1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRANH BIỆN TRONG PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN, NĂNG LỰC NÓI VÀ NGHE QUA MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG SÁCH NGỮ VĂN 6 BỘ KNTT

44 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức hoạt động tranh biện trong phát triển tư duy phản biện, năng lực nói và nghe qua một số bài học trong sách ngữ văn 6 bộ kntt
Tác giả Nguyễn Bích Nguyệt
Trường học Trường TH, THCS & THPT True North
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Thành phố Hà Đông
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 7,14 MB
File đính kèm SKKN - Tranh bien.zip (7 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục của chúng ta trở nên sôi nổi hơn hẳn dưới sự tác động của nhân tố mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Từ cảm quan của người trực tiếp giảng dạy, tích cực dự giờ trao đổi chuyên môn, thảo luận cùng đồng nghiệp, giáo viên đặt trọn niềm tin vào chương trình mới trong việc phát triển năng lực cho học sinh, đưa môn Ngữ văn thoát khỏi lối mòn và sự bế tắc khi thầy và trò hàng năm đều phải “cày xới” trên những văn bản đã cũ. Thay vì nặng về kiến thức, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển đa dạng năng lực cho học sinh, trong đó chia thành năng lực chung và năng lực đặc thù. Với bộ môn Ngữ văn, năng lực đặc thù gồm Đọc, Viết, Nói và Nghe. Các năng lực này được xếp theo thứ tự ưu tiên do đối tượng người học chủ yếu của chương trình Ngữ văn 2018 là học sinh người Việt Nam. Vậy làm thế nào để tổ chức hoạt động Nói và Nghe một cách hiệu quả để phát triển hai năng lực này và phát triển năng lực tư duy phản biện? Tất cả được trình bày trong tài liệu đính kèm.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN HÀ ĐÔNG

TRƯỜNG TH, THCS & THPT TRUE NORTH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRANH BIỆN TRONG PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN, NĂNG LỰC NÓI VÀ NGHE QUA MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG SÁCH NGỮ VĂN 6 BỘ KNTT

GIÁO VIÊN THỰC HIỆN

Nguyễn Bích Nguyệt

Môn: Ngữ văn

Trường: TH, THCS & THPT True North

Chức vụ: Giáo viên Ngữ văn

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

II Mục đích nghiên cứu

III Phương pháp nghiên cứu

IV Đối tượng nghiên cứu

V Phạm vi nghiên cứu

1 Phạm vi

2 Thời gian áp dụng

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I Cơ sở lí luận

I Năng lực đặc thù Nói và Nghe trong dạy học chương trình phổ thông mới

II Tư duy phản biện

III Lý thuyết tranh biện

1 Sơ lược về tranh biện

2 Các mô hình tranh biện

CHƯƠNG II Cơ sở thực tiễn

I.Về phía học sinh

1 Đặc thù tâm lý của người học thế hệ Alpha

2 Năng lực Nói và Nghe của học sinh hiện nay và sự phổ biến của các lớp học tranh biện

II Về phía chương trình học và về phía giáo viên

1 Về phía chương trình học

2 Về phía giáo viên

CHƯƠNG III Những phương pháp, giải pháp thực hiện

I Giải pháp thực hiện

1 Các hình thức tổ chức hoạt động tranh biện trong giờ dạy Ngữ văn

2 Nguyên tắc tổ chức

II Các bước tiến hành, vận dụng trong giờ dạy và ví dụ minh họa

1 Các bước tiến hành, vận dụng trong giờ dạy

2 Ví dụ minh họa

2.1 Tổ chức hoạt động tranh biện như một hoạt động vận dụng trong tiết học

Trang 3

2.2.Thiết kế bài dạy thành tiết học tranh biện

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

I Kết luận

II Khuyến nghị

1.Với các cấp quản lý giáo dục và nhà trường

2 Với giáo viên trực tiếp giảng dạy và học sinh TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục của chúng ta trở nên sôi nổi hơn hẳndưới sự tác động của nhân tố mới - Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Từ cảmquan của người trực tiếp giảng dạy, tích cực dự giờ trao đổi chuyên môn, thảo luận cùngđồng nghiệp, giáo viên đặt trọn niềm tin vào chương trình mới trong việc phát triểnnăng lực cho học sinh, đưa môn Ngữ văn thoát khỏi lối mòn và sự bế tắc khi thầy và tròhàng năm đều phải “cày xới” trên những văn bản đã cũ Thay vì nặng về kiến thức,Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển đa dạng năng lực cho họcsinh, trong đó chia thành năng lực chung và năng lực đặc thù Với bộ môn Ngữ văn,năng lực đặc thù gồm Đọc, Viết, Nói và Nghe Các năng lực này được xếp theo thứ tự

ưu tiên do đối tượng người học chủ yếu của chương trình Ngữ văn 2018 là học sinhngười Việt Nam

Song có một thực tế Đọc, Viết là hai năng lực được chú trọng trong quá trìnhgiảng dạy nhưng Nói và Nghe lại là hai năng lực được sử dụng nhiều hơn trong cuộcsống và cả những năm tháng sau này, khi các em trưởng thành, cần bước ra xã hội đểlàm việc, khẳng định chính mình Nói và Nghe, cụ thể là năng lực thuyết trình, trình bàyvấn đề thu hút, hấp dẫn, thuyết phục là một trong những yếu tố để thành công hơn trong

sự nghiệp Dạo khắp các diễn đàn mạng xã hội, càng ngày càng nhiều những lớp họcdạy thuyết trình, dạy hùng biện, dạy nói sao cho hay, cho thuyết phục, càng nở rộ.Điều đó thôi thúc những người làm thầy càng thêm trăn trở về việc làm sao để dạy chohọc trò của mình không chỉ phát triển năng lực Đọc, Viết mà còn phát triển được nănglực Nói và Nghe Đặc biệt là khi có những học sinh Đọc, Viết tốt nhưng Nói và Nghe lạikém hơn, chưa biết làm sao để trình bày cho mạch lạc, tự tin và hấp dẫn Điều này cóthể quan sát thấy khi vẫn có hiện trạng học sinh còn ngại ngùng, lúng túng, e dè khi phátbiểu hoặc thiên về kiểu nói luyến láy, ngân nga như đọc diễn cảm,

Đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện, đứng trước thực trạng cần cải thiện củahọc trò, chúng tôi đau đáu một nỗi niềm làm sao để phát triển năng lực đặc thù một cáchtoàn diện cho các em học sinh Thế nhưng giáo viên lại vấp phải trở ngại khi thời lượngtiết học dành cho phát triển năng lực Nói và Nghe chưa nhiều dẫn đến chưa khai thác, tổchức được hoạt động thực sự hiệu quả; phần lớn là những hoạt động đơn lẻ thầy cô hỏi

Trang 5

- trò trả lời và thuyết trình cá nhân hoặc theo nhóm Những hoạt động này đều quenthuộc, dễ tổ chức nhưng có hạn chế là giới hạn số lượt học sinh tham gia Nói Với thờilượng tiết học khoảng 40 - 45 phút, tỉ lệ học sinh được nói, được thể hiện ý kiến chưanhiều.

Bên cạnh yêu cầu tổ chức hoạt động dạy học phát triển năng lực Nói và Nghe vớivai trò là năng lực đặc thù của môn Ngữ văn, việc phát triển năng lực chung trong đó cónăng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tư duy phản biện cũng là một vấn đềcấp thiết nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời đại mới Việt Nam là đất nước cótruyền thống “Tôn sư trọng đạo”, các em học sinh đều kính trọng, nghe lời thầy cô songmặt trái của vấn đề chính là việc học sinh ngại thể hiện quan điểm cá nhân trước mặtthầy cô, và càng “ngại” hơn nữa khi có quan điểm trái chiều với thầy cô Điều đó khiếncho việc rèn tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học trò phầnnào bị hạn chế

Giữa những khó khăn đó cùng với việc nghiên cứu tìm tòi về tranh biện, chúngtôi nhận thấy tranh biện là hoạt động hiệu quả trong việc phát triển tư duy phản biện,phát triển năng lực Nói và Nghe cho học sinh Tranh biện nhận được sự quan tâm củahọc sinh, của truyền thông khi VTV - Đài truyền hình quốc gia Việt Nam từng tổ chứcchương trình truyền hình về tranh biện Mở rộng phạm vi quan sát, ta thấy tranh biệncũng được giảng dạy và tổ chức thành các cuộc thi lớn trong và ngoài nước Có nhiềucông trình nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa tranh biện và tư duy phản biện để điđến kết luận tranh biện là một công cụ hữu ích cho việc phát triển tư duy phản biện,năng lực sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp của học sinh

Mặc dù có nhiều tranh biện lợi ích, có thể kết hợp trong giảng dạy Ngữ văn tạitrường phổ thông nói chung và bậc Trung học cơ sở nói riêng, tranh biện vẫn chưa đượcđưa vào ứng dụng phổ biến trong hoạt động giảng dạy Khi được khảo sát với câu hỏi

“Tự đánh giá hiểu biết của mình về tranh biện, Thầy Cô thấy hiểu biết của mình vềtranh biện đang ở khoảng nào dưới đây?”, tỉ lệ giáo viên hiểu và/hoặc đưa tranh biệngiảng dạy vẫn chưa nhiều:

Trang 6

Ảnh 1: Kết quả khảo sát của giáo viên về việc tìm hiểu tranh biện

Từ thực tiễn giảng dạy và trên cơ sở nghiên cứu, chúng tôi quyết định chọn thựchiện nghiên cứu, áp dụng tranh biện trên đối tượng học sinh lớp 6 - lứa học sinh đầu tiêncủa bậc Trung học cơ sở để có thêm thời gian quan sát, theo dõi sự tiến bộ của học sinhcũng như những tác động, lợi ích mà tranh biện đem lại khi được đưa vào bài học Ngữvăn Đề tài mang tên: “Tổ chức hoạt động tranh biện trong phát triển tư duy phản biện,năng lực Nói và Nghe qua một số bài học trong sách Ngữ văn 6 bộ KNTT”

II Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu, áp dụng của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề phát sinhtrong thực tiễn dạy học, giúp giáo viên tiếp cận lý thuyết tranh biện bài bản, khoa học vàứng dụng các quy tắc cốt lõi của tranh biện nhằm thiết kế hoạt động giảng dạy hiệu quả,tạo hứng thú cho học sinh

Về phía học sinh, việc nghiên cứu và vận dụng đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạtđộng tranh biện trong phát triển tư duy phản biện, năng lực Nói và Nghe qua một số bàihọc trong sách Ngữ văn 6 bộ KNTT” cũng giúp học sinh được trang bị hiểu biết đúngđắn về tranh biện để tránh nhầm lẫn giữa các khái niệm, phát triển được năng lực Nói vàNghe, tư duy phản biện cũng như thực hiện thành thạo tranh biện trong quá trình họctập môn Ngữ văn và vận dụng, phát triển được tư duy phản biện trong đời sống

III Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm qua việc tổ chức tranh biện tại các lớp, các cấp học

- Phương pháp so sánh, đối chiếu trong giảng dạy

- Phương pháp khảo sát, lấy phiếu thăm dò hứng thú của học sinh từ đó tìm raphương pháp giải quyết

- Một số phương pháp phụ khác: Nghiên cứu số liệu,

Trang 7

IV Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động tranh biện trong tổ chức hoạt động học tập nhằm phát triển năng lựcNói và Nghe, tư duy phản biện cho học sinh

