điện và bình phun thuốc sâu tự động chỉ dao động

từ 0% cho đến dưới 1% số hộ trong vùng Dự án Tỷ lệ quá khiêm tốn này khẳng định tình trạng sởhữu vốn vật chất là máy móc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp gần như bằng không trongvùng Dự án, đồng nghĩa với đặc điểm gắn với lao động (labor intensive farming practices) củahoạt động canh tác trong vùng

(d) Vốn tài chính Vốn tài chính, theo định nghĩa, bao gồm các khoản tiền kiệm, các khoản tín

dụng và vay nợ (chính thức và không chính thức), các khoản tiền chuyển về, v.v.Thiếu vốn đượcxác định là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thiếu đầu tư cho sản xuất, nâng cao thunhập Tuy nhiên, năng lực sử dụng nguồn vốn tiếp cận được mới là điều kiện đủ để nguồn tàichính, khi tiếp cận được, giúp cải thiện sản xuất và nâng cao thu nhập

Khảo sát tại địa bàn cho thấy, nguồn tài chính từ tiết kiệm của các hộ để đầu tư cho sản xuất là rấtthấp, đặc biệt đối với nhóm hộ dân tộc thiểu số bản địa Rất nhiều ý kiến phỏng vấn cán bộ địaphương hoặc người dân bản địa đều khẳng định thói quen tiết kiệm của người dân tộc thiểu số

Máy xay xát

Hình 2.5: Tỷ lệ hộ sở hữu phương tiện vật chất là máy móc nông nghiệp tại các tỉnh Dự án (2010)

a Theo dân tộc

b Theo giới tính chủ hộ

Nguồn: Agricensus 2011

Cần lưu ý rằng, vì sáu tỉnh Dự án, như đã phân tích ở phần trên, là những địa phương nghèo hơn

so với mức trung bình của cả nước, nên tỷ lệ hộ sở hữu các công cụ phương tiện sản xuất nôngnghiệp cũng là r ất rất nhỏ Ví dụ, với máy bơm nước dùng cho nông nghiệp, tỷ lệ hộ người Kinh

sở hữu chỉ là 2%, hộ dân tộc thiểu số bản địa là 1,2% và hộ DTTS khác là 1,6% Có nghĩa là cứ

100 hộ dân tộc Kinh tại sáu tỉnh Dự án thì có hai hộ có máy bơm nước dùng cho nông nghiệp Tỷ

lệ sở hữu với các loại máy móc, phương tiện khác như máy xay xát có động cơ, máy xay xátkhông động cơ, máy xử lý gỗ, máy nổ, mát phát điện và bình phun thuốc sâu tự động chỉ dao động

từ 0% cho đến dưới 1% số hộ trong vùng Dự án Tỷ lệ quá khiêm tốn này khẳng định tình trạng sởhữu vốn vật chất là máy móc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp gần như bằng không trongvùng Dự án, đồng nghĩa với đặc điểm gắn với lao động (labor intensive farming practices) củahoạt động canh tác trong vùng

(d) Vốn tài chính Vốn tài chính, theo định nghĩa, bao gồm các khoản tiền kiệm, các khoản tín

dụng và vay nợ (chính thức và không chính thức), các khoản tiền chuyển về, v.v.Thiếu vốn đượcxác định là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thiếu đầu tư cho sản xuất, nâng cao thunhập Tuy nhiên, năng lực sử dụng nguồn vốn tiếp cận được mới là điều kiện đủ để nguồn tàichính, khi tiếp cận được, giúp cải thiện sản xuất và nâng cao thu nhập

Khảo sát tại địa bàn cho thấy, nguồn tài chính từ tiết kiệm của các hộ để đầu tư cho sản xuất là rấtthấp, đặc biệt đối với nhóm hộ dân tộc thiểu số bản địa Rất nhiều ý kiến phỏng vấn cán bộ địaphương hoặc người dân bản địa đều khẳng định thói quen tiết kiệm của người dân tộc thiểu số

Máy xay xát Máy xử lý

gỗ (cưa máy, bào máy…)

điện

Bình phun thuốc sâu tự động

Bơm nước dùng cho nông nghiệp

Kinh

DT bản địa

DT khác

Máy xay xát

Máy xử lý

gỗ (cưa máy, bào máy…)

