1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung

114 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung
Tác giả Nguyễn Hồng Nhật
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Thành Dương
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 11,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm 2022, vụ việc ông Trịnh Văn Quyết thực hiện giao dịch bán 74,8 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Tập đoàn FLC nhưng không báo cáo, công bố thông tin trước khi thực hiện giao d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LU ẬT THƯƠNG MẠI

NGUY ỄN HỒNG NHẬT

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2023

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LU ẬT THƯƠNG MẠI



KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN HỒNG NHẬT KHÓA: 44 MSSV: 1953801011177

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS PHAN THỊ THÀNH DƯƠNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Thị Thành Dương,

đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành ph ố Hồ Chí Minh, ngày … tháng 6 năm 2023

Tác giả khóa luận

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua và đặc biệt là Tiến sĩ Phan Thị Thành Dương – Giảng viên Khoa luật Thương Mại vì đã tận tình định hướng, dẫn dắt, giải đáp thắc mắc và sửa chữa những sai sót trong suốt quá trình nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thiện khóa luận một cách tốt nhất

Trân trọng

Nguyễn Hồng Nhật

Trang 5

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT

LCK Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14)

ngày 26 tháng 11 năm 2019

NĐTCPCN Nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

NĐTCPTC Nhà đầu tư cổ phiếu tổ chức

số 156/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Trang 6

M ỤC LỤC

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

PH ẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CÁ NHÂN TRÊN TH Ị TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG 6

1.1 Khái quát về nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 6

1.1.1 Khái niệm nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 6

1.1.2 Đặc điểm của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung 7

1.1.3 Phân loại nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 9

1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật để xác lập quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 10

1.2 Pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung 12

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 12

1.2.2 Nội dung quy định pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung 13

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ C Ổ PHIẾU CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG VÀ M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 28

2.1 Thực trạng thực hiện các quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung 28

2.1.1 Quyền được sở hữu tài sản 28

2.1.2 Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư 30

2.1.3 Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch 30

2.1.4 Quyền được cung cấp thông tin 34

2.1.5 Quyền được bảo mật thông tin 39

2.1.6 Quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm pháp luật 43

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 44

Trang 7

2.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật chứng khoán về quyền của nhà đầu

tư cổ phiếu cá nhân 44

2.2.2 Một số kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân 46

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

K ẾT LUẬN CHUNG 53

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 8

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Sự ra đời của cổ phiếu gắn liền với công ty cổ phần và chỉ công ty cổ phần mới có cổ phiếu Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư sở hữu hàng hóa là cổ phiếu sẽ có quyền quản trị công ty và cơ hội kiếm được lợi nhuận hấp dẫn Tham gia vào hoạt động mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán gồm có nhiều chủ thể như công ty cổ phần (đóng vai trò là nhà phát hành), nhà đầu tư, nhà môi giới (công

ty chứng khoán, môi giới viên), nhà tổ chức thị trường, Nhà nước,… Trong đó, nhà đầu tư là chủ thể đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi họ vừa là chủ thể cung cấp nguồn vốn cho các doanh nghiệp, vừa là chủ thể thực hiện mua bán nhằm tạo ra thanh khoản cho các cổ phiếu đang lưu thông trên thị trường chứng khoán

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và công nghệ – kỹ thuật ngày nay, đặc biệt là sự bứt phá của các nền tảng công nghệ tài chính (fintech) đã làm cho hoạt động đầu tư chứng khoán nói chung và đầu tư cổ phiếu nói riêng thu hút rất nhiều nhà đầu tư tham gia, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân Tính đến cuối năm 2022,

số lượng tài khoản của nhà đầu tư cá nhân trong nước là 6.839.633 tài khoản, tăng 60,02% so với năm 2021 và chiếm gần 99,17% tổng số lượng tài khoản của nhà đầu

tư1 Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng là “con dao hai lưỡi” khiến nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trở nên dễ bị tổn thương bởi các yếu tố xung quanh hơn bao giờ hết Trong năm 2022, vụ việc ông Trịnh Văn Quyết thực hiện giao dịch bán 74,8 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Tập đoàn FLC nhưng không báo cáo, công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch đã vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán về công bố thông tin, xâm hại đến quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư Giao dịch này đã bị hủy bỏ và hành vi này của ông Trịnh Văn Quyết đã cấu thành tội thao túng thị trường chứng khoán2, xâm hại nghiêm trọng đến quyền của nhiều nhà đầu tư tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, Ủy ban chứng khoán Nhà nước cũng đã nhiều lần cảnh báo nhà đầu tư

về hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán trên không gian mạng không được Ủy

1 Số liệu được thống kê từ Ủy ban Chứng Khoán Nhà Nước,

https://www.ssc.gov.vn/cs/idcplg?IdcService=GET_FILE&dID=127417&dDocName=APPSSCGOVVN162 0127572&allowInterrupt=1 , truy cập ngày 20/03/2023