V Phạm vi nghiên cứu

1 Phạm vi

- Giai đoạn triển khai thử nghiệm: Ở giai đoạn thử nghiệm, sáng kiến kinh

nghiệm được triển khai ở các lớp học từ 6 - 12 do giáo viên trực tiếp đứng lớp vànghiên cứu Cụ thể: Lớp 6Eagle, 7Lion, 8Whale, 11Lion, 12Shark tại trườngSong ngữ Quốc tế Hanoi Academy (D45 - 46 KĐT Ciputra, Phú Thượng, Tây

Hồ, Hà Nội) Đây là giai đoạn nghiên cứu lý thuyết, vận dụng và điều chỉnhphương pháp, cách thức tổ chức hoạt động tranh biện

Giai đoạn chính thức: Triển khai tại lớp 6, trường True North School (Lô TH

-03, KĐT Mỗ Lao, Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội) Hoạt động được tổ chức chínhthức trên cơ sở tiếp tục triển khai và phát triển thêm nội dung đã được thửnghiệm ở giai đoạn trước đó

2 Thời gian áp dụng

Từ năm 2020 đến hết tháng 12 năm 2022

Trang 8

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I Cơ sở lí luận

I Năng lực đặc thù Nói và Nghe trong dạy học chương trình phổ thông mới

Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thôngqua một số môn học và những hoạt động giáo dục nhất định Chương trình tổng thể

2018 xác định những năng lực đặc thù phổ biến bao gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lựctính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực công nghệ, năng lực tin học,năng lực thẩm mĩ Trong đó bộ môn Ngữ văn giúp học sinh hình thành và phát triển rõnhất hai năng lực là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, được coi là một biểu hiệncủa năng lực thẩm mĩ Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin được tập trung trình bày nănglực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ chủ yếu được thể hiện ở việc sử dụng tiếng Việt thể hiện quacác kĩ năng đọc, viết, nói và nghe các văn bản thông thường Chương trình Ngữ vănmới không nhằm cung cấp những kiến thức hàn lâm mà thay vào đó, chương tình sẽcung cấp cho người học những tri thức nền tảng để có thể sử dụng trong việc thực hànhđọc, viết, nói và nghe các kiểu văn bản Ngay từ cấu trúc chương trình tổng thể, chúng

ta đã nhận thấy được sự dịch chuyển từ dạy học bình giảng, giảng văn sang dạy học đọchiểu Dạy văn không còn là câu chuyện giáo viên bình - giảng “thao thao bất tuyệt” theocảm nhận cá nhân, không còn là câu chuyện làm sao để “rót cho đầy”, chú trọng cungcấp kiến thức mà dịch chuyển sang việc phát triển năng lực, hướng dẫn hoạt động, cungcấp công cụ để người học có thể giải quyết những vấn đề không chỉ của bộ môn mà còngiải quyết vấn đề của đời sống thực tiễn theo chủ trương của đổi mới giáo dục củachương trình tổng thể 2018

Theo đó, theo yêu cầu cần đạt đối với bậc học THCS, học sinh cần đạt được yêucầu về năng lực ngôn ngữ như sau: “Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc, có thái

độ tự tin khi nói, kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; thuyếtminh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với đối tượng, mục đích

và ngữ cảnh giao tiếp; biết dùng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ, để trình bày vấn đề mộtcách hiệu quả Nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết vàbước đầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; nhận biết được cảmxúc của người nói, biết cách phản hồi về những gì đã nghe một cách hiệu quả” (Hướng

Trang 9

dẫn thực hiện chương trình phổ thông mới THCS, 50 - 51) Năng lực Nói và Nghe tíchhợp với hoạt động đọc, viết; chú trọng đến khả năng tương tác giữa hai hoạt động này.Đường lối chủ trương của Bộ Giáo dục được các nhóm biên soạn sách giáo khoa thểhiện một cách rõ nét ngay trong cấu trúc bài học của mỗi bộ sách Bộ sách Kết nối trithức với cuộc sống nêu rõ cấu trúc trong nội dung tập huấn: “Cấu trúc bài học gồm: Tênbài (chủ đề) và lời đề từ; Giới thiệu bài học: Chủ đề và thể loại; Yêu cầu cần đạt: Đọc,Tiếng Việt, Nói và Nghe, Phẩm chất” (Tài liệu tập huấn SGK mới của BGD)

Ảnh 2: Cấu trúc bài học SHS Ngữ văn 6 Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống

Bộ sách Cánh Diều cũng có hướng dẫn cụ thể về thực hiện năng lực Nói và Nghetại mục III Học Nói và Nghe (SHS Ngữ văn 6 Bộ Cánh diều, trang 12)

Nói - Kể được một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích, một trải

nghiệm đáng nhớ

- Trình bày được ý kiến về một vấn đề đáng quan tâm(một sự kiện lịch sử hay một vấn đề trong cuộc sống)

- Có thái độ và kĩ năng nói phù hợp

Nghe - Nắm được nội dung trình bày của người khác

- Có thái độ và kĩ năng nghe phù hợp

Trang 10

Nói nghe tương tác - Biết tham gia thảo luận một vấn đề

- Có thái độ và kĩ năng trao đổi phù hợp

Như vậy, tổ chức hoạt động học tập để phát triển năng lực Nói và Nghe cho họcsinh trong chương trình mới là một vấn đề cần phải chú trọng và đầu tư thời gian, tâmhuyết của người dạy sao cho đúng với định hướng của chương trình mới, sách mớinhằm xây dựng, phát triển năng lực cho học sinh

II Tư duy phản biện

Tư duy phản biện (critical thinking) là một thuật ngữ được hình thành khá sớm ởphương Tây với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của những tác giả tiêu biểu như

John Dewey (How we think, 1991; Democracy and Education, 1997); nhóm tác giả Fisher, Alec and Scriven, Michael (Critical Thinking Its Definition and Assessment, 1997); Alec Fisher (Critical thinking: An introduction Second Edition, 2011), Richard Paul (Critical Thinking: Tools for Taking Charge of Your Professional and Personal Life, 2013),

