1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề bài hiểu biết của anhchị về hoạt động tài chính quốc tế của việt nam giai đoạn 2018 2020

13 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiểu biết của anh/chị về hoạt động tài chính quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2018-2020
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Dương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Sản phẩm tự học
Năm xuất bản 2018-2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 32,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn 2018 - 2019, ngay trước khi xảy ra đại dịch, kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ sự năng động với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình là 6,8%/năm, chất lượng tăng trưởng cải thiện nhờ n

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh Dương

STT: 15 MSV: 19D130007

SẢN PHẨM TỰ HỌC MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Đề bài: Hiểu biết của anh/chị về hoạt động tài chính quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2018-2020

Bài làm

Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế Đó là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các luồng tài chính giữa các chủ thể của quốc gia này với chủ thể của quốc gia khác thông qua quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của chủ thể để đáp ứng nhu cầu và mục đích khác nhau của họ

Bối cảnh kinh tế

Giai đoạn 2018 - 2020, kinh tế thế giới biến động phức tạp Chủ nghĩa bảo hộ leo thang, kéo theo căng thẳng gay gắt và chia rẽ thương mại giữa các nước lớn, tác động tiêu cực đến niềm tin, thương mại, đầu tư, kìm hãm đà phục hồi mong manh của kinh tế toàn cầu; hệ lụy càng trầm trọng khi đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng toàn thế giới từ đầu năm 2020, kinh

tế toàn cầu suy thoái sâu - 4,4% (theo IMF, 10/2020) Thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế đầy bất ổn, chính sách tiền tệ các quốc gia lớn đảo chiều từ “bình thường hóa”, tăng lãi suất sang giảm mạnh lãi suất và nới lỏng một cách “chưa có tiền lệ” Dòng vốn vào các thị trường mới nổi và đang phát triển biến động phức tạp do nhà đầu tư lo ngại rủi ro và trong bối cảnh đồng nội tệ nhiều nước mất giá so với USD

Giai đoạn 2018 - 2019, ngay trước khi xảy ra đại dịch, kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ sự năng động với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình là 6,8%/năm, chất lượng tăng trưởng cải thiện nhờ nâng cao năng suất; lạm phát được kiểm soát dưới 4%, tạo môi trường vĩ mô ổn định, thu hút FDI, từ đó thúc đẩy xuất khẩu và xuất siêu liên tiếp trong bối cảnh thương mại quốc

tế sụt giảm Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch, với chủ trương đúng đắn của Chính phủ, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt 2,91% - thuộc nhóm nước tăng trưởng cao nhất thế giới và đứng đầu các nước ASEAN; trong khi môi trường vĩ mô tiếp tục ổn định

NĂM 2018

1 Cán cân thanh toán

Trang 2

Cán cân thanh toán tổng thể năm 2018 thặng dư 6,03 tỷ USD Đây là năm thứ 3 liên tiếp

cán cân thanh toán tổng thể thặng dư Mặc dù năm 2018, thị trường chứng khoán biến động không thuận lợi, đồng USD tăng giá trên thị trường thế giới, tạo áp lực đối với tỷ giá và thị trường ngoại hối trong nước, nhưng kinh tế trong nước vẫn tăng trưởng tốt, cán cân thương mại thặng dư cao, các luồng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục vào Việt Nam nên cân đối cung cầu ngoại tệ trong nước được điều hòa ổn định Nhờ đó, trong năm 2018, NHNN đã mua được ngoại tệ từ các TCTD để tăng Dự trữ ngoại hối Nhà nước

Cán cân vãng lai thặng dư 5,9 tỷ USD (tương đương 2,4% GDP) do hầu hết các cán cân bộ

phận đều diễn biến thuận lợi Đặc biệt, cán cân hàng hóa thặng dư cao hơn dự kiến, chuyển tiền kiều hối phục hồi và thu từ dịch vụ du lịch tăng khá là những yếu tố đóng góp vào thặng

dư cán cân vãng lai Cán cân hàng hóa năm 2018 thặng dư 16,5 tỷ USD, tăng so với mức

thặng dư 10,85 tỷ USD năm 2017 Cán cân thương mại năm 2018 cũng thặng dư 6,83 tỷ

USD và là năm thứ 3 liên tiếp cán cân thương mại duy trì trạng thái dương (2016: 1,78 tỷ USD; 2017: 2,11 tỷ USD) Tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu cả nước đạt xấp xỉ 480,6 tỷ USD, tăng hơn 52,4 tỷ USD so với năm 2017 Cán cân dịch vụ thâm hụt 3,68 tỷ USD, trong

