1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm 4 tình hình thu hút oda của việt nam (2015 nay)

41 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Thu Hút Vốn Oda Vào Việt Nam Giai Đoạn 2015 Đến Nay
Người hướng dẫn Ths. Phùng Việt Hà
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 875,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức ODF trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

HỌC PHẦN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN

Đề tài: Tình hình thu hút vốn ODA vào Việt Nam giai đoạn 2015

đến nay

Lớp học phần: 2158BKSC0611 Giảng viên hướng dẫn:

Nhóm thực hiện: 4 Ths Phùng Việt Hà

Hà Nội, 2021

Trang 2

Mục lục

Mở đầu 2

I Cơ sở lý thuyết 2

1.1 Khái niệm ODA 2

1.2 Đặc điểm ODA 2

1.3 Phân loại nguồn vốn ODA 3

1.4 Tác động của ODA đối với nước nhận viện trợ 4

1.5 Mục tiêu viện trợ ODA 7

1.6 Quy trình thực hiện dự án ODA 8

II Tình hình thu hút vốn ODA vào Việt Nam giai đoạn 2015-nay 10

2.1 Nhu cầu về vốn ODA của Việt Nam giai đoạn 2015 đến nay và tương lai 10

2.2 Tình hình thu hút vốn ODA giai đoạn 2015-2021 11

2.3 Thực trạng quản lý và sử dụng vốn ODA giai đoạn 2015-nay 23

2.4 Đánh giá hiệu quả thu hút và sử dụng ODA tới phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam giai đoạn 2015-nay 31

III Một số giải pháp nhằm thu hút, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam 35

3.1 Giải pháp thu hút vốn ODA 35

3.2 Giải pháp về quản lý và sử dụng ODA 36

Kết luận 38

Tài liệu tham khảo 39

Trang 3

Tuy nhiên, việc sử dụng ODA đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế như tỷ lệ giải ngân ODA chậm không tương xứng với lượng vốn đã được ký kết, xảy ra tình trạng lãng phí, thất thoát, dùng vốn sai mục đích, tham nhũng trong quá trình sử dụng nguồn vốn này, nhiều dự án chậm tiến độ hoặc sử dụng vốn ODA không hiệu quả đã khiến khả năng thu hồi vốn của nhiều dự án gặp khó khăn

Vậy để biết được thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam thời gian qua, và Việt Nam sẽ làm gì tiếp theo để tiếp tục có thêm được nguồn vốn này trong tương lai cùng với các giải pháp được đưa ra để nâng cao hiệu quả quản lí, sử dụng, và huy

động vốn ODA vào nước ta như thế nào sẽ được nhóm em trình bày trong đề tài "Thực

trạng thu hút ODA vào Việt Nam giai đoạn 2015 đến nay"

Trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều thiếu sót, mong cô và các bạn theo dõi để nhóm em có thêm những góp ý và nhận xét của cô để đề tài của nhóm em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

Nội dung

I Cơ sở lý thuyết

1.1 Khái niệm ODA

Khái niệm: ODA là tên viết tắt của Official Development Assistance, có nghĩa là

Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm, định nghĩa hoàn chỉnh nào về ODA, đã có rất nhiều tổ chức đưa ra những khái niệm, định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, sự khác biệt giưã các khái niệm, định nghĩa này là không nhiều

Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC): ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ

bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi ODA được hiểu

là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan chính thức của các Chính phủ Trung ương và Địa phương hoặc các Cơ quan thừa hành của Chính phủ, các Tổ chức phi Chính phủ tài trợ

Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF) trong đó

có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”

ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn

Theo OECD, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đã đưa ra khái niệm ODA

là “ Nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển , thông qua các cơ quan nhà nước, chính phủ cấp trung ương và địa phương, hoặc các cơ quan có thẩm quyền nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội cho các quốc gia này Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại và vay ưu đãi, trong đó phần viện trợ không hoàn lại và các yếu tố ưu đãi khác chiếm ít nhất 25% vốn cung ứng”

Theo cách hiểu chung nhất: ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc

các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các

tổ chức tài hcính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển

1.2 Đặc điểm ODA

Nguồn vốn hợp tác phát triển: ODA là một hình thức hợp tác khác giữa chính phủ

các nước phát triển, tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc có chính sách vay với điều kiện ưu đãi

Trang 5

Bên cạnh việc cho vay các khoản vay ưu đãi, bệnh viện trợ sẽ thực hiện cung cấp hàng hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật, cung cấp các dịch vụ khác… Bên nhận viện trợ phải có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng,…tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống ngư