Ảnh 3: Tư duy phản biện trong phân tích và giải quyết vấn đề

Ở góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về tư duyphản biện Tuy nhiên dưới góc độ phương pháp dạy học, tư duy phản biện được hiểu là

“một loại hình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá những thông tin đã có theocác cách nhìn khác nhau, qua đó nhằm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấnđề” [1; 9] Điểm cốt lõi của tư duy phản biện là soi chiếu vấn đề từ nhiều góc độ với cáinhìn không định kiến Trên cơ sở đó, tư duy phản biện là công cụ giúp ta có thể hiểuđược mối liên hệ giữa các ý tưởng khác nhau; phát hiện những thiếu sót hoặc mâu thuẫntrong lập luận, quan trọng hơn là tiếp cận vấn đề một cách đầy đủ, có hệ thống

Trang 11

Tư duy phản biện càng trở nên quan trọng hơn khi thế giới ngày càng có những

biến đổi khó lường Thuật ngữ “thế giới bất định” (the unknown world) xâm lấn nhiều

nghiên cứu về tâm lý học, xã hội học cho thấy những khó khăn của thế hệ tương lai khiphải xử lý những tình huống phát sinh không lường trước Tư duy phản biện chính làchìa khóa để họ tìm được cách để ứng phó với những tình huống đó, vì vậy nó được coi

là kĩ năng cần có của thế kỉ XXI Từ tư duy phản biện, học sinh sẽ hình thành được

năng lực phản biện Năng lực phản biện là “năng lực nắm bắt, khai minh chân lí; chỉ ra

các ngụy biện/ ngụy tạo, cảnh báo các ngộ nhận, các nguy cơ (nếu có) Nó làm xuấthiện nhu cầu phản tỉnh, thôi thúc nhận thức lại các đối tượng/ vấn đề trong chuyên mônhoặc trong sách lược, chiến lược [ ]

Tư duy phản biện và năng lực phản biện là nền tảng để phát triển rất nhiều năng

lực khác đặc biệt là năng lực giao tiếp hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo

đã được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 Bộ Giáo dục mô tả cụthể các cấp độ năng lực cần đạt được từ bậc Tiểu học đến Trung học phổ thông Theo

đó, đối với năng lực giao tiếp và hợp tác, đến bậc Trung học cơ sở, học sinh cần: “Biết

cách thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các thành viên của cộng đồng(họ hàng, bạn bè, hàng xóm, ); Nhận biết được mâu thuẫn giữa bản thân với ngườikhác hoặc giữa những người khác với nhau; có thiện chí dàn xếp và biết cách dàn xếp

mâu thuẫn” [Chương trình phổ thông mới; tr49] Với năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, chúng tôi trích xuất yêu cầu trong bảng dưới đây.

Bảng 1: Yêu cầu cụ thể của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đối với học

sinh Trung học cơ sở

Mô tả yêu cầu cụ thể Cấp độ cần đạt của học sinh THCS

Nhận ra ý tưởng mới Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; biết

phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từnhiều nguồn khác nhau

Phát hiện và làm rõ vấn đề Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện

và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập.Hình thành và triển khai ý Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến

Trang 12

tưởng mới của người khác; hình thành ý tưởng dựa trên các

nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiếnhay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; sosánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất

Đề xuất, lựa chọn giải pháp Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên

quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyếtvấn đề

Thiết kế và tổ chức hoạt động – Lập được kế hoạch hoạt động với mục tiêu, nội

Tư duy độc lập Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện

tượng, vấn đề; biết chú ý lắng nghe và tiếp nhậnthông tin, ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc; biếtquan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá

sự vật, hiện tượng; biết đánh giá vấn đề, tình huốngdưới những góc nhìn khác nhau

Bảng mô tả yêu cầu cụ thể của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đối với họcsinh Trung học cơ sở cho chúng ta thấy sự tăng tiến về cấp độ nhận thức của học trò từthấp đến cao Mức cơ sở của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là “Nhận ra ý tưởngmới” tương đương với cấp độ nhận thức “Nhận biết” trong thang tư duy Bloom Từ việcnhận ra ý tưởng, dần dần cùng với sự phát triển tư duy, học sinh cần tăng dần cấp độđến thực hành, vận dụng, phát triển tư duy độc lập

Tư duy phản biện và năng lực phản biện có mối liên hệ chặt chẽ với năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo ở chỗ, khi được định hướng phát triển tư duy phản biện,

Trang 13

học sinh sẽ học được kĩ năng đơn giản nhất chính là đặt câu hỏi từ nhiều góc độ để khaithác thông tin Thay vì chỉ lựa chọn Có hoặc Không (Yes or No), nhờ tư duy phản biện,học sinh hình thành được lí lẽ, minh chứng, căn cứ cho những sự lựa chọn đó Tư duyphản biện về bản chất chính là kĩ năng tư duy tổng hợp chung, soi chiếu vấn đề mộtcách có hệ thống dựa trên việc xâu chuỗi, huy động những dữ liệu đã có trên cơ sở kiếnthức nền tảng hoặc những thông tin được tìm kiếm, trang bị thêm trong thời điểm nảysinh nhu cầu phản biện Từ hệ thống thông tin được kết nối trong não bộ, học sinh cóthể phát hiện được những “lỗ hổng” của lập luận, phát hiện vấn đề, nảy sinh ý tưởngmới Như vậy, từ tư duy phản biện và năng lực phản biện, học sinh xây dựng và hình

thành được năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, ra quyết định một cách logic thay vì

cảm tính Đó là một trong những kĩ năng rất quan trọng trong thế kỉ XXI, đặc biệt trongthời đại “thế giới bất định” Với vai trò là giáo viên bộ môn Ngữ văn, thầy cô hoàn toàn

có thể sử dụng Ngữ văn như một công cụ để hỗ trợ học sinh đạt được năng lực tư duy

phản biện cũng như năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo một cách hiệu quả ngay khi

các em còn trên ghế nhà trường phổ thông

III Lý thuyết tranh biện

1 Sơ lược về tranh biện

Ở phương diện ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Anh Cambridge (Cambridge Dictionary), tranh biện (debate) được định nghĩa là “một cuộc thảo luận, tranh luận