đó xuất khẩu dịch vụ đạt 14,8 tỷ USD, nhập khẩu dịch vụ đạt 18,48 tỷ USD, lần lượt tăng 13,2% và 8% so với cùng kỳ năm 2017 Cán cân thu nhập thâm hụt 15,8 tỷ USD năm 2018, giảm 6,9% so với mức thâm hụt của năm 2017 Chuyển giao vãng lai thặng dư 8,86 tỷ USD, tăng 3,9% so với mức thặng dư 8,53 tỷ USD của năm 2017

Cán cân vốn và tài chính thặng dư 8,46 tỷ USD, giảm 57,5% so với mức thặng dư 19,9 tỷ USD của năm 2017 chủ yếu do các luồng vốn FDI, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng

trưởng tốt FDI ròng thặng dư 14,9 tỷ USD, tăng 9,4% so với mức thặng dư 13,6 tỷ USD của

năm 2017 Trong bối cảnh thị trường chứng khoán thế giới diễn biến phức tạp, chiến tranh thương mại Mỹ Trung ngày càng căng thẳng, Mỹ tăng lãi suất 04 lần, các dòng vốn đầu tư gián tiếp có xu hướng thoát khỏi các thị trường mới nổi, nhưng vốn đầu tư gián tiếp ròng vào Việt Nam năm 2018 thặng dư, đạt 3,02 tỷ USD, tăng 46% so với mức thặng dư 2,07 tỷ USD

năm 2017 Vay nợ nước ngoài ròng đạt 1,88 tỷ USD, giảm so với mức 10,75 tỷ USD của

năm 2017 do doanh nghiệp tăng cường trả nợ ngắn hạn Tiền và tiền gửi thâm hụt 11 tỷ USD, tăng so với mức thâm hụt 6,4 tỷ USD năm 2017

2 Diễn biến tài chính tiền tệ

Diễn biến tiền tệ

Trang 3

Tính đến cuối năm 2018, tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 12,41% so với cuối năm

2017, thấp hơn mức tăng 15% của năm 2017, chủ yếu do tài sản có nước ngoài ròng (NFA)

và tài sản có trong nước (NDA) đều tăng thấp hơn cùng kỳ năm 2017 Cụ thể, NDA tăng 10,7% (2017: 12,19%) do khoản mục đầu tư đối với nền kinh tế (CE) tăng chậm lại 12,72% (2017: 17,42%) mặc dù Cho vay Chính phủ ròng (NCG) giảm chậm hơn 14,95% (2017: -23,98%) khi hoạt động huy động vốn của Kho bạc Nhà nước diễn biến tích cực nhưng giải ngân vốn chậm khiến tiền gửi Kho bạc Nhà nước tăng cao tại hệ thống ngân hàng

Cho vay Chính phủ ròng (NCG) tiếp tục xu hướng giảm khi giải ngân chi đầu tư phát triển còn chậm, chi thường xuyên được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước cao tại hệ thống ngân hàng NFA tăng chậm lại 21,8% (2017: 33,29%) do tài sản có nước ngoài tăng 17,36%, thấp hơn mức tăng 32,4% của năm 2017

Diễn biến lãi suất

Lãi suất VND: Năm 2018, mặt bằng lãi suất về cơ bản được duy trì ổn định trong bối cảnh lãi suất trên thế giới có xu hướng gia tăng Lãi suất cho vay của các TCTD phổ biến ở mức khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung-dài hạn khoảng 9-11%/năm

Lãi suất USD: Lãi suất USD diễn biến phù hợp với chủ trương của Chính phủ và định hướng điều hành của NHNN về hạn chế đô-la hóa nền kinh tế và tình trạng găm giữ ngoại tệ, hỗ trợ

ổn định tỷ giá Đến cuối năm 2018, lãi suất huy động USD của các TCTD ở mức 0%/năm theo quy định của NHNN; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8- 6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm và lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5-6,0%/năm