điện

Bình phun thuốc sâu

tự động

Bơm nước dùng cho nông nghiệp

NamNữ

Hình 2.5: Tỷ lệ hộ sở hữu phương tiện vật chất là máy móc nông nghiệp tại các tỉnh Dự án (2010)

a Theo dân tộc

b Theo giới tính chủ hộ

Nguồn: Agricensus 2011

Cần lưu ý rằng, vì sáu tỉnh Dự án, như đã phân tích ở phần trên, là những địa phương nghèo hơn

so với mức trung bình của cả nước, nên tỷ lệ hộ sở hữu các công cụ phương tiện sản xuất nôngnghiệp cũng là r ất rất nhỏ Ví dụ, với máy bơm nước dùng cho nông nghiệp, tỷ lệ hộ người Kinh

sở hữu chỉ là 2%, hộ dân tộc thiểu số bản địa là 1,2% và hộ DTTS khác là 1,6% Có nghĩa là cứ

100 hộ dân tộc Kinh tại sáu tỉnh Dự án thì có hai hộ có máy bơm nước dùng cho nông nghiệp Tỷ

lệ sở hữu với các loại máy móc, phương tiện khác như máy xay xát có động cơ, máy xay xátkhông động cơ, máy xử lý gỗ, máy nổ, mát phát điện và bình phun thuốc sâu tự động chỉ dao động

từ 0% cho đến dưới 1% số hộ trong vùng Dự án Tỷ lệ quá khiêm tốn này khẳng định tình trạng sởhữu vốn vật chất là máy móc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp gần như bằng không trongvùng Dự án, đồng nghĩa với đặc điểm gắn với lao động (labor intensive farming practices) củahoạt động canh tác trong vùng

(d) Vốn tài chính Vốn tài chính, theo định nghĩa, bao gồm các khoản tiền kiệm, các khoản tín

dụng và vay nợ (chính thức và không chính thức), các khoản tiền chuyển về, v.v.Thiếu vốn đượcxác định là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thiếu đầu tư cho sản xuất, nâng cao thunhập Tuy nhiên, năng lực sử dụng nguồn vốn tiếp cận được mới là điều kiện đủ để nguồn tàichính, khi tiếp cận được, giúp cải thiện sản xuất và nâng cao thu nhập

Khảo sát tại địa bàn cho thấy, nguồn tài chính từ tiết kiệm của các hộ để đầu tư cho sản xuất là rấtthấp, đặc biệt đối với nhóm hộ dân tộc thiểu số bản địa Rất nhiều ý kiến phỏng vấn cán bộ địaphương hoặc người dân bản địa đều khẳng định thói quen tiết kiệm của người dân tộc thiểu số

Bình phun thuốc sâu tự động

Bơm nước dùng cho nông nghiệp

Bơm nước dùng cho nông nghiệp

Trang 35

tiêu, các phát sinh lớn cho chi phí y tế, v.v lý do quan trọng khác được ghi nhận là hầu hết hộnghèo, hộ dân tộc thiểu số đều chưa có khả năng quản lý chi tiêu hợp lý trong hộ gia đình.Điểmđáng lưu ý là nhóm đồng bào dân tộc di cư đã hình thành đư ợc thói quen tiết kiệm, lý do chính lànhóm dân tộc di cư đều xác định rõ mục tiêu tiết kiệm để có thể mua lại đất đai canh tác của các

hộ dân tộc thiểu số Ngoài ra, đời sống xa bản xứ cũng tạo thành một thói quen dự phòng, tiếtkiệm và tâm lý “lo xa” ở nhóm đồng bào này Riêng đối với nhóm người Kinh, thói quen tiết kiệm

đã đư ợc hình thành và là một tập quán phổ biến trong đầu tư cho sản xuất, thậm chí nhóm hộ nàytrong nhiều xã Dự án đều là những hộ cấp tín dụng không chính thức cho người dân tộc thiểu sốbản địa (Hộp 2.4 đưa ra các ý kiến trả lời phỏng vấn về khả năng tiết kiệm của người dân vùng

Dự án)

Hộp 2.4: Các ý kiến về thói quen tiết kiệm của nhóm yếu thế vùng Dự án

“ nhiều trường hợp bà con dân tộc bản địa vay tiền về, giắt lên mái nhà, chờ đến hạn lại mang xuống để trả nợ Hay nếu có khoản tiền bán nông sản là mua ngay một cái xe máy, hoặc điện thoại di động hoặc sắm sửa chứ ít khi để đầu tư cho sản xuất”.

(Cán bộ xã Quảng Phú, Krông Nô, tỉnh Đắk Nông)

“Người Jarai chi tiêu kém và không có hoạch định chi tiêu, trong khi đó người Kinh thì hoạch định lỗ lãi Jarai thì lấy công làm lãi (được bao nhiêu) chứ không tính toán chi phí và lợi nhuận như người Kinh”.