(discussion) nghiêm túc với sự tham gia của nhiều người; một cuộc thi với sự tham giacủa các đội…đội nào được đánh giá đưa ra lập luận tốt nhất sẽ thắng cuộc”

Từ điển Tiếng Anh Oxford (Oxford Dictionary), tranh biện là “một cuộc thảo

luận theo khuôn mẫu (formal) về một vấn đề tại một cuộc họp công khai hoặc trong mộtquốc hội…hai hoặc nhiều diễn giả bày tỏ quan điểm trái ngược nhau và sau đó thường

có một cuộc biểu quyết về vấn đề này”

Ở góc độ ngôn ngữ và giao tiếp, “Tranh biện là quá trình tư duy và biểu đạt tưduy từ thu thập, phân tích xử lý thông tin đến xây dựng, hệ thống sắp xếp các lập luận

để ra quyết định Điều này quan trọng, vì quyết định và việc thực hiện các quyết địnhgiúp duy trì và phát triển xã hội con người Tranh biện có thể sử dụng ngôn ngữ (thôngqua Nói, Viết) hoặc không sử dụng ngôn ngữ (tự tranh biện – self-debate trong bản thântừng cá nhân) Tranh biện giúp Giải quyết vấn đề, bằng cách chỉ ra những Xung đột/

Trang 14

Mâu thuẫn giữa các luận điểm (Crashes) do người học sử dụng Tư duy phản biện để

phản đối trực tiếp trên luận điểm của đối phương” Xét theo góc độ này, bản chất củatranh biện là hoạt động giao tiếp, thông qua phản đối quan điểm của đối phương bằng

hệ thống lập luận chặt chẽ để đi đến mục đích cuối cùng nhằm thuyết phục người nghetin tưởng lập luận của mình là đúng

Tranh biện có tính formal (tính quy cách, tính trang trọng, khuôn mẫu), quy định

chặt chẽ về nói như thế nào Một cuộc tranh biện diễn ra khi có hai bên đối lập về quan

điểm (Proposition and Opposition), về một kiến nghị (motion) cụ thể, thuộc một chủ đề hay lĩnh vực (topic) nhất định Mỗi đội cần trình bày hệ thống lập luận (argument) trái

chiều với đội còn lại, có chiến thuật cụ thể trong việc nói cái gì, nói như thế nào, thứ tự

mỗi lượt nói Mỗi lập luận thường gồm một luận đề hay tuyên bố (claim), những lý lẽ (reason) để lý giải (reasoning) và minh chứng sự đúng đắn cho tuyên bố của mình, và

sử dụng các luận chứng, minh chứng (evidence) để củng cố cho các lý lẽ Trọng tài (judge) và khán giả (audience) đánh giá người/đội tranh biện (The Burden of Debater)

thể hiện tốt hay chưa được dựa trên việc họ trình bày lập luận, quan điểm của đội mìnhmột cách rõ ràng, thuyết phục; phản biện được lập luận và hệ thống luận điểm của pheđối lập; đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi mạch lạc, hợp lý, sáng rõ Trong một thời gian hạnđịnh, thông thường khoảng 3 - 10 phút/ lượt nói (tùy quy mô của hoạt động tranh biện),người tham gia tranh biện buộc phải thực hiện việc Nói và Nghe một cách hiệu quả đểnhận được sự ủng hộ từ phía khán giả, giám khảo

Tranh biện có mối liên hệ chặt chẽ với tư duy phản biện Nếu như tư duy phảnbiện cho phép ta soi chiếu vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau bao gồm cả những góc

độ tương phản, trái chiều với nhau; thì tranh biện thông qua góc nhìn trái chiều của đốiphương để phát hiện lỗ hổng về lập luận và tư duy từ đó tìm kiếm lập luận thuyết phục

hơn, chặt chẽ hơn Tranh biện cũng là một hình thức của nghị luận, nhưng thay vì tự mình nêu quan điểm, phân tích, chứng minh quan điểm, hình thức nghị luận này khốc

liệt hơn bởi những ràng buộc về thể thức và thời gian, buộc người tham gia trong thờigian ngắn nhất phải huy động các kiến thức nhanh nhất để bổ sung cho lập luận củamình Vì thế, tranh biện cực kì hữu ích cho việc phát triển tư duy và tư duy phản biệncũng như rèn giũa năng lực Nói và Nghe của người tham gia

Trang 15

2 Các mô hình tranh biện

Mô hình 3x3 Y2D và mô hình Karl Popper là hai mô hình tranh biện phổ biếnthường được sử dụng trong các cuộc thi tranh biện tầm cỡ quốc gia, quốc tế Hai môhình đều có sự thống nhất về số lượng người tham dự một cuộc tranh biện Về cơ bản,một cuộc tranh biện gồm:

- Đội tranh biện: Gồm Đội Ủng hộ (Affirmative – A) gồm 3 người; Đội Phản đối(Negative – N) gồm 3 người

- Hội đồng giám khảo: Từ 3 người trở lên, tổng số giám khảo là số lẻ

- Khán giả

- Chủ tọa phụ trách điều phối và thành viên tổng hợp phiếu chấm của giám khảoCuộc tranh biện được diễn ra theo hình ziczac

Ảnh 4: Thứ tự lượt nói trong tranh biện

Mỗi đội tranh biện cần thực hiện nhiệm vụ bằng cách đưa ra và bảo vệ một cáchchặt chẽ, thuyết phục luận điểm của phía mình đồng thời phản biện và làm yếu đi mộtcách chặt chẽ, thuyết phục luận điểm của phía đối phương; xoáy sâu vào nội dung trìnhbày của đối phương bằng cách đặt câu hỏi tốt khiến đối phương bối rối hoặc không trảlời được xác đáng song song với việc trả lời được câu hỏi của đối phương một cáchthuyết phục

Giữa mô hình Karl Popper và mô hình 3x3 Y2D có một sự khác biệt nho nhỏ vềthời lượng trình bày và đặt câu hỏi Luật tranh biện theo mô hình Karl Popper quy địnhthời lượng 6 - 3 - 5, trong đó: 6 phút là thời gian trình bày toàn bộ phiên tranh biện(dành cho A1, N1); 5 phút dành cho phản biện của mỗi bên (A2 phản biện N1, hỗ trợ

Trang 16

A1 củng cố luận điểm; N2 phản biện A2, hỗ trợ N1 củng cố luận điểm); 3 phút là thờigian đặt câu hỏi của hai đội.