3 Tín dụng

Năm 2018, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 13,89% so với cuối năm 2017 (2017: 18,28%); trong đó, tín dụng VND tăng 15,50% và tín dụng ngoại tệ giảm 5,07% Tín dụng ngoại tệ được kiểm soát phù hợp với lộ trình hạn chế đô-la hóa nền kinh tế; tỷ lệ tín dụng ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giảm mạnh từ mức 18,09% năm 2011 xuống 6,74% năm

2016 và 5,11% năm 2018 Tín dụng đối với nền kinh tế được tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối với các khu vực nông nghiệp – nông thôn, công nghiệp chế biến, chế tạo

Về cơ cấu tín dụng đối với nền kinh tế theo khối ngân hàng, tỷ trọng dư nợ tín dụng có xu hướng tăng nhẹ đối với khối TCTD khác trong khi giảm ở khối NHTM Nhà nước và Ngân

Trang 4

hàng Chính sách Xã hội: Dư nợ tín dụng của nhóm NHTM Nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Chính sách Xã hội) chiếm 48,30% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế (2017: 49,05%); Ngân hàng Chính sách Xã hội chiếm 2,60% (2017: 2,71%); nhóm các TCTD khác chiếm 49,1% (2017: 48,23%)

4 Hoạt động của các tổ chức tín dụng

Tính đến cuối năm 2018, hệ thống các tổ chức tài chính (TCTD) tại Việt Nam gồm 01 ngân hàng 100% vốn Nhà nước, 03 ngân hàng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 03 NHTM cổ phần mua bắt buộc; 28 NHTM cổ phần; 02 ngân hàng thuộc khối ngân hàng chính sách; Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam; 09 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 02 ngân hàng liên doanh; 49 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 26 công ty tài chính và cho thuê tài chính;

04 tổ chức tài chính vi mô và 1.183 Quỹ tín dụng nhân dân Các TCTD nỗ lực nâng cao năng lực tài chính, cải thiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn, tăng cường quản trị rủi ro

Năm 2018, hệ thống các TCTD tiếp tục đạt được kết quả kinh doanh tích cực, năng lực tài chính, chất lượng tài sản và xử lý nợ xấu đều được nâng cao; thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định Nhìn chung, các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chấp hành nghiêm túc các quy định về giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn và các quy định khác của NHNN; vốn điều

lệ, vốn chủ sở hữu toàn hệ thống được cải thiện

5 Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán năm 2018 chứng kiến nhiều đợt tăng giảm mạnh đan xen do nhiều yếu tố đến từ trong và ngoài nước Sau khi tăng vượt mốc lịch sử vào tháng 4, thị trường bước vào xu hướng điều chỉnh mạnh và không duy trì được đà tăng như năm 2017 So với cuối năm 2017, chỉ số VN-index đạt 892,54 điểm, HNX-index đạt 104,23 điểm, UPCoM-index đạt 52,83 điểm, lần lượt giảm 9,31%, 10,31% và 3,7% Giá trị vốn hóa toàn thị trường

cổ phiếu đạt 3.957 nghìn tỷ đồng (tương đương 71,49% GDP; 2017: 70,18%), tăng 12,6% so với cuối năm 2017

Về thanh khoản thị trường, trong năm 2018 giá trị giao dịch trên cả 3 sàn đều được cải thiện đáng kể, tuy sự đóng góp chính chủ yếu ở quý 1 và một số ngày giao dịch đột biến Giá trị giao dịch trung bình hàng ngày trên 3 sàn HOSE, HNX và UPCoM lần lượt đạt 5.500, 795

và 375 tỷ đồng, tăng tương ứng 31,87%, 23,45% và 55,6% so với trung bình năm 2017 Trong năm 2018, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng khoảng 42,700 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 46.000 tỷ đồng năm 2017 Thị trường chứng khoán phái sinh tăng trưởng mạnh về quy

Trang 5

mô, giá trị giao dịch danh nghĩa của thị trường phái sinh đến tháng 10/2018 đạt gần 17.000 tỷ đồng/phiên so với mức 2.500 tỷ đồng/phiên kết thúc năm 2017 Số lượng tài khoản giao dịch phái sinh tăng gấp 3,2 lần so với cuối năm 2017

Dự trữ ngoại hối đạt mức kỷ lục, ước đạt 60 tỷ USD Nguồn dự trữ ngoại tệ kỷ lục đã giúp Ngân hàng Nhà nước chủ động hơn trong can thiệp thị trường tỷ giá Nhờ vậy, dù năm 2018, thị trường tài chính thế giới biến động rất mạnh, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất 4 lần, căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc diễn ra , khiến nhiều nước trong khu vực phải điều chỉnh mạnh giá đồng nội tệ, song tỷ giá đồng Việt Nam chỉ tăng hơn 2%