(Trưởng thôn và già làng, xã Chư Mố, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai)

“Dân nghèo không có vốn để đầu tư, phải cho thuê 1/3 đất để mua phân bón Người Kinh giàu hơn vì họ

có vốn, “chăm cái đầu” [tính toán] có kế hoạch làm ăn trong khi đồng bào phải đi vay của họ.Người Gia Rai đi làm không tính toán, cứ làm “nai lưng””.

(Thảo luận nhóm dân tộc Gia Rai, xã Ia Broai, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai)

“ người dân tộc di cư chỉ hai ba năm là họ dành được tiền mua đất của bà con dân tộc bản địa rồi Còn

bà con tại chỗ cứ cần tiền là bán cả đất, bán xong là chi tiêu hết luôn trong thời gian ngắn”.

(Cán bộ xã Quảng Phú, Krông Nô, tỉnh Đắk Nông)

“ mình phải để dành tiền cho con đi học chứ”.

“dân cư tự do chúng tôi trong 1-2 năm mới đến thì nghèo hơn người dân tộc tại chỗ (bán toàn bộ đất đai, nhà cửa [ở nơi cũ] thì đư ợc 100 triệu, mua khoảng 1 ha đất ở đây; sau một thời gian thì khá hơn dân tài chỗ vì có kinh nghiệm, đầu tư mua thêm đất, biết làm ăn hơn”.

(Thảo luận nhóm tập trung nhóm dân tộc di cư từ Thanh Hóa, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk

Nông)

Nguồn: Tổng hợp kết quả thực địa của nhóm đánh giá

Đối với nguồn tài chính từ các thể chế tài chính chính thức, kết quả tính toán từ Tổng Điều tra

nông nghiệp (Agricensus 2011) cho thấy với các chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, cho

vay hỗ trợ việc làm và nhiều chính sách hỗ trợ khác, tỷ lệ hộ gia đình trong vùng hưởng lợi đã cótiếp cận với tín dụng là tương đối cao Tính đến thời điểm 1/7/2011 thì tỷ lệ hộ hiện đang vay vốncủa sáu tỉnh Dự án tại các ngân hàng Chính sách Xã hội Việt nam (NH CSXH), Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam (NN&PPTNT) và các ngân hàng thương mại khác tươngứng là 42,1%, 25,6% và 9,8% (xem Bảng 2.12)

Trang 36

Bảng 2.12: Tiếp cận vốn của hộ gia đình trong vùng Dự án (tại 1/7/2011)

Tỷ lệ có vayvốn

Tỷ lệ hộ hiện đang vay vốn tại các ngân hàng/quỹ

NH CSXH NH NN &

PTNT

NHthương mạikhác

Quỹ hỗtrợ việclàm

từ các định chế tài chính chính thức sẽ khó khăn hơn so với nhóm dân tộc thiểu số bản địa

“Nhóm dân di cư đến, chưa có quy hoạch dân cư, chưa chuyển khẩu nên không nhận được nhiều từ các hỗ trợ Chính quyền không thể giao chính thức đất cho họ được Hiện nay dân di cư không được vay vốn (chỉ vay cá thể với lãi suất cao 50-70 ngàn/1 triệu/tháng – làm cho một vài hộ bị siết nợ nhiều do lâu không trả nổi)

(Nông dân di cư xã Quảng Phú, Krông Nô, Đắk Nông)

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu của các NH CSXH trong vùng Dự án là không cao (trong khoảng từ 3-5%)nhưng kết quả khảo sát cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của các nhóm dễ bị tổn thương thường rấtthấp Các ý kiến thảo luận và trả lời phỏng vấn của các đối tượng khảo sát như dưới đây minhhoạt cho nhận định này

“Việc cho vay 50-100 triệu sẽ mất hết, khó đòi lại từ người dân, NH CSXH từng cho người nghèo vay rồi mất Khả năng quản lý, sử dụng vốn kém Dân di cư nghèo vào đây thì có khả năng làm được chứ người tại chỗ

nghèo thì họ khó làm để trả nợ lắm”

(Nhóm phụ nữ xã Quảng Phú, Krông Nô, Đắk Nông)

“ Dân có nhu cầu vay vốn nhưng khi mất mùa họ phải nợ dài hạn hoặc sử dụng tiền vay vốn không đúng mục

đích, nợ năm này qua năm khác chồng chất nên tình trạng nghèo cao lắm”

(Cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông)

“Toàn bộ vốn của họ [người dân] là vay từ ngân hàng, họ có tài sản, nhưng lại là những con nợ, vốn ảo vì họ

sử dụng vốn không đúng mục đích, không biết cách xoay sở vốn, hơn nữa họ không biết tích tụ vốn trong sản

xuất và mua sắm nên nghèo lại càng thêm nghèo, các vật tư họ có đều từ vay mượn”