Nhiệm vụ cụ thể của từng tranh biện viên theo mô hình Karl Popper được trìnhbày trong bảng dưới đây

Bảng 2: Vai trò của các lượt nói theo mô hình Karl Popper

lượng nói

A1 Trình bày toàn bộ phiên tranh

- Không đưa ra luận điểm mới

5 phút

N1 và A2 Hỏi đáp N1 đặt câu hỏi, A2 trả lời 3 phútN2 Phản biện A2 và ủng hộ N1 - Phản biện A2, ủng hộ N1

bằng cách củng cố luận điểmN1 đã trình bày, ví dụ bổ sungbằng chứng, phát triển lý lẽ

- Không đưa ra luận điểm mới

5 phút

Trang 17

A1 và N2 Hỏi đáp A1 đặt câu hỏi, N2 trả lời 3 phútA3 Tổng hợp xung đột để chứng

minh A thắng

- Phản biện N2, phân tích cácxung đột chính để chứngminh A thắng

- Không được đưa ra bất kỳluận điểm mới hay bổ sungluận điểm cũ, kể cả bằngchứng

- Không được đưa ra bất kỳluận điểm mới hay bổ sungluận điểm cũ, kể cả bằngchứng

5 phút

Mô hình Karl Popper quy định, mô tả chặt chẽ về thời lượng, vai trò của từnglượt nói, phổ biến và thường được sử dụng nhiều trong các cuộc tranh biện chuyênnghiệp, quy mô đa quốc gia; đòi hỏi tranh biện viên cũng như các thành phần tham giaphải có hiểu biết chắc chắn về mô hình, về cách thức trình bày, triển khai luận điểm,

phân biệt một cách rành mạch các khái niệm trong tranh biện như định nghĩa, chất vấn, kiến nghị,

Bảng 3: Vai trò của các lượt nói theo mô hình 3x3 Y2D

A1(4 phút) - Chào các bên và tóm tắt kiến nghị (dạng chính sách)

- Nêu định nghĩa về những thuật ngữ cần làm rõ trong kiếnnghị

- Nêu vấn đề, đề xuất giải pháp

Trang 18

- Chứng minh luận điểm đội mình mạnh hơn

- Không đưa ra luận điểm mới

N3(4 phút) - Tổng hợp các xung đột chính

- Chứng minh luận điểm đội mình mạnh hơn

- Không đưa ra luận điểm mới

N1 hoặc

N2 (3

phút)

- Nói ngắn gọn tại sao đội mình đã làm tốt hơn đội bạn

- Không đưa ra luận điểm mới

Không

A1 hoặc

A2(3 phút)

- Nói ngắn gọn tại sao đội mình đã làm tốt hơn đội bạn

- Không đưa ra luận điểm mới

Không

Mô hình 3x3 Y2D hay còn được gọi là mô hình 4 - 3 đơn giản hơn, phù hợp vớingười mới tiếp cận tranh biện hoặc tổ chức tranh biện ở quy mô nhỏ, thời lượng dànhcho tranh biện không dài Với sự đa dạng về mô hình tranh biện, tùy tính chất, quy mô,yêu cầu của giải đấu, ban tổ chức hoặc giáo viên có thể lựa chọn mô hình phù hợp.Ngoài ra, người giáo viên cũng có thể giữ lại yếu tố cốt lõi của tranh biện để đưa vàonội dung bài học một cách linh hoạt

Trang 19

CHƯƠNG II Cơ sở thực tiễn

I.Về phía học sinh

1 Đặc thù tâm lý của người học thế hệ Alpha

Trong quan niệm của nhiều người từ rất xa xưa, dạy học là quá trình hoạt độngcủa giáo viên mà nhiệm vụ chủ yếu là truyền đạt kiến thức cho học sinh thông qua cácbài thuyết giảng Với quan niệm này, một thời gian dài trong lịch sử giáo dục, nhàtrường chỉ chú ý đến hoạt động của giáo viên, đến các phương pháp truyền đạt kiến thứcmột chiều mà ít quan tâm đến hoạt động học tập của học sinh Trong môn Ngữ văn, điềunày thể hiện rõ qua việc tổ chức tiết học thiên về hoạt động bình giảng, giảng văn củagiáo viên; học sinh tiếp thu kiến thức thụ động, ghi nhớ và tái hiện Ngày nay, quá trìnhdạy học không còn là “con đường một chiều” mà là “hoạt động tương tác” giữa hai chủthể giáo viên và học sinh Người giáo viên có vai trò thiết kế mục tiêu học tập bao gồmkiến thức, thái độ, năng lực và tổ chức, dẫn dắt các hoạt động tương ứng đi kèm nhằmgiúp học sinh chủ động, tích cực đạt được mục tiêu học tập thông qua sự hướng dẫn,dẫn dắt đó Sự chủ động, tích cực của học sinh là điều kiện quan trọng để quyết định sựthành công của quá trình dạy học Hay nói cách khác, người giáo viên tổ chức hoạt độnghọc tập thành công khi khơi gợi, thôi thúc được nhu cầu học tập của học sinh, từ đó pháttriển tính tự giác, sáng tạo, tích cực, độc lập của học trò Muốn đạt được điều đó, ngườigiáo viên cần hiểu rõ về đối tượng người học đặc biệt là đặc điểm tâm lý Thế hệ họcsinh đầu tiên của Chương trình Tổng thể 2018 sinh năm 2010, hay còn được định danh

với tên gọi “Thế hệ Alpha” (Generation Alpha) Điều đó có ý nghĩa lớn lao trong việc