Tỷ giá, thị trường vàng, ngoại tệ, giá trị đồng Việt Nam ổn định, tạo niềm tin cho nhà đầu tư, tiền đề cho kinh tế nước ta tiếp tục phát triển

6 Chính sách tỷ giá

Diễn biến tỷ giá năm 2018

Mặc dù bối cảnh thị trường quốc tế thay đổi nhanh chóng, thuận lợi trong nửa đầu năm, chịu

áp lực liên tục nửa cuối năm nhưng nhìn chung tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nước diễn biến tương đối ổn định, phù hợp với điều kiện thị trường Trong hơn 5 tháng đầu năm, trước

xu hướng giảm giá của đồng USD trên thị trường quốc tế, nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối dồi dào, tỷ giá giao dịch trên thị trường nhìn chung ổn định, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Tuy nhiên, sang nửa cuối năm, thị trường ngoại

tệ chịu áp lực từ những yếu tố bất lợi như: (i) Đồng USD quốc tế tăng giá mạnh với diễn biến khả quan của kinh tế Mỹ cũng như xu hướng trái chiều trong CSTT giữa Fed và các ngân hàng trung ương lớn khác; (ii) Xung đột thương mại Mỹ - Trung leo thang tác động tiêu cực đến tâm lý thị trường cũng như hoạt động đầu tư, sản xuất; (iii) Đồng CNY và các đồng tiền của một số quốc gia mới nổi mất giá mạnh (Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, ) gia tăng quan ngại về khủng hoảng kinh tế, tiền tệ tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển; (iv) Thị trường chứng khoán nhiều nước giảm mạnh, gia tăng rủi ro tiêu cực đối với tăng trưởng Trong năm,

tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đã tăng khoảng 1,6%, tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng khoảng 2,7% so với đầu năm Theo đó, tỷ giá thị trường có xu hướng tăng nhanh

Chính sách tỷ giá

Mặc dù tỷ giá năm 2018 có mức tăng khá cao so với các năm trước nhưng xét về tổng thể, có thể nói năm 2018 vẫn là một năm thành công trong công tác điều hành tỷ giá của NHNN

Trang 6

Trong nửa đầu năm khi nguồn cung ngoại tệ thuận lợi, NHNN chủ yếu cung tiền mua ngoại

tệ, tăng Dự trữ ngoại hối Nhà nước đồng thời hút tiền trung hòa qua phát hành tín phiếu NHNN nhằm kiểm soát tiền tệ Theo đó, NHNN đã giảm 0,25%/năm lãi suất chào mua giấy

tờ có giá và giữ ở mức 4,75%/năm để phát tín hiệu hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất thị trường; đồng thời chào bán tín phiếu NHNN với kỳ hạn và khối lượng ở mức hợp lý một mặt

để hút tiền trung hòa, kiểm soát tiền tệ ở mức hợp lý, mặt khác góp phần kiểm soát lạm phát,

ổn định tỷ giá

NĂM 2019

1 Cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán tổng thể năm 2019 thặng dư cao kỷ lục, đạt 23,25 tỷ USD Đây là năm

thứ 4 liên tiếp cán cân thanh toán tổng thể thặng dư Trong bối cảnh thanh khoản VND được đảm bảo, nguồn cung ngoại tệ thị trường dồi dào, nhờ đó, NHNN đã mua được ngoại tệ từ các TCTD để tăng DTNHNN

Cán cân vãng lai thặng dư kỷ lục 13,14 tỷ USD (tương đương 5,02% GDP), tăng mạnh so

với năm 2018 (5,77 tỷ USD) do hầu hết các hạng mục đều diễn biến thuận lợi, đặc biệt cán cân hàng hóa thặng dư cao hơn dự kiến, chuyển tiền kiều hối phục hồi và thu từ dịch vụ du

lịch tăng khá Cán cân hàng hóa thặng dư 21,5 tỷ USD (2018: 16,54 tỷ USD) Cán cân thương mại thặng dư 11,1 tỷ USD nhờ xuất khẩu tăng trưởng cao hơn nhập khẩu Cán cân