Trang 37

Bên cạnh đó, nhận xét chung của các hộ nghèo là giới hạn đối với các khoản vay hộ nghèo là thấp

và không đủ đáp ứng yêu cầu của họ Tâm lý e dè trong việc vay vốn do sợ rủi ro là rất phổ biếnđối với nhóm hộ dễ bị tổn thương nên ngoại trừ các khoản vay theo chính sách cho hộ nghèo thìviệc tiếp cận với các nguồn vốn khác còn rất hạn chế Bên cạnh các nguồn tín dụng chính thức, tíndụng phi chính thức từ các cá nhân cho vay nặng lãi, hoặc chủ cửa hàng cung cấp đầu vào chosản xuất được thấy là phổ biến trong vùng Dự án Cá biệt, đã có những hộ mất đất và rơi vàocảnh nợ nần vì không trả được các khoản vay nặng lãi từ khu vực không chính thức

Tỷ lệ nhóm dân tộc Kinh hiện đang vay vốn từ nguồn NH CSXH và NH NN&PTNT (tương ứng là45,3% và 24,1%) cũng là khá cao nhưng tương quan so với hai nhóm dân tộc thiểu số thì vẫn thấphơn khá nhiều Trong khi đó, với nguồn vay từ các ngân hàng thương mại khác và quỹ hỗ trợ việclàm, nhóm dân tộc Kinh lại giữ vị trí đứng đầu Tỷ lệ số hộ đang vay của nhóm Kinh ở các ngânhàng thương mại khác là 11,9%, của nhóm dân tộc thiểu số bản địa và dân tộc khác tương ứng là3,0% và 5,4% và các con số này ở nguồn quỹ hỗ trợ việc làm lần lượt là 2,8%, 1,6% và 0,3%.Nhóm các dân tộc thiểu số, đặc biệt là nhóm dân tộc khác hầu như không vay từ quỹ hỗ trợ việclàm Ngoài việc nhóm Kinh thường là nhóm quan tâm đến việc học hành và có tính lập kế hoạch

xa (vay tiền đi học để có việc làm) hơn hai nhóm kia thì còn một nguyên nhân nữa có thể có vai tròquan trọng trong việc tạo ra khác biệt là tính năng động và nhạy bén của nhóm Kinh so với hainhóm kia trong việc phát hiện, khai thác và tận dụng các cơ hội

Từ Bảng 2.13 này nếu nhìn ngược lại theo hướng nhìn từ các tổ chức tín dụng thì có thể thấy rằngmạng lưới khách hàng của các nhóm này rất khác nhau Trọng tâm tín dụng của NH CSXH và NHNN&PTNT là nhóm dân tộc thiểu số Dù ở quy mô nhỏ trong 130 xã Dự án hay xét rộng ra cáchuyện Dự án và trên quy mô chung của sáu tỉnh thì khách hàng trọng tâm của hai ngân hàng nàyvẫn luôn là nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số bản địa Nhóm các ngân hàngthương mại khác, với có nhóm khách hàng trọng tâm là nhóm dân tộc Kinh, có thể do đặc tính chovay để khuyến khích và đẩy mạnh việc làm trong khu vực nên Quỹ đã nhắm đến nhóm năng động

và có khả năng sử dụng vốn đúng mục tiêu và hiệu quả hơn các nhóm khác

Bảng 2.13: Tiếp cận vốn của hộ gia đình trong vùng Dự án phân theo giới tính chủ hộ (tại 1/7/2011)

Quỹ hỗtrợ việclàm

hộ có chủ là nam giới là cao trong vùng Dự án (trung bình cho sáu tỉnh là 84,4%, theo Agricensus2011) và tỷ trọng này còn cao hơn ở nhóm Kinh (là dân tộc theo phụ hệ), trong khi hộ người Kinh(nhóm chiếm tỷ trọng 40% dân cư vùng Dự án) có tỷ trọng hộ đang có dư nợ vay tại các ngânhàng thương mại cao hơn các nhóm còn lại, nên ghi nhận tại các ngân hàng về đối tượng đang