định hình lại về mục tiêu, phương pháp giảng dạy của người giáo viên sao cho tiết họcđược tổ chức hiệu quả

Thế hệ Alpha là tên gọi chỉ thế hệ nhân khẩu được sinh ra trong các năm tính từ

2010 đến 2024, thế hệ đầu tiên được sinh ra hoàn toàn trong thế kỉ XXI Thế hệ này có

năm đặc trưng so với các thế hệ đi trước: 1) Công nghệ số (Digital); 2) Xã hội (Social); 3) Toàn cầu (Global); 4) Điện thoại di động (Mobile); 5) Trực quan (Visual) Trong

nghiên cứu về thế hệ Alpha được trình bày trong cuốn Understanding - Generation Alpha, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, thế hệ Alpha là thế hệ được sinh ra vào thời đại

công nghệ và thế hệ này đối mặt với công nghệ ngay từ khi mới sinh Độ tuổi sở hữumột thiết bị công nghệ của trẻ thuộc thế hệ này cũng rút ngắn so với thế hệ Z trước đó

Trang 20

Với thế hệ Z, trung bình khoảng 15 tuổi trẻ đã được sở hữu một thiết bị điện tử trongkhi với thế hệ Alpha, độ tuổi trung bình khoảng từ 7 tuổi đã được tiếp cận thậm chí sởhữu một thiết bị điện tử của riêng mình Thế hệ Alpha trong độ tuổi từ 8 - 12 tuổi dùngthiết bị điện tử trung bình khoảng 4 giờ/ngày cho mục đích giải trí trong khi WHOkhuyến nghị chỉ nên sử dụng khoảng 30 đến 40 phút Công nghệ số biến thế giới trở nên

phẳng với kết nối không giới hạn.

Hệ quả dẫn đến việc thế hệ Alpha là thế hệ chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ thế hệđồng trang lứa thay vì chịu ảnh hưởng từ cha mẹ như các thế hệ trước Thế hệ đồngtrang lứa không chỉ thu hẹp ở phạm vi gần nhà, gần trường mà còn mở rộng qua cácranh giới xã hội, địa lý, nhân khẩu học thông qua mạng lưới internet được kết nối 24/7

Do đặc điểm về công nghệ số và xã hội, thế hệ Alpha tiếp cận thông tin đa dạng vànhanh nhạy hơn, đặc biệt về những sự việc, hiện tượng có xu hướng trở nên phổ biến(trending) Khi thử quan sát thế hệ học trò Alpha, giáo viên dù thuộc thế hệ Z hay Y, Xđều nhận thấy có sự cách biệt quá lớn về phong cách, lối tư duy Với thế hệ Y, X, gầnnhư thầy cô là chân lý; trong khi với thế hệ Z, đặc biệt là thế hệ Alpha với sự tiếp cậntin mới một cách nhanh chóng, học sinh thế hệ này có sự phát triển tư duy phản biện (dùmột cách hệ thống hay tự phát) rõ nét Dễ thấy nhất, các em học sinh hay đặt câu hỏiphản biện hoặc có lối suy nghĩ khác những vấn đề thầy cô định hướng hoặc cố gắngđịnh hướng

Về cơ bản, đó là tín hiệu tích cực nhưng cũng đem đến nhiều thách thức cho giáoviên khi làm việc với thế hệ này Nó đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi mạnh mẽphương pháp làm việc, tiếp cận với học trò, làm sao để “Nói sao cho trẻ chịu nghe, nghesao cho trẻ chịu nói” Việc áp đặt một chiều từ giáo viên, thúc ép trẻ nghe lời dựa trên

“quyền lực” của người thầy đã không còn phù hợp, trái lại còn dẫn đến những khủnghoảng tồi tệ hơn trong mối quan hệ thầy - trò, khiến học trò có những hành động phảnkháng tiêu cực Điều này trong tương lai càng trở nên phổ biến, nhất là với đặc thù tâm

lý của thế hệ Alpha Nó đồng nghĩa với việc thay đổi phương pháp dạy học là điều tấtyếu và chỉ có dạy học phát huy tính chủ động tích cực, phát triển tư duy phản biện vànăng lực phản biện mới khiến người giáo viên trở nên “gần” và dễ hòa nhập hơn với đốitượng người học là thế hệ Alpha

Trang 21

2 Năng lực Nói và Nghe của học sinh hiện nay và sự phổ biến của các lớp học tranh biện

Nền giáo dục hiện nay của nước ta đang chạy song song hai chương trình: Khối 8(học sinh sinh năm 2009) và khối 9 (học sinh sinh năm 2008) học chương trình hiệnhành; khối 6 (học sinh sinh năm 2011) và khối 7 (học sinh sinh năm 2010) học chươngtrình mới 2018 Khối 8, 9 học chương trình hiện hành chủ yếu chú trọng đến kiến thức

và năng lực viết, nghiêng dần về kiểu bài đọc hiểu ngữ liệu ngoài chương trình để đápứng, chuẩn bị cho học sinh chuyển cấp và học chương trình mới ở những năm tiếp theo.Khối 6, 7 mặc dù được tiếp cận chương trình mới từ năm học 2021 - 2022 (với lớp 7)

và 2022 - 2023 (với lớp 6) song các em vẫn học chương trình hiện hành trong suốtnhững năm học bậc Tiểu học Không thể phủ nhận những đóng góp, cống hiến củachương trình hiện hành nhưng khi chuyển sang chương trình mới, nhiều học trò chưathích nghi và đáp ứng ngay được với phương pháp học và yêu cầu của chương trình