dịch vụ thâm hụt 2,48 tỷ USD, giảm mạnh 34,9% so với mức thâm hụt của năm 2018 Đây là mức thâm hụt thấp nhất kể từ năm 2013 do xuất khẩu dịch vụ tăng cao (tăng 12,6%) nhưng nhập khẩu dịch vụ chỉ tăng nhẹ (tăng 2,9%) Cán cân thu nhập thâm hụt 15,12 tỷ USD, giảm 4,4% so với mức thâm hụt 15,82 tỷ USD của năm 2018 Chuyển giao vãng lai thặng dư 9,24

tỷ USD, tăng 4,3% so với mức thặng dư 8,86 tỷ USD của năm 2018

Cán cân vốn và tài chính thặng dư 18,96 tỷ USD, tăng mạnh so với mức thặng dư 8,46 tỷ

USD của năm 2018 chủ yếu do các luồng FDI, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vẫn duy trì

mức thặng dư ổn định, vay nợ nước ngoài ròng tăng mạnh mức thặng dư FDI ròng thặng dư 15,67 tỷ USD, tăng 5,2% so với năm 2018 Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, rủi ro địa chính trị tăng cao, chứng khoán Việt Nam vẫn là điểm sáng thu hút dòng vốn ngoại trong năm 2019, vốn đầu tư gián tiếp ròng vào Việt Nam vẫn thặng dư 3 tỷ USD, giảm không đáng kể so với mức

thặng dư 3,02 tỷ USD của năm 2018 Vay nợ nước ngoài thặng dư 5,22 tỷ USD, tăng mạnh

Trang 7

so với mức thặng dư 1,88 tỷ USD của năm 2018, vay nợ nước ngoài ròng tăng ở tất cả các kỳ hạn Tiền và tiền gửi thâm hụt 5,22 tỷ USD, cải thiện so với mức thâm hụt 11 tỷ USD của năm 2018

* Đầu tư trực tiếp FDI

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng của Việt Nam Năm 2019 đánh dấu 10 năm liên tiếp dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng mạnh

Năm 2019, có khoảng 3.883 dự án được cấp phép mới, tăng 27,5% về số dự án so với cùng

kỳ năm 2018 Nếu loại trừ các dự án lớn cấp mới có vốn trên 1 tỷ USD cùng kỳ năm 2018, tổng số đăng ký cấp mới vốn đầu tư năm 2019 tăng 32,5% so với cùng kỳ

Năm 2019, Hàn Quốc là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam khi đầu tư 7,9 tỷ USD, tiếp theo

là Hồng Kông với 7,8 tỷ USD Trong 11 tháng đầu năm 2019, vốn FDI cam kết lớn nhất cũng đến từ Hồng Kông Việt Nam vẫn là nước hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ -Trung và căng thẳng chính trị ở Hồng Kông, đã góp phần làm tăng đầu tư từ cả -Trung Quốc

và Hồng Kông Việt Nam đang được các nhà đầu tư lựa chọn trong số các nước ASEAN khác vì có văn hóa gần gũi với Trung Quốc, chi phí lao động thấp và các chính sách hỗ trợ đầu tư

Lĩnh vực chế biến và chế tạo thu hút lượng đầu tư cao nhất, chiếm 68% tổng vốn FDI của Việt Nam Việc chuyển đổi các nhà máy của các tập đoàn đa quốc gia từ Trung Quốc sang Việt Nam là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất

Vào tháng 6 năm 2019, Apple đã công bố kế hoạch bắt đầu sản xuất thử nghiệm tai nghe không dây Airpod tại Việt Nam để tránh chi phí thuế quan do Chính quyền Trump áp đặt lên Trung Quốc Về nội tại, Chính phủ Việt Nam cũng đã áp dụng các chính sách cho thuê đất linh hoạt hơn với các nhà máy xây sẵn và xây dựng phù hợp để chào đón các dự án sản xuất

3 Tín dụng

Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 13,65% so với cuối năm 2018 (2018: 13,89%); trong đó, tín dụng VND tăng 14,44% và tín dụng ngoại tệ tăng nhẹ 2,33% Tín dụng ngoại tệ được kiểm soát phù hợp với chủ trương hạn chế đô-la hóa nền kinh tế của Chính phủ; tỷ lệ tín dụng ngoại tệ trên M2 giảm mạnh từ 18,09% năm 2011 xuống 6,74% năm 2016 và 4,55% năm 2019 Tín dụng đối với nền kinh tế được tổ chức tín dụng tập trung phân bổ chủ yếu vào