Trang 38

vay vốn với chủ hộ là nam sẽ cao; (ii) thứ đến, các gia đình có nữ giới làm chủ hộ nói riêng ở cáctỉnh Dự án và đặc biệt là các hộ nghèo có nữ giới làm chủ hộ sẽ e dè hơn trong tiếp cận vốn vay.Một bộ phận các hộ nghèo có nữ giới làm chủ hộ [nếu không phải là tập quán của chế độ mẫu hệ]thì thường là các hộ thiếu vắng sự hiện diện thường xuyên và đầy đủ của người nam giới trưởngthành và có sức lao động Như phân tích về dữ liệu của Bảng 2.8: Số lượng lao động của hộ giađình phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011), hộ có nữ làm chủ hộ có số lượng lao độngtrung bình thấp hơn hộ có nam làm chủ, và đến lượt nó, điều này làm hạn chế khả năng phát triểnkinh tế của hộ gia đình đó Nên, h ộ gia đình có nữ giới làm chủ hộ, khi nghèo, sẽ e dè hơn các hộgia đình có nam giới làm chủ hộ trong việc vay vốn tín dụng để đầu tư phát triển kinh tế.

“Chị em ở đây sợ vay vốn lắm, nhưng không vay thì không có ti ền đầu tư Hội phụ nữ còn cố gắng vận động cho chị em vay Giúp đỡ chị em sản xuất, sau khi thu hoạch thì trả nợ”

(Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, tỉnh Gia Lai)

“Chị em sợ không dám vay, sợ không trả được, một số hộ vay nuôi bò, bò chết thì sợ, chị em khác nhìn thấy

cũng sợ, không dám vay nữa (mặc dù được tập huấn, tuyên truyền)”

(Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, tỉnh Kon Tum)

Đáng tiếc, tiếp cận đến vốn tài chính, nguồn tín dụng, như thực tế tại nhiều nước trên thế giới và ở

cả Việt Nam đã chỉ ra là một công cụ trao quyền và giảm nghèo hữu hiệu cho đối tượng nữ giới

(e) Về vốn xã hội Vốn xã hội được hiểu một cách chung nhất là các mạng lưới và mối liên hệ

(khách quen, hàng xóm, quan hệ họ tộc), các quan hệ tin cậy với sự thông hiểu và giúp đỡ lẫnnhau, các nhóm chính thức và không chính thức, các giá trị và hành vi chung, các nguyên tắc vàphong tục giống nhau, đại diện tập thể, các cơ chế tham gia trong việc ra quyết định, sự lãnh đạo.Các dữ liệu từ các tài liệu, nghiên cứu sẵn có và khảo sát trực tiếp tại địa bàn cho biết một số vấn

đề đáng lưu ý về vốn xã hội của các nhóm dễ bị tổn thương trong vùng Dự án như sau

Đối với nhóm dân tộc thiểu số bản địa, vốn xã hội quan trọng nhất là tính cố kết cộng đồng được

hình thành và củng cố bởi các luật tục, tập quán sinh hoạt và tín ngưỡng Dù đã có nhiều thay đổitrong các tập quán sinh hoạt, thực hành tín ngưỡng, hệ thống luật tục nhưng các cộng đồng dântộc thiểu số bản địa về cơ bản vẫn duy trì được tính gắn kết cao; vai trò của già làng, của các cánhân có ảnh hưởng đến tín ngưỡng (thầy cúng, lãnh đạo tôn giáo, v.v.) vẫn còn khá quan trọngtrong các sinh hoạt chung của cả cộng đồng Tuy nhiên, tính cộng đồng được thể hiện nhiều trongsinh hoạt văn hóa chứ chưa được “nhân rộng” sang cho các hoạt động sinh kế, hoạt động sảnxuất Nhiều ý kiến khảo sát đều cho thấy nhận định này

“Ở Nam Giang, dân tộc bản địa là người Cơ Tu, ở Nam Trà My là dân tộc Ca Dong, ở Phước Sơn là dân tộc

Bơ Nong (Giẻ Triêng) Các dân tộc này đều có tính cộng đồng rất cao trong đời sống văn hóa nhưng trong đời

sống sản xuất thì thấp”

(Cán bộ, Ban Dân tộc, tỉnh Quảng Nam)

Đối với nhóm dân tộc thiểu số di cư đến, yếu tố họ hàng, bè bạn được xác định là vốn xã hội rất

quan trọng Phần lớn các hộ dân tộc thiểu số di cư tự do đều là do có họ hàng, các hộ khác trongcùng nhóm dân tộc cung cấp thông tin và thuyết phục việc di cư đến Vốn xã hội này như là mộtlưới an sinh không chính thức vó vai trò rất quan trọng quyết định đời sống của các hộ di cư tự do,nhất là trong giai đoạn đầu di cư đến Xem Hộp trình bày một số ý kiến về tính cộng đồng là nguồnvốn xã hội quan trọng của nhóm dân tộc thiểu số di cư

Trang 39

Hộp 2.5: Tính cộng đồng là nguồn vốn xã hội quan trọng của người DTTS di cư đến vùng Dự án

“Gia đình tôi di cư lên đây là vì đã có anh em, người làng lên đây rồi, bảo làm ăn được”.