Nguồn vốn có nhiều ưu đãi: Các khoản vay ODA có mức lãi suất rất thấp, chỉ dao

động từ một vài phần trăm, nếu là ngân hàng thế giới thì khoản vay 0% một năm Với mục tiêu hỗ trợ các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, ODA có tính ưu đãi hơn bất kỳ một nguồn vốn nào khác, phải kể đến đó là: thời hạn vay dài trên 30 năm gắn với mức lãi suất tín dụng thấp, thời gian ân hạn tương đối dài,…

Đi kèm một số điều kiện ràng buộc: Các nước viện trợ vốn ODA đều có những

chính sách, quy định ràng buộc khác nhau với nước tiếp nhận Các nước viện trợ vừa muốn đạt ảnh hưởng về chính trị, vừa muốn đem lại lợi nhuận cho chính mình,…Bởi vậy mà những khoản ODA bao giờ cũng có những điều kiện nhất định về kinh tế, chính trị hay khu vực địa lý

1.3 Phân loại nguồn vốn ODA

Theo tính chất tài trợ

-ODA không hoàn lại

-ODA cho vay ưu đãi

Theo điều kiện tài trợ

-ODA không ràng buộc: là các khoản tài trợ mà người nhận sử dụng chúng không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào từ người cung cấp

-ODA có ràng buộc: người sử dụng các khoản tài trợ phải chấp nhận một số điều kiện ràng buộc nào đó của người tài trợ(Về nguồn sử dụng hoặc mục đích sử dụng)

-ODA hỗn hợp

Theo hình thức thực hiện (cách thức sử dụng)

-ODA hỗ trợ ngân sách

Trang 6

-ODA hỗ trợ chương trình

Theo nguồn cung cấp

-ODA song phương

-ODA đa phương

-ODA của các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Theo cơ chế quản lý

-Nguồn vốn ODA do bên tiếp nhận điều hành

-Nguồn vốn ODA do nhà tài trợ quản lý toàn bộ

-Nguồn vốn ODA các bên cùng quản lý

1.4 Tác động của ODA đối với nước nhận viện trợ

Tích cực:

− Bổ sung cho nguồn vốn trong nước:

Đối với các nước đang phát triển , các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA

là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển

ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi tiêu đầu tư phát triển , giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25 % đến 2 % / năm Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những cơ sở hạ tầng kinh tế

xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của

WB, đối với các nước đang phát triển có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1 % GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5 %

− ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu những

thành tựu khoa học , công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực:

Dù cho các nước tài trợ thường không muốn chuyển giao những công nghệ cao nhưng trên thực tế cũng có công nghệ tương đối cao được chuyển giao làm tăng thêm tiềm lực khoa học công nghệ của nước tiếp nhận Khả năng này thường được chuyển giao qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật với nhiều loại hình khác nhau và gắn với các dự án khác nhau, như các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương trình về tuyển cử quốc gia,

Trang 7

các dự án về cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập; các chương trình cử các đoàn khảo sát

về phát triển,

Bên cạnh đó, ODA giúp các nước đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển Một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực

y tế, đảm bảo sức khỏe cộng đồn Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế , các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình

− Giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế

Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không thể tránh khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến Vì vậy ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển ODA, đặc biệt là các khoản trợ giúp của IMF

có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ

Việc chuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các chính phủ lại dựa vào nguồn hỗ trợ ODA

− Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tạo điều kiện để mở

rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển

ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân

Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “ hút ” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ

Mặt khác, để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì tại các quốc gia đó phải đảm bảo cho họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định ), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao Việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

− Giúp xóa đói, giảm nghèo cải thiện sự chênh lệch đời sống của người dân ở các

nước đang và kém phát triển

Trang 8

Xóa đói nghèo là một trong những tổn chi đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa

ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1 % , GDP sẽ làm giảm 1 % nghèo khổ, và giảm 0,9 % tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh Và nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo

− ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thể chế

ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế

❖ Hạn chế

− Phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc do nước tài trợ đưa ra, gây bất lợi cho

quốc gia về mặt kinh tế, chính trị, xã hội

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược của riêng mình và do đó họ đều có chính sách riêng hướng vào những mục tiêu đó Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường cho những danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ, yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép

họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho nước nghèo cũng thường gắn với việc mua sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết với các nước nghèo Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt như nhập khẩu tối

đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa, dịch vụ do họ sản xuất Ngoài ra nước tiếp nhận ODA tuy có quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của nước viện trợ , dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng

họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

− Các khoản ODA làm tăng gánh nặng nợ nần quốc gia

Thủ tục để sử dụng ODA thường phức tạp và mất nhiều thời gian để dự án được chấp nhận Vì vậy, nước tiếp nhận ODA thường phải thay đổi nhiều lần về chuẩn bị dự án mới được nhà tài trợ chấp nhận thẩm định Ngoài ra, các chi phí như chi phí quản lý dự án, thuê

tư vấn quốc tế, giải phóng mặt bằng của dự án ODA cũng có yêu cầu cao hơn những dự án cùng loại sử dụng vốn trong nước do nhà tài trợ can thiệp trực tiếp vào các quy trình này Thêm vào đó một số ràng buộc của nước đầu tư về đồng tiền đầu tư nên tác động của tỷ

Trang 9

giá hối đoái có thể làm cho giá trị của lượng vốn đầu tư có hoàn lại tăng lên Tình trạng thất thoá, lãng phí xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA chưa hợp

lý, trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý khiến cho hiệu quả và chất lượng công trình đầu tư bằng nguồn vốn này thấp, có thể đẩy nước nhận đầu tư vào tình trạng nợ nần

1.5 Mục tiêu viện trợ ODA

❖ Trong giai đoạn đầu, hai mục tiêu chính mà nguồn vốn ODA hướng tới là:

Thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển

Bằng luồng vốn ODA của các Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế, các nước nghèo và đang phát triển có điều kiện thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Hơn nữa, xét trên bình diện quốc tế, các nước phát triển giúp đỡ các nước đang phát triển giải quyết các vấn đề như bình đẳng giới tính, bảo

vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, phòng chống thiên tai, là những điều kiện tiên quyết góp phần mang đến sự ổn định và thịnh vượng cho toàn cầu Bên cạnh đó, các nước phát triển cũng có những lợi ích của mình trong việc hỗ trợ giúp đỡ thông qua việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và đầu tư ( ODA thường gắn với các ràng buộc như lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa, chỉ định nhà thầu, ) Chẳng hạn, Nhật Bản sử dụng ODA là

1 công cụ để nâng cao vị thế đồng Yên Nhật, thông qua các khoản cho vay bằng Yên Nhật, gắn với các dự án có các công ty của Nhật Bản…

Tăng cường lợi ích chính trị của các nước tài trợ

Trong dài hạn, các bên tài trợ còn có những lợi thế về an ninh, kinh tế, chính trị, khi các bên nhận tài trợ tăng cường và phát triển Các nước phát triển có thể sử dụng ODA như

1 công cụ chính trị gây ảnh hưởng lên các chính sách của nước và khu vực nhận viện trợ Chẳng hạn, Mỹ sử dụng ODA một mặt để bày tỏ sự thân thiện, tiến đến gần gũi thân thiết

về mặt chính trị, mặt khác tiếp cận đến các quan chững cấp cao để thiết lập mối quan hệ ngoại giao Thông qua viện trợ để thâm nhập văn hóa, tư tưởng đối với các nước nhận viện trợ (yêu cầu các nước nhận viện trợ đề cao vai trò khu vực kinh tế tư nhân, tiếp nhận tư tưởng lối sống của các nước tài trợ…)

❖ Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của nguồn vốn ODA trong khuôn khổ MDG:

Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Giảm 1 nửa tỉ lệ người có thu nhập dưới 1 USD 1 ngày và giảm 1 nửa tỉ lệ người bị thiếu đói trong giai đoạn 1990-2015

Đạt phổ cập giáo dục tiểu học

Trang 10

Đảm bảo cho trẻ em ở khắp mọi nơi, cả trai cũng như gái đều được học hết chương trình tiểu học vào năm 2015

Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ

Phấn đấu xóa bỏ chênh lệch giới ở cấp tiểu học và trung học ở tất cả các cấp học chậm nhất vào năm 2015

Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em

Giảm ⅔ tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1990-2015

Tăng cường sức khỏe bà mẹ

Giảm ¾ tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ giai đoạn 1990-2015

Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác

Chặn đứng và đẩy lùi tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác

Đảm bảo bền vững về môi trường

Lồng ghép các nguyên tắc phát triển bền vững trong các chính sách và chương trình quốc gia và đẩy lùi tình trạng suy giảm tài nguyên môi trường

Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển

Tăng cường hơn nữa 1 hệ thống thương mại và tài chính thông thoáng, hoạt động dựa trên cơ sở pháp luật, có thể dự báo và không phân biệt đối xử Điều này bao gồm cam kết thực hiện một nền tảng quản trị quốc gia vững mạnh, phát triển, xóa đói giảm nghèo ở cấp quốc gia và trên toàn thế giới

1.6 Quy trình thực hiện dự án ODA

Quy trình thực hiện dự án ODA có thể khác nhau đối với mỗi dự án, nhưng về cơ bản

có thể khái quát thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Tiếp cận vốn ODA

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện dự án ODA Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi bên tiếp nhận tài trợ và kết thúc khi vốn tài trợ đến nước tiếp nhận Giai đoạn này thường được thực hiện bởi một cơ quan đại diện chính thức của bên tiếp nhận (Ở Việt Nam là Bộ Tài chính)

Giai đoạn 2: Lập kế hoạch vốn ODA

Việc lập kế hoạch vốn đầu tư, dự toán ngân sách được thực hiện bởi các ban quản lý

dự án (BQLDA), các chủ dự án, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước của nước tiếp nhận viện trợ (Ở Việt Nam là Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bộ Tài chính)

Trang 11

Sau khi lập kế hoạch về vốn đầu tư, các BQLDA và chủ đầu tư phải xây dựng kế hoạch rút vốn ODA gửi các cơ quan có liên quan để tổng hợp kế hoạch rút vốn ODA Kế hoạch này phải chi tiết theo từng nguồn cung cấp (nếu là dự án hỗn hợp viện trợ và vay, hợp đồng tài trợ) và phân theo từng quý Việc lập kế hoạch rút vốn ODA cũng phải tuân thủ theo các quy định trong các điều ước quốc tế

Giai đoạn 3 : Mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ

Để tiến hành rút vốn và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, BQLDA và các chủ đầu

tư cần mở tài khoản giao dịch tại các ngân hàng thương mại theo quy định Tài khoản mở tại ngân hàng phục vụ có thể là tài khoản đặc biệt ( đối với các dự án do WB tài trợ ), hoặc tài khoản tạm ứng ( đối với các dự án do ADB tài trợ ) Ngoài ra, các chủ đầu tư cũng có thể mở thêm tài khoản dự án tại một ngân hàng trên địa bàn thực hiện dự án nếu thấy cần thiết

Ngân hàng phục vụ có trách nhiệm thông báo tình hình tiếp nhận vốn nước ngoài , tình hình thanh toán qua tài khoản đặc biệt, hoặc tài khoản tạm ứng của dự án cho cơ quan quản lý vốn và chủ đầu tư

Giai đoạn 4 : Lập hồ sơ rút vốn

Mặc dù mỗi hình thức rút vốn có quy định chi tiết về hồ sơ rút vốn , song về cơ bản ,

hồ sơ làm căn cứ thực hiện việc rút vốn ODA bao gồm: Quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền , điều ước quốc tế về ODA ( hiệp định ) ký kết giữa nước nhận tài trợ và nhà tài trợ,

kế hoạch rút vốn đầu tư hoặc dự toán ngân sách hàng năm, đơn xin rút vốn, hợp đồng với các nhà thầu, các chứng từ thanh toán hợp lệ, phiếu giá thanh toán đã được cơ quan kiểm soát chỉ xác nhận ( hoặc xác nhận chỉ tiêu của cơ quan kiểm soát chi ) Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính) có thể yêu cầu BQLDA cung cấp các tài liệu giải trình bổ sung

Giai đoạn 5 : Báo cáo quyết toán, kiểm tra, kiểm toán việc rút vốn và sử dụng vốn

của các dự án ODA

Khi BQLDA đã có tài khoản tiếp nhận vốn ODA, các cơ quan chức năng của Nhà nước phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát và giám sát các khoản chi tiêu bằng vốn ODA theo quy định của pháp luật

Giai đoạn 6 : Nghiệm thu và bàn giao sản phẩm của dự án ODA

Cũng như các dự án đầu tư khác, sau khi sản phẩm của dự án ODA được bàn giao

và đi vào sử dụng, quá trình giải ngân của dự án xem như kết thúc Trong quá trình giải ngân thực hiện dự án, các bước của quy trình này có thể được tiến hành nhiều lần, lặp đi lặp lại theo một chu trình nhất định đã được quy định trong hiệp định tài trợ

Trang 12

II Tình hình thu hút vốn ODA vào Việt Nam giai đoạn 2015-nay

2.1 Nhu cầu về vốn ODA của Việt Nam giai đoạn 2015 đến nay và tương lai

❖ Giai đoạn 2016-2020:

Theo Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020, nhằm đạt được mục tiêu

tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5 - 7% của thời kỳ này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá

thực tế dự kiến khoảng 10.567 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 480 tỷ USD, trong đó

tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước của các Bộ, ngành và địa phương

dự kiến khoảng 3.570 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 180 tỷ USD Theo tính toán, cơ cấu

vốn cho thời kỳ này dự kiến vốn trong nước khoảng 75%, vốn ngoài nước khoảng 25%

Đối với nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi, theo báo cáo chưa đầy đủ của các Bộ,

ngành và địa phương, tổng nhu cầu huy động và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi thời

kỳ 2016 - 2020 là rất lớn, khoảng 39,5 tỷ USD (các Bộ, ngành Trung ương khoảng 21 tỷ

USD, các địa phương khoảng 18,5 tỷ USD với tổng số trên 1.203 dự án) Nhu cầu vốn cho

các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, phát triển đô thị, nông nghiệp

và phát triển nông thôn, môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ

Căn cứ nhu cầu huy động vốn nói trên, khả năng cung cấp vốn của các nhà tài trợ

và tình hình cân đối các nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, công tác lựa

chọn, tiến độ thẩm định, phê duyệt văn kiện dự án, đàm phán và ký kết các điều ước quốc

tế, tổng giá trị hiệp định ODA và vốn vay ưu đãi ký kết thời kỳ 2016 - 2020 đạt khoảng 20

- 25 tỷ USD

❖ Giai đoạn 2021-2025:

Ưu tiên sử dụng cho các dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội, trực tiếp thúc đẩy tăng

trưởng gắn với phát triển bền vững, nhất là các dự án có khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ

Trang 13

trong trung và dài hạn để tăng cường năng lực trả nợ của quốc gia, ví dụ: các dự án giải quyết nút thắt cơ bản về hạ tầng (giao thông, đô thị thông minh, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo…), phát triển nông nghiệp thông minh (thủy lợi, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, điện khí hóa nông nghiệp…), kích thích các ngành

hoặc hoạt động xuất khẩu, các dự án đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ

Ưu tiên các dự án có tính chất hàng hóa công cộng, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, có hiệu ứng lan tỏa như thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi

trường, giáo dục, y tế, công nghệ, kỹ năng

Các nhu cầu:

Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu xử lý đất đai, kế hoạch là 41,564 tỷ đồng Đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ y tế tuyến cơ sở “Dự án thành phần tỉnh Trà Vinh, kế hoạch 89,147 tỷ đồng

Dự án phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu, kế hoạch 586,5 tỷ đồng

Dự án đầu tư trang thiết bị cho bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh, kế hoạch 176,854

tỷ đồng

Dự án phát triển đô thị thích ứng biến đổi khí hậu khu vực Mekong thành phố Trà Vinh, kế hoạch 1287 tỷ đồng

2.2 Tình hình thu hút vốn ODA giai đoạn 2015-2021

2.2.1 Chính sách ban hành liên quan đến thu hút vốn ODA của Việt Nam

❖ Giai đoạn 2016-2020:

Chính phủ đã ký Quyết định số 251/QĐ-TTg, ngày 17/2/2016, phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016 - 2020” Trong đó, dự kiến vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi đạt khoảng 20 - 25 tỷ USD Tính đến cuối năm 2020 dư nợ vay ODA và vốn vay ưu đãi dự kiến đạt khoảng 55 tỷ USD, chiếm khoảng 26% dư nợ công và 15% GDP ODA thời kì 2016-2020 được ưu tiên cho các lĩnh vực về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, xây dựng chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và tăng cường năng lực quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh

❖ Giai đoạn 2021-2025:

Thủ tưởng Chính Phủ đã ký quyết định 1489/QD-TTg “Phê duyệt định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018-2020, tầm nhìn 2021-2025” Theo đó, Chính phủ sẽ duy trì quan hệ với

Trang 14

nhiều đối tác , tổ chức, tránh dừng tất cả các khoản vay cùng một thời điểm nhằm tránh sự cắt giảm đột ngột của các khoản vay ưu đãi này ODA sẽ được ưu tiên thu hút, sử dụng cho các dự án phát huy tốt, tối đa hiệu quả kinh tế theo quy mô, các dự án có hiệu quả kinh tế