Với năng lực Nói và Nghe vốn là hai năng lực mới được chính thức đưa vàoChương trình phổ thông, có quy định và hướng dẫn cụ thể nhưng do nhiều yếu tố, nănglực Nói và Nghe của học sinh chưa đồng đều, có những em có khả năng nói trội, trìnhbày lưu loát; có những em lại rụt rè, ấm úng, chưa biết cách thể hiện, trình bày Tuynhiên với đặc điểm thế hệ như trên, ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng dù thể hiện sôinổi hay vẫn chưa quen thể hiện quan điểm của mình, lứa học sinh thế hệ Alpha có mộtkhao khát mãnh liệt hơn bao giờ hết đó là được cất tiếng nói thể hiện quan điểm, đượclắng nghe và tôn trọng ý kiến Trách nhiệm của người thầy là cần định hướng, hỗ trợcon trẻ để các em có thể phát triển năng lực, từ đó hoàn thiện hơn về nhân cách

Do nhu cầu phát triển phát triển năng lực, nhiều trung tâm đã phát triển mô hìnhdạy học tranh biện, luyện kĩ năng tranh biện để đáp ứng yêu cầu của người học, phụhuynh học sinh Tìm kiếm với từ khóa “lớp dạy tranh biện”, công cụ tìm kiếm Googlecho ra khoảng 8.100.000 kết quả trong 0.35 giây Bên cạnh những trung tâm chuyên dạytranh biện, có những trung tâm phát triển mô hình dạy học tranh biện ngắn hạn thànhcác khóa học Đánh vào tâm lý phụ huynh, học sinh, những mô hình dạy tranh biện dùtrực tuyến (online) hay trực tiếp đều thu hút được sự quan tâm của đông đảo phụ huynhhọc sinh, đặc biệt với phụ huynh, học sinh ở những đô thị hiện đại Với học sinh khuvực nông thôn và vùng sâu vùng xa, việc được đào tạo tranh biện khó tiếp cận hơn bởi

Trang 22

nhiều nguyên nhân trong đó kinh tế (học phí, đầu tư thiết bị học tập) là một trong nhữngvấn đề lớn.

Để đảm bảo tính bình đẳng trong giáo dục, thiết nghĩ chúng ta nên đưa tranh biệnvào chương trình giảng dạy với vai trò là một hoạt động học tập để tất cả các em họcsinh đều được tiếp cận, từ đó sử dụng như một công cụ hữu ích để phát triển năng lực

II Về phía chương trình học và về phía giáo viên

1 Về phía chương trình học

Chương trình Ngữ văn 2018 tuân thủ chặt chẽ các quy định được nêu trongChương trình tổng thể đồng thời nhấn mạnh một số quan điểm về việc đáp ứng nhu cầucủa xã hội, tiếp cận lý thuyết dạy học hiện đại, lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp(Đọc, Viết, Nói và Nghe) làm trục xuyên suốt cả ba cấp học

Với bậc Trung học cơ sở, ở năng lực Nói và Nghe, học sinh cần biết “trình bày

dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc [ ] biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ýtưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc,

đã nghe [ ] Nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bướcđầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng” [3; trang 9] Năng lực Nói

và Nghe được nâng cấp hơn khi học sinh học đến bậc Trung học phổ thông Ở bậc họcnày, các em cần “biết tranh luận về những vấn đề tồn tại những quan điểm trái ngượcnhau; có thái độ cầu thị và văn hóa tranh luận phù hợp; [ ] có hứng thú thể hiện chủkiến, cá tính trong tranh luận; trình bày vấn đề một cách khoa học, tự tin, có sức thuyếtphục Nói và nghe linh hoạt, nắm được phương pháp, quy trình tiến hành một cuộctranh luận” [3; trang 11]

Năng lực Nói và Nghe là hai trong bốn năng lực đặc thù của bộ môn, được địnhhướng rõ ràng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của các chuyên gia đầu ngành khi đi vàoxây dựng chương trình Song đi vào thực tiễn giảng dạy, thời lượng dành cho các tiếtNói và Nghe Thống kê các tiết học Nói và Nghe ở Ngữ văn 6 ở cả hai bộ sách CánhDiều và Kết nối tri thức với cuộc sống vẫn chưa thực sự đủ thời lượng để tương xứngvới kì vọng được thể hiện trong Chương trình tổng thể Dưới đây là bảng thống kế tiếthọc Nói và Nghe ở hai bộ sách

Ngày đăng: 13/10/2023, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Trần Đình Sử (2013). Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
Năm: 2013
3. Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ GD-ĐT (2018)
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2018
4. Đỗ Ngọc Thống (tổng chủ biên, 2018). Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn Trung học phổ thông. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Ngọc Thống (tổng chủ biên, 2018). "Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ vănTrung học phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Richard Paul - Linda Elder (2015). Cẩm nang tư duy phản biện. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Richard Paul - Linda Elder (2015). "Cẩm nang tư duy phản biện
Tác giả: Richard Paul - Linda Elder
Nhà XB: NXB Tổng hợpThành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
6. Sách học sinh Ngữ văn 6, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, tập 1, 2 7. Sách học sinh Ngữ văn 6, bộ sách Cánh diều, tập 1, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách học sinh Ngữ văn 6", bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, tập 1, 27."Sách học sinh Ngữ văn 6
8. Mark McCrindle, Ashley Fell, Sam Bucklefield, Generation Alpha - Understanding our children and helping them thrive, NXB Hachette Australia, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understandingour children and helping them thrive
Nhà XB: NXB Hachette Australia
9.Jonathan S.McClelland, Debate Pro Junior - Nhà tranh biện thông minh, NXB Thế giới, 2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Debate Pro Junior - Nhà tranh biện thông minh
Nhà XB: NXB Thếgiới
2. Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w