(Thảo luận nhóm tập trung nhóm dân tộc di cư từ Thanh Hóa, xã Quảng Phú, huyện Krongno, tỉnh Đăk

Nông)

“Nhờ thông tin từ những người đã vào đây từ những năm 1996; đến năm 2007 tôi chuyển cả gia đình xuống đây (bố mẹ và 8 con) và các em cũng vào đây luôn, vợ chồng nhà các em thì nhỏ hơn có 5 khẩu, đều sống gần trong một khu gần nhau”.

(Hộ dân di cư người H’Mông, từ Thanh Hóa, đang sinh sống tại Quảng Phú, huyện Krongno, tỉnh Đăk

Nông)

“Trong giai đoạn 2001 – 2004 di cư tự do ồ ạt vào huyện, họ phá rừng vùng sâu, đồi, khe suối: vào tự ở.

Có nhiều thôn mới chỉ hoàn toàn là dân di cư tự do Dân di cư cuộc sống ổn định hơn dân tại chỗ mặc

dù ở xa và vất vả về giao thông, lý do chính là họ chiếm được rất nhiều diện tích và có ý thức phát triển, tính cộng đồng rất tốt ”.

(Cán bộ, phòng Dân tộc huyện M’Đrắk, Đắk Lắk)

Nguồn: Tổng hợp từ khảo sát thực địa của nhóm đánh giá

Đối với nhóm phụ nữ, những mô hình liên kết theo kiểu tổ nhóm (ví dụ nhóm tiết kiệm và tín dụng

– chủ yếu do Hội Phụ nữ quản lý trên cơ sở ủy thác quản lý vốn vay của NH CSXH; nhóm phụ nữsản xuất trong khuôn khổ một số chương trình/dự án trên địa bàn) đang phát huy là một mô hìnhtích cực để tăng cường tính tương trợ giữa phụ nữ Đây chính là một dạng vốn xã hội mà các canthiệp của các chương trình/dự án hiện tại đã triển khai tại vùng Dự án tạo ra cho nhóm đối tượng

là nữ Nhưng, vì các chương trình/d ự án tại vùng Dự án chưa thể cho phép tất cả các phụ nữtham gia vào các tổ nhóm, mô hình liên kết này, nên dạng vốn xã hội này được phát huy trong mộtphạm vị nhỏ Xét trên bình diện rộng hơn (ngoài các chương trình/dự án có các mô hình liên kếtsản xuất cho phụ nữ), người phụ nữ còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và khai thác vốn xãhội Với phụ nữ của các dân tộc di cư (hầu hết là các nhóm theo phụ hệ) thì gánh nặng của phụ

nữ trong các công việc gia đình được xác định là một hạn chế quan trọng cản trợ họ tham gia cáchoạt động cộng đồng Đối với phụ nữ ở các nhóm dân tộc mẫu hệ (chủ yếu là các nhóm dân tộcthiểu số bản địa), vai trò làm chủ gia đình đ ồng nghĩa với nhiều gánh nặng cộng việc (gồm cả việcnhà và các hoạt động sản xuất) nhưng lại không đồng nghĩa với sự tham gia tích cực hơn của họtrong những hoạt động cộng đồng, nên hạn chế tiếp cận vốn xã hội hơn nam giới Dưới đây là một

số ý kiến phản ảnh từ các đối tượng khảo sát về vấn đề này

“Phụ nữ chỉ tham gia vào các chương trình liên quan tới bình đẳng giới thôi Còn các cuộc thảo luận về trồng

cây, chăn nuôi thì thường là nam giới đi Phụ nữ còn phải ở nhà chăm con”

(Cán bộ phòng nông nghiệp huyện, tỉnh Kon Tum)

“Các cuộc họp thì chỉ có phụ nữ nhiều tuổi có thời gian thì tham gia, còn nữ ở tuổi trung ít đi họp lắm Vì họ [phụ nữ ở độ tuổi trung bình và trẻ] không trực tiếp được nghe nên bị hạn chế thông tin, không được tham gia

quyết định.”