- xã hội, có tính chất hàng hóa công cộng, có khả năng thu hồi vốn tốt

Trong cuộc gặp mặt với bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam vào ngày 21/10/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, “Về Định hướng ưu tiên của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2021-2025, Chính phủ tiếp tục ưu tiên huy động vốn ODA, vay ưu đãi trong đó có nguồn vốn vay của WB, phù hợp với Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 sắp được Quốc hội thông qua và Định hướng thu hút ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2021-2025 với chủ trương ưu tiên cho các dự án lớn, thúc đẩy phát triển bền vững nhưng quan trọng nhất vẫn là hiệu quả của dự

án”

2.2.2 Tình hình thu hút vốn ODA từng năm giai đoạn 2015-2021

❖ Tình hình thu hút vốn ODA qua từng năm

Trong nhiều năm qua, dòng vốn ODA chảy vào Việt Nam khá dồi dào và đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội Nhiều chương trình, công trình, dự án hoàn thành đã đi vào khai thác phục vụ đời sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới ba hình thức, gồm ODA viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 10-12%; ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80% và ODA hỗn hợp chiếm khoảng 8-10% ODA vào Việt Nam chủ yếu dưới hai hình thức là ODA viện trợ và ODA vay trong đó vốn vay ODA có xu hướng ngày càng tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với ODA viện trợ Xét trong cả giai đoạn, ODA vay chiếm 77,8% tổng ODA giải ngân trong đó có 3 năm từ 2015 - 2017, vốn vay ODA luôn chiếm trên 80% tổng số vốn ODA

Trang 15

Nguồn dữ liệu: World Bank

Tỷ lệ vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong tổng đầu tư phát triển, đầu tư từ NSNN và trong

Trang 16

Nguồn vốn thu hút có xu hướng giảm dần Điều này cho thấy việc khi mà Việt Nam vươn lên là một quốc gia có thu nhập trung bình-thấp, các điều kiện cơ sở vật chất, kinh tế-xã hội dường như ổn định hơn, kinh tế phát triển dẫn tới việc không được nhận các nguồn vốn IDA, ADF của WB, tiến tới vay IBRD với điều kiện kém ưu đãi hơn Cụ thể: tháng 7/2017, Ngân hàng Thế giới (WB) chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam và Việt Nam phải chuyển sang sử dụng nguồn vay kém ưu đãi, tiến tới vay theo điều kiện thị trường Sau Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngừng một phần ưu đãi gói viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam từ 1/1/2019

Ngày 2/5, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J Kritenbrink công bố Chính phủ Hoa

Kỳ, thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), sẽ hỗ trợ thêm 5 triệu USD

để giúp giảm thiểu tác động của đại dịch COVID-19 tới nền kinh tế Việt Nam Khoản hỗ trợ này sẽ được sử dụng để ngay lập tức cung cấp những nguồn lực cần thiết nhất, bao gồm

hỗ trợ sự phục hồi của khu vực tư nhân thông qua tăng cường tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp; nâng cao năng lực hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu dự kiến tăng mạnh; và phối hợp với các bên liên quan của Chính phủ Việt Nam để đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam

Ngoài ra, trước tình trạng lũ lụt miền Trung xảy ra nghiêm trọng, Việt Nam cũng được hưởng các khoản viện trợ cụ thể:

Vào ngày 17-10, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel J Kritenbrink công bố khoản viện trợ ứng phó thiên tai ban đầu trị giá 100 nghìn USD để đáp ứng các nhu cầu nhân đạo khẩn cấp tại các cộng đồng dễ bị tổn thương ở các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi bão Linfa Khoản viện trợ này sẽ được Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) trao cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

Cùng với đó, ngân hàng phát triển Châu Á ADB cũng viện trợ không hoàn lại cho chính phủ Việt Nam 2,5tr USD nhằm ứng phó với lũ lụt xảy ra

Năm 2021:

Euro cấp 113,559 triệu vốn ODA cho Việt Nam trong năm 2021: Trong đó, Đức cam kết hỗ trợ vốn vay ODA năm 2021 cho Việt Nam là 50 triệu Euro và vốn ODA không hoàn lại là 63,559 triệu Euro dành cho 14 dự án hỗ trợ kỹ thuật và dự án đầu tư Trong đó, Dự

án “Trung tâm dự báo và quản lý dịch bệnh” do Bộ Y tế Việt Nam đề xuất nhằm ứng phó khẩn cấp với đại dịch Covid-19 là 15 triệu Euro vốn ODA không hoàn lại đã được Chính