Trang 8

các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, góp phần hỗ trợ kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

4 Hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD)

Tính đến cuối năm 2019, hệ thống TCTD tại Việt Nam gồm 04 NHTM do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 03 ngân hàng mua bắt buộc; 01 ngân hàng Chính sách xã hội; 01 ngân hàng Phát triển; 28 NHTMCP; 02 ngân hàng liên doanh; 09 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 49 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 26 công ty tài chính, cho thuê tài chính; 01 ngân hàng Hợp tác xã; 1.182 QTDND và 04 tổ chức tài chính vi mô

Năm 2019, hệ thống TCTD tiếp tục đạt kết quả tích cực: năng lực tài chính, chất lượng tài sản và xử lý nợ xấu đều được nâng cao; thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định; ý thức tuân thủ pháp luật và chất lượng quản trị, điều hành có nhiều cải thiện; tình trạng sở hữu chéo, cấp tín dụng vượt giới hạn được cơ bản xử lý, kết quả kinh doanh của các TCTD cải thiện Đến cuối năm 2019, tổng tài sản toàn hệ thống đạt 12,58 triệu tỷ đồng, tăng 13,69% so với cuối năm 2018; tổng vốn điều lệ toàn hệ thống đạt 612,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,24% so với cuối năm 2018; vốn tự có toàn hệ thống đạt 911,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cuối năm 2018

Kết quả kinh doanh của các TCTD tiếp tục được cải thiện Đến cuối năm 2019, ROA và ROE toàn hệ thống lần lượt là 1,01% và 12,95%, tăng so với năm 2018 (năm 2018 lần lượt là 0,9% và 11,8%) Tỷ lệ CAR của hệ thống cuối năm 2019 đạt 11,95

5 Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán trong quý I/2019 phục hồi so với năm 2018 khi thị trường chứng khoán toàn cầu tăng trưởng Tuy nhiên, kể từ sau quý I, thị trường trong nước thiếu các động lực bứt phá dẫn đến các chỉ số biến động trong biên độ hẹp So với cuối năm 2018, VN-Index đạt 960,99 điểm, HNX-VN-Index đạt 102,51 điểm, UPCoM-VN-Index đạt 56,56 điểm, lần lượt tăng 7,67%, -1,65% và 7,06% Giá trị vốn hóa toàn thị trường cổ phiếu đạt 4.383.580 nghìn

tỷ đồng, tương đương 72,61% GDP (2018: 71,49% GDP), tăng 10,66% so với cuối năm

2018 Về thanh khoản thị trường, trong năm 2019, giá trị giao dịch trên cả sàn HOSE và HNX đều giảm do thị trường thiếu các yếu tố đột biến Giá trị giao dịch trung bình hàng ngày trên HOSE, HNX lần lượt đạt 4.438 và 410 tỷ đồng, giảm tương ứng 19,4% và 48,43%

so với trung bình năm 2018 Trong năm 2019, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng cổ phiếu khoảng 7.400 tỷ đồng, giảm so với mức gần 44.000 tỷ đồng của năm 2018

Trang 9

6 Diễn biến thị trường ngoại tệ

Năm 2019, thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu mua, bán ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung DTNHNN Trong một số giai đoạn (từ tháng 5-8/2019), tỷ giá có xu hướng tăng khi thị trường phản ứng trước một số diễn biến quốc tế; tuy nhiên, tỷ giá thị trường liên ngân hàng tăng cao nhất chỉ trong khoảng 1,2% so với cuối năm 2018, đây

là mức biến động thấp hơn nhiều so với mức biến động của các đồng tiền khác trong khu vực Đến cuối năm 2019, tỷ giá trung tâm tăng 1,45% so với cuối năm 2018, tỷ giá giao dịch USD/VND trên thị trường liên ngân hàng giảm 0,14%