(Cán bộ phụ nữ huyện, tỉnh Gia Lai)

“Trong các buổi họp thôn, phải tách riêng nhóm phụ nữ ra nếu muốn lấy ý kiến đề xuất của họ, nhóm này

thường e dè khi tham gia vào buổi họp nếu có cả đàn ông.“

(Cán bộ BCB DA, tỉnh Gia Lai)

“Đi họp thì chị em DTTS địa phương nói ít lắm, rụt rè Mà khi có cả người Kinh, thì người Kinh phát biểu nhiều

hơn, khi người Kinh nói trước, chị em DTTS tại chỗ thấy nói rồi thì thôi không cho ý kiến nữa”

(Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, tỉnh Kon Tum)

Trang 40

Mặc dù việc tiếp cận thông tin chỉ được coi là một điều kiện mang tính bắc cầu, nhưng khá quan

trọng để giúp tăng tiếp cận vốn xã hội Ví dụ, nếu sở hữu điện thoại di động, người dân có thể dễdàng phát huy được tính cộng đồng trong việc chia sẻ thông tin sản xuất, giá bán sản phẩm, traođổi kinh nghiệm mà không cần gặp gỡ trực tiếp Hoặc việc sở hữu ti vi giúp người dân dễ dàngtiếp cận các thông tin về chính sách, pháp luật, v.v giúp bà con dễ dàng tham gia vào quản lýchúng ta có thể so sánh giữa các nhóm dân tộc và giữa hai nhóm hộ có chủ là nam và nữ nhưBảng 2.14 và 2.15 dưới đây

Bảng 2.14 Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án giữa các nhóm

Tỷ lệ sở hữu điện thoại di động cũng tương t ự như vậy, và điều thú vị là tỷ lệ sở hữu này ở nhóm

hộ người Kinh và dân tộc thiểu số khác thậm chí còn cao hơn c ả tỷ lệ sở hữu ti vi (là một tài sảnphổ biến ở hầu khắp các gia đình có tiếp cận với điện lưới quốc gia) Điện thoại giúp người sởhữu có gắn kết mật thiết hơn với những người trong danh bạ, giúp họ có nhiều thông tin hơn(thông qua trò chuyện, liên hệ nhiều hơn) và, như vậy, hoàn toàn có thể suy luận rằng, điện thoại

là một công cụ góp phần vào tăng tiếp cận vốn xã hội Trong khi đó, tỷ lệ sở hữu điện thoại diđộng của nhóm dân tộc thiểu số bản địa không chỉ thấp hơn so với tỷ lệ sở hữu ti vi mà còn thấphơn nhiều so với tỷ lệ sở hữu của hai nhóm kia Tính riêng cho địa bàn 130 xã Dự án thì chỉ có57,2% số hộ dân tộc thiểu số bản địa có sở hữu điện thoại di động, trong khi đó con số này ởnhóm Kinh và dân tộc khác lần lượt là 91,7% và 80,3%