Trang 17

phủ Đức cam kết Chính phủ Đức xác định, Việt Nam là “Đối tác toàn cầu” trong hợp tác phát triển theo “Chiến lược BMZ 2030” mới Trên cơ sở đó, phía Đức bày tỏ mong muốn thúc đẩy hợp tác hơn nữa với Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như: Biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và ổn định kinh tế toàn cầu 3 lĩnh vực ưu tiên hợp tác ODA giữa hai nước tiếp tục được đẩy mạnh là: Năng lượng, đào tạo nghề và môi trường được thay đổi tên gọi mới phù hợp với “Chiến lược BMZ 2030”: Đào tạo và tăng trưởng bền vững; Trách nhiệm đối với hành tinh - khí hậu và năng lượng; Bảo vệ sự sống trên trái đất

- môi trường và tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, Đức cũng nhất trí thúc đẩy tăng cường hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực y tế, nhằm giúp Việt Nam ứng phó với đại dịch Covid-

19

❖ Ngành, lĩnh vực thu hút vốn ODA

Cơ cấu vốn ODA huy động trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Vốn ODA được huy động chủ yếu vào các ngành giao thông vận tải, môi trường và phát triển đô thị, năng lượng và công nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo Kết quả huy động vốn ODA được đánh giá là tương đối sát các mục tiêu, nguyên tắc và các lĩnh vực ưu tiên đề ra tại Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 17/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016 - 2020” và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt

“Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021-2025” và đảm bảo các chỉ số nợ công, nợ chính phủ và mức bội chi NSNN trong giới hạn an toàn cho phép

2.2.3 Tình hình ký kết ODA

Tình hình ký kết vốn ODA cho Việt Nam giai đoạn 2015-2020

Đơn vị: Tỷ USD

Trang 18

Năm ký kết 2015 2016 2017 2018 2019 8/2020 Viện trợ 58.07 40.374 0.09

Vay ưu đãi 367 536.31

Vốn vay ODA 3547.08 4978.89 3640 2001.1 463 321

Tổng 3972.15 5555.574 3640.09 2001.1 463 321

Nguồn số liệu: Bộ kế hoạch và đầu tư

Khảo sát từ năm 2015 đến nay, nguồn vốn ODA đã trở thành nguồn vốn nước ngoài

có ý nghĩa quan trọng góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam Thông qua các Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) dành cho Việt Nam hàng năm, nguồn vốn ODA còn góp phần quan trọng nâng cao vị thế và hình ảnh hưởng của Việt Nam, từ một đất nước thiếu lương thực đến một quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới nhờ những cải cách kinh tế và mở cửa Số vốn mà cộng đồng các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam tăng qua các năm từ 2015 đến nay là một minh chứng thể hiện sự hậu thuẫn và ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam trong quá trình cải cách, phát triển kinh tế và hội nhập

Tổng vốn ODA ký kết trong giai đoạn từ 2015 đến tháng 2020 đạt 15952,914 triệu USD, trong đó vốn vay ODA: 14488,07 triệu USD, vay ưu đãi: 903,31 triệu USD, viện trợ không hoàn lại: 98,543 triệu USD)

2.2.4 Tình hình giải ngân vốn ODA

Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Vốn ODA giải ngân (tỷ USD) 4.6 3.7 3.6 3 1.654 0.424

Nguồn: Tạp chí tài chính

Giai đoạn 2015 – 2016

Trong năm 2015, toàn hệ thống đã giải ngân được 292.746,3 tỷ đồng vốn đầu tư, đạt 92,8% so với kế hoạch vốn năm 2015 Giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2016 đã khởi sắc hơn sau khi có Nghị quyết số 60/NQ- CP (NQ60) của Chính phủ về các giải pháp thúc đẩy giải ngân

Theo kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020

Trang 19

Vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài được điều chỉnh theo Nghị quyết của Quốc hội là 360.000 tỷ đồng

Đến hết năm 2019, tổng số đã giao trong dự toán NSNN của giai đoạn 2016-2019

là 244.300 tỷ đồng, số còn lại chưa giao là 115.700 tỷ đồng, bằng 67,9% kế hoạch điều chỉnh của cả giai đoạn

Số đã giải ngân, lũy kế từ năm 2016 đến tháng 5/2019 là 133.042 tỷ đồng, bằng 54,5% kế hoạch của cả giai đoạn 2016-2019 và bằng 36,96% kế hoạch trung hạn điều chỉnh giai đoạn 2016-2020