7 Chính sách tỷ giá

a, Diễn biến thị trường tỷ giá

Trong cả năm 2019, tỷ giá bật tăng đáng kể nhất là vào tháng 5 và 6, khi đồng nhân dân tệ giảm mạnh kỷ lục trong bối cảnh thương chiến Mỹ - Trung leo thang căng thẳng Tỷ giá thị trường liên ngân hàng tăng cao nhất chỉ trong khoảng 1,2% so với cuối năm 2018, đây là mức biến động thấp hơn nhiều so với mức biến động của các đồng tiền khác trong khu vực Kết thúc năm 2019, tỷ giá trung tâm tăng 1,43%, tương đương với 330 đồng – thấp hơn mức tăng 1,77% của năm 2018 Trong năm, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng trong 9 tháng,

đi ngang trong 01 tháng (tháng 6) và điều chỉnh giảm trong 02 tháng (tháng 10, tháng 12) Tỷ giá trung tâm đã xác lập mức giá cao mới, niêm yết trên 23.000 USD/VND vào ngày 23/4, duy trì cho đến ngày giao dịch cuối cùng của năm và có mức điều chỉnh tăng mạnh nhất vào tháng 8/2019, ở mức 0,26% Đồng thời, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh ổn định trong giải biên độ ±0,01% – ±0,04% qua các ngày giao dịch

Trong khi đó, tỷ giá giao dịch trên thị trường chính thức và thị trường tự do cùng giảm –đảo chiều so với xu hướng tăng khá cao (tỷ giá bán) trên 2% vào năm ngoái, tỷ giá bán trên 02 thị trường lần lượt giảm ở mức 0,06% và 0,42% Diễn biến của cả hai loại tỷ giá này đã được điều chỉnh giảm hoặc đi ngang khá liên tục qua các tháng sau diễn biến tăng mạnh của năm 2018

b, Chính sách tỷ giá

Chính sách tỷ giá trung tâm đã tạo điều kiện cho NHNN có dư địa chủ động điều chỉnh linh hoạt hơn, đặc biệt trong bối cảnh thị trường quốc tế có nhiều biến động mạnh Qua đó, việc

Trang 10

tăng - giảm giá USD mua vào, bán ra được NHNN điều chỉnh theo tín hiệu thị trường và diễn biến của thị trường tiền tệ quốc tế

Điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt hàng ngày, kết hợp đồng bộ với các công cụ CSTT khác, Năm 2019, NHNN đã điều hành đồng bộ, linh hoạt các giải pháp tiền tệ nhằm ổn định

tỷ giá và thị trường ngoại tệ

NHNN luôn cố gắng giữ giá trị tiền đồng so với đô la Mỹ, chỉ cho phép phá giá trong biên độ nhất định để tránh những bất ổn lên nền kinh tế, do đó, VND sẽ tăng giá so với một số ngoại

tệ khác (trong đó có NDT)

NĂM 2020

1 Cán cân thanh toán

Do nhập khẩu và du lịch nước ngoài giảm nhiều hơn xuất khẩu, thặng dư tài khoản vãng lai năm 2020 đã tăng 26% so với năm 2019 bất chấp các ảnh hưởng tiêu cực của dịch coronavirus mới (Covid19) Theo đó, thặng dư tài khoản vãng lai cả năm 2020 đạt 75,28 tỷ USD Con số này cao hơn 26,14% (15,6 tỷ USD) so với năm 2019 (59,68 tỷ USD)

Cán cân thương mại năm 2020 xuất siêu ấn tượng, ở mức 19,1 tỷ USD nhờ xuất khẩu tăng trưởng nhẹ trong khi nhập khẩu chững lại Tổng kim ngạch thương mại ước đạt 544 tỷ USD,

độ mở nền kinh tế tiếp tục ở mức cao gần 200% GDP Xuất khẩu hàng hóa ước đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2019 Nhập khẩu hàng hóa ước tăng 3,6% so với năm 2019 Xuất siêu ở mức 6,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, đây là mức xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay

Vốn giải ngân của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2020 dự kiến giảm nhẹ 3,8% so với năm 2019 Tuy nhiên, đây là mức giải ngân khá trong bối cảnh đầu tư toàn cầu đang giảm mạnh vì dịch bệnh Covid-19 Luồng vốn đầu tư gián tiếp chuyển sang thâm hụt sau 4 năm thặng dư liên tục

Tính đến cuối năm 2020 dư nợ vay ODA và vốn vay ưu đãi dự kiến đạt khoảng 55 tỷ USD, chiếm khoảng 26% dư nợ công và 15% GDP

2 Tín dụng

Dư nợ tín dụng luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tính đến cuối năm 2020, tăng

Ngày đăng: 13/10/2023, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w