Bảng 2.15: Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án theo giới tính

Ngày đăng: 20/06/2014, 02:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. J.H. Mr (2006), “Proposed Loan and Technical Assitance Grant Socialist Republic of Viet Nam:Forests for Livelihood Improvement in the Central Highlands Sector Project” - ADB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proposed Loan and Technical Assitance Grant Socialist Republic of Viet Nam:"Forests for Livelihood Improvement in the Central Highlands Sector Project”
Tác giả: J.H. Mr
Năm: 2006
8. Rob Swinkels and Carrie Turk (2006): “Explaining Ethnic Minority Poverty in Vietnam: a summary of recent trends and current challenges” World Bank, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Explaining Ethnic Minority Poverty in Vietnam: asummary of recent trends and current challenges”
Tác giả: Rob Swinkels and Carrie Turk
Năm: 2006
10. Jennifer Rietbergen – Mc Cracken Deepa Narayan (1998) “Participation and Social Assessment: Tools and Techniques” - The International Bank for Reconstruction and Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Participation and SocialAssessment: Tools and Techniques”
11. Richard Clark and Alexandra Forrester – 2008 “Vietnam Central Highlands needs Assessment”– UsAId Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Central Highlands needs Assessment”
16. Andrew Wells- Dang (2012), “Ethnic Minority Development in Vietnam: What leads to Success?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ethnic Minority Development in Vietnam: What leads toSuccess
Tác giả: Andrew Wells- Dang
Năm: 2012
17. Gay McDougall (2010)), “Report of the independent expert on minority issues – mission to Vietnam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of the independent expert on minority issues – mission toVietnam
Tác giả: Gay McDougall
Năm: 2010
18. Nguyen Viet Cuong (2012), “Spatial Poverty and ít Evolution in Vietnam: Insights and Lessons for Policy from the 1999 and 2009 Vietnam Poverty Maps” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Spatial Poverty and ít Evolution in Vietnam: Insights and Lessonsfor Policy from the 1999 and 2009 Vietnam Poverty Maps
Tác giả: Nguyen Viet Cuong
Năm: 2012
19. UNDP (2010), Human Developmetn Report 2010 “Real Wealth of Nations: Road to Human Development” Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNDP (2010), Human Developmetn Report 2010 "“Real Wealth of Nations: Road to HumanDevelopment
Tác giả: UNDP
Năm: 2010
20. General Statistic Office (2012), “Vietnam Household Living Standards Survey 2010”, Statistical Publishing House, Ha Noi Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vietnam Household Living Standards Survey 2010”
Tác giả: General Statistic Office
Năm: 2012
21. Pham Quynh Huong and Hoang Cam (2011), “Ethnic prejudices and emerging issues”, Ha noi 22. Hickey, G.C (1982) “Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Ethnic prejudices and emerging issues”,"Ha noi22. Hickey, G.C (1982)
Tác giả: Pham Quynh Huong and Hoang Cam
Năm: 2011
23. IRC, CEMA, UNDP, Finland Embassy (2012), “Impacts of Progam 135 – phase II through lens of baseline and endline surveys”, Ha noi Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Impacts of Progam 135 – phase II through lensof baseline and endline surveys
Tác giả: IRC, CEMA, UNDP, Finland Embassy
Năm: 2012
24. World Bank (2009), “Coutry social analysis: Ethnicity and Development in Vietnam”, Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Coutry social analysis: Ethnicity and Development in Vietnam”
Tác giả: World Bank
Năm: 2009
1. CDI (2013), Báo cáo Nghiên cứu Khả thi cấp Trung ương – Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên, Bộ Kế hoạch và Đầu Tư - WB Khác
2. CDI (2012) và IMPP (2012), Báo cáo Nghiên cứu Khả thi cấp tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi– Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên, Sở Kế hoạch và Đầu tư sáu tỉnh - WB Khác
3. Báo cáo Chương trình phát triển Kinh tế xã hội 2012, 2013 – các Xã tham gia Khảo sát Khác
4. Báo cáo Tình hình Kinh tế Xã hội tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Quang Nam, Quảng Ngãi năm 2012 -2103 Khác
5. Báo cáo hàng năm của các Sở/ban ngành cấp tỉnh (6 tỉnh Dự án): Sở lao động thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban quản lý Dự án Tỉnh, Ban Dân tộc Khác
6. Báo cáo hàng năm của các phòng/ban - sáu huyện trong mẫu khảo sát Khác
12. Một số văn bản pháp luật về Dân tộc thiểu số (1999 -2005) – 2005 – Ủy Ban Dân tộc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 1.1 Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA) (Trang 12)
Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 2.1 Thành phần dân tộc tại vùng Dự án (Trang 20)
Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 2.1 Thành phần dân tộc tại vùng Dự án (Trang 20)
Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010 - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.1 Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010 (Trang 21)
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010 - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010 (Trang 21)
Bảng 2.2: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, vệ sinh) giữa các nhóm dân tộc (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.2 Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, vệ sinh) giữa các nhóm dân tộc (2010) (Trang 22)
Bảng 2.3: Tỷ lệ nghèo phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.3 Tỷ lệ nghèo phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2010) (Trang 23)
Bảng 2.4: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, về sinh) của các hộ trong vùng Dự án, phân theo giới tính chủ hộ (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.4 Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, về sinh) của các hộ trong vùng Dự án, phân theo giới tính chủ hộ (2010) (Trang 24)
Bảng 2.5: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo dân tộc trong vùng Dự án (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.5 Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo dân tộc trong vùng Dự án (2010) (Trang 25)
Bảng 2.6: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo giới trong vùng Dự án 2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.6 Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo giới trong vùng Dự án 2010) (Trang 26)
Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 2.3 Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010) (Trang 27)
Bảng 2.7: Số lượng lao động của hộ gia đình tại vùng Dự án theo nhóm dân tộc (2011) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.7 Số lượng lao động của hộ gia đình tại vùng Dự án theo nhóm dân tộc (2011) (Trang 29)
Bảng 2.8: Số lượng lao động của hộ gia đình phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.8 Số lượng lao động của hộ gia đình phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011) (Trang 29)
Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Hình 2.4 Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011) (Trang 30)
Bảng 2.9: Chất lượng của lực lượng lao động tại vùng Dự án thể hiện qua trình độ chuyên môn cao nhất của chủ hộ (2010) - báo cáo đánh giá tác động xã hội dự án giảm nghèo khu vực tây nguyên bản 2
Bảng 2.9 Chất lượng của lực lượng lao động tại vùng Dự án thể hiện qua trình độ chuyên môn cao nhất của chủ hộ (2010) (Trang 31)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w