Nếu so với kế hoạch ban đầu (300.000 tỷ đồng), thì mới giải ngân đạt 46% Cụ thể, năm 2016, giải ngân đạt 42.552 tỷ đồng, bằng 81,1% dự toán; năm 2017, giải ngân đạt 56.578 tỷ đồng, bằng 76,4% dự toán; năm 2018, giải ngân đạt 32.307 tỷ đồng, bằng 53,6%

kế hoạch; 5 tháng đầu năm 2019 đạt 1.605 tỷ đồng, bằng 2,7% kế hoạch

Tính đến hết năm 2019:

Tỷ lệ giải ngân vốn vay ODA mới chỉ đạt chưa tới 40% Tỷ lệ này trong năm 2017 đạt 68,3%, năm 2018 là 43% và hết năm 2019 chỉ đạt 39,89% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ đề ra Theo các chuyên gia, việc chậm triển khai các dự án sẽ làm tăng khoảng 17,6% chi phí mỗi năm, trong đó 6,5% do lạm phát và 11,1% do lợi ích của dự án bị mất đi Tính trung bình, việc chậm trễ từ 2 - 3 năm sẽ làm tăng chi phí lên đến 50% do phát sinh thâm hụt tài chính

Nếu kế hoạch giải ngân vốn đầu tư nước ngoài năm 2019 được Thủ tướng giao là hơn 47.000 tỷ đồng, thực tế giải ngân chỉ chưa đến 19.000 tỷ đồng, thấp hơn cùng kỳ năm

2018 Có 15 Bộ và 8 địa phương có tình trạng giải ngân thấp

Năm 2020

Là năm cuối cùng phải hoàn thành kế hoạch giải ngân đầu tư công trung hạn của giai đoạn 2016-2020 Thế nhưng, sự xuất hiện bất ngờ của dịch bệnh COVID-19, với những diễn biến phức tạp và khó lường, đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cả nước; trong đó có các dự án vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi Cụ thể:

Vụ Kinh tế đối ngoại cho biết: theo số liệu giải ngân của Bộ Tài chính, lũy kế giải ngân kế hoạch vốn nước ngoài năm 2019 kéo dài sang năm 2020; từ đầu năm 2020 đến ngày 31/5/2020 là 1.436,816 tỷ đồng Giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2020 ước đạt 1.973,129 tỷ đồng.Trong khi đó, giải ngân kế hoạch vốn nước ngoài nguồn ngân sách trung ương trong 06 tháng đầu năm 2020 ước đạt 5.778,482 tỷ đồng (đạt 10,24% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao

Trang 20

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài cấp phát từ ngân sách Trung ương tính đến ngày 31/10/2020 ước đạt 18.089 tỷ đồng, bằng 30,15% so với kế hoạch giao Mức giải ngân vốn nước ngoài đã tăng từ 21,26% trong 8 tháng lên 30,15% trong 10 tháng, cao hơn cùng kỳ năm 2019 Nếu tính theo số vốn kế hoạch năm 2020 đã điều chỉnh thì mức giải ngân này đạt trên 35% Mức giải ngân này tuy cao hơn so với cùng

kỳ năm 2019 cả về giá trị (12.367 tỷ đồng) và tỷ lệ (27,09%), nhưng tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài như vậy là vẫn còn thấp

Trong đó số vốn giải ngân của các bộ, cơ quan trung ương là 5.824 tỷ đồng, đạt tỷ

lệ 27,07% so với dự toán được giao; số vốn giải ngân của các địa phương là 12.256 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 31,87% so với dự toán được giao Phần lớn các bộ, cơ quan Trung ương có mức giải ngân thấp, riêng Bộ Giao thông - Vận tải có mức giải ngân cao nhất với tỷ lệ 44,8% Một số địa phương có mức giải ngân khá gồm Tây Ninh (36,85%), Bình Định (26,34%), Nghệ An (24,79%),…

Một số dự án chậm giải ngân:

Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm, đoạn Nhổn - Ga Hà Nội, ông Ngô Văn Quý cho biết, năm 2019 kế hoạch giao 3.274 tỷ đồng, tuy nhiên đến cuối tháng 8 mới giao được 1.104 tỷ đồng, đạt 34% kế hoạch

Dự án tuyến đường sắt đô thị Hà Nội đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo đến nay mới giải ngân đạt 5% kế hoạch Cụ thể, năm 2019 được giao 393 tỷ đồng nhưng đến hết tháng 8 mới giải ngân 18,4 tỷ đồng

Ngày đăng: 13/10/2023, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w