2 UBCKNN, “Về việc khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết - Chủ tịch Hội đồng

https://www.ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCGOVVN162144643&dI D=119771 , truy cập ngày 20/3/2023

Trang 9

ban chứng khoán Nhà nước cấp phép có thể gặp rủi ro khi có tranh chấp xảy ra mà không được pháp luật về chứng khoán bảo vệ quyền và lợi ích của mình3

Hiện nay, vị trí của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán

đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy vấn đề quyền hợp pháp của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân chưa được coi trọng đúng mức, phần đông nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân ngoài những hạn chế về chuyên môn và kinh nghiệm còn

phải đối mặt với tình trạng không an toàn khi tham gia đầu tư trên thị trường, quyền hợp pháp bị xâm hại ngày càng nhiều với thủ đoạn ngày một tinh vi hơn Với tình hình đó, vấn đề pháp luật cần có những quy định về địa vị của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân, đặc biệt là các quy định về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân khi tham gia thị trường chứng khoán là rất cần thiết, bởi đây là cơ sở để các nhà đầu tư cổ phiếu

cá nhân có thể “danh chính ngôn thuận” tự thực hiện các quyền chính đáng của mình

và được bảo vệ khi các quyền hợp pháp bị xâm hại Xuất phát từ các vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quy định pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá

2 Tình hình nghiên c ứu đề tài

2.1 Trong nước:

Vấn đề quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhưng nội dung về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân lại được nghiên cứu chung trong các đề tài về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, có thể kể đến như sau:

Hoàng Thị Quỳnh Chi (2008), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học,

Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vũ Nhất Tâm (2008), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư cá nhân trên th ị trường chứng khoán ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Vũ Thị Huyền Ngọc (2014), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghi ệp trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam,

Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Lê Hoàng Nga (2010), Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán

Vi ệt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 20/2010

3 Ủy ban Chứng Khoán Nhà Nước, “UBCKNN cảnh báo nhà đầu tư về hoạt động cung cấp dịch vụ về chứng

https://www.ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCGOVVN1620125422 , truy cập ngày 20/3/2023

Trang 10

Nguyễn Văn Vân (2010), Các biện pháp pháp lý bảo vệ nhà đầu tư trên thị

trường chứng khoán, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 (266)/2010, tr.30-36

Có thể thấy, phần lớn các nghiên cứu nói trên đều đã được thực hiện trong giai đoạn luật cũ (Luật chứng khoán 2006) có hiệu lực và hiện nay đã được thay thế bằng Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 26 tháng 11 năm 2019 nên có một

số nội dung đã không còn phù hợp Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên có đối tượng là nhà đầu tư thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán nói chung mà chưa tập trung

đi sâu vào nhóm nhà đầu tư cụ thể nào; quyền của nhà đầu tư chỉ là một phần nội dung được đề cập đến trong chủ đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Do đó, trên cơ

sở tiếp tục kế thừa, phân tích những lý luận phù hợp, trong phạm vi đề tài của mình, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn hiện nay

Mark I Steinberg (2021), Rethinking Securities Laws, Oxford University

Press Cuốn sách đề cập đến các quy định, hạn chế của các quy định đối với các vấn

đề trong lĩnh vực chứng khoán tại Hoa Kỳ như giao dịch nội gián, tố tụng trong lĩnh

vực chứng khoán, công bố thông tin,… Qua đó tác giả tiến hành phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định

3 M ục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của khóa luận là nghiên cứu những kiến thức lý luận về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân; nghiên cứu, phân tích những quy định pháp luật hiện hành về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân, qua đó chỉ ra những bất cập, vướng mắc Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm giúp hoạt động thực thi quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân được hiệu quả hơn

Trang 11

Để đạt được mục đích trên, khóa luận giải quyết những nhiệm vụ sau: nghiên

cứu những vấn đề lý luận, nhận thức cơ bản như khái niệm, đặc điểm của nhà đầu tư

cổ phiếu cá nhân; khái niệm, đặc điểm quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân và quy định pháp luật Việt Nam trong việc thực thi quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân; nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong thời gian qua và phân tích,

đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về quyền của nhà đầu tư

cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

V ề nội dung: Khóa luận chỉ giới hạn nghiên cứu những quy định pháp luật về

quyền của nhà đầu tư là cá nhân khi tham gia mua, bán, nắm giữ loại chứng khoán là

cổ phiếu của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung bao gồm: (i) Quyền được sở hữu tài sản; (ii) Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư; (iii) Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch; (iv) Quyền được cung cấp thông tin; (v) Quyền được bảo mật thông tin và (vi) Quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm pháp luật Các quyền của nhà đầu tư với tư cách là cổ đông của công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân là người nước ngoài không nằm trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận

V ề thời gian: Khóa luận trọng tâm nghiên cứu về quyền của nhà đầu tư cổ

phiếu cá nhân theo Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 26 tháng 11 năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành

V ề không gian: Khóa luận có nội dung nghiên cứu về những quy định hiện

hành của pháp luật chứng khoán Việt Nam Bên cạnh đó, khóa luận cũng đề cập đến quy định của một số quốc gia về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Phương pháp phân tích và bình luận: Phương pháp này được sử dụng trong

việc phân tích và bình luận các quy định của Luật Chứng khoán 2019, các văn bản hướng dẫn thi hành và quan điểm của tác giả đối với vấn đề quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung Phương pháp này được sử dụng trong cả hai chương của khóa luận

Trang 12

Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng trong việc so sánh

những quy định pháp luật của Luật Chứng khoán hiện hành với Luật Chứng khoán

2006 So sánh phạm vi, tính chất quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân với nhà đầu

tư cổ phiếu tổ chức So sánh những quy định của pháp luật Chứng khoán với pháp luật Ngân hàng trong việc xác định độ tuổi của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân tham gia thị trường chứng khoán Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng trong việc so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước khác trong lĩnh vực chứng khoán

nhằm rút ra những kiến nghị hoàn thiện Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của khóa luận

Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng phương pháp này trong việc thống kê

số liệu về số lượng nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường chứng khoán, các công ty niêm yết vi phạm quy định pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán,… Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2 của khóa luận

6 B ố cục tổng quát của khóa luận

Khóa luận gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong phần nội dung được chia thành 2 chương:

Chương 1: Tổng quan về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung

Chương 2: Thực trạng thực hiện các quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

T ỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CÁ NHÂN

TRÊN TH Ị TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG 1.1 Khái quát về nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

1.1.1 Khái niệm nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận của thị trường tài chính, đây

là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các công cụ vốn, công

cụ nợ trung và dài hạn theo quy định của pháp luật Trên TTCK tập trung tồn tại hàng hóa là chứng khoán gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… Tùy thuộc vào loại chứng khoán nhà đầu tư (NĐT) nắm giữ mà có những tên gọi cụ thể cho NĐT đó Tuy Luật Chứng khoán 2019 (LCK) không quy định khái niệm nhà đầu tư cổ phiếu

cá nhân (NĐTCPCN) nhưng khái niệm này có thể được tìm hiểu thông qua các khái niệm “nhà đầu tư” và “cổ phiếu”

Theo từ điển Tiếng Việt, “đầu tư” là “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công

vi ệc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” hoặc “bỏ sức lực, thời gian, v.v vào công vi ệc gì để có thể thu kết quả tốt”4, còn “nhà” trong ngữ cảnh tương ứng

được hiểu là “người chuyên một ngành nghề, một lĩnh vực hoạt động nào đó, đạt trình độ nhất định”5 Nên xét theo nghĩa Tiếng Việt, NĐT có thể được hiểu là người

có chuyên môn hoặc người đạt một trình độ nhất định trong việc bỏ sức lực, thời gian, của cải vào một công việc gì đó để thu được kết quả tốt

Theo Luật đầu tư 2020, sửa đổi bổ sung năm 2022 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu

tư) quy định: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh,

g ồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”6 Luật Đầu tư còn định nghĩa “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh” 7 Có thể thấy, khái niệm NĐT trong

Luật đầu tư chủ yếu nhấn mạnh đến hoạt động mà một người thực hiện để được công nhận tư cách NĐT là bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh

Còn theo quy định của LCK, nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán8 Hoạt động đầu tư chứng khoán là việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán9 LCK không quy định

4 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.301

5 Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), tr.699

6 Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư

7 Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư

8 Khoản 16 Điều 4 LCK

9 Khoản 15 Điều 4 LCK

Trang 14

khái niệm TTCK mà tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ “thị trường giao dịch chứng khoán” Thị trường giao dịch chứng khoán được định nghĩa là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán10 Do đó, khái niệm nhà đầu tư hiểu một cách cụ thể theo LCK là tổ chức, cá nhân thực hiện việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán trên thị trường giao dịch chứng khoán Trên TTCK tồn tại hàng hóa là chứng khoán LCK định nghĩa chứng khoán là tài sản, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ

phần, chứng chỉ lưu ký; chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định11 Trong đó, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành12 Nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu sẽ trở thành một trong những chủ sở hữu của công ty

cổ phần mà mình nắm giữ cổ phiếu

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu “NĐTCPCN là cá nhân thực

hi ện hoạt động mua, bán, nắm giữ loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp c ủa người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (gọi là

c ổ phiếu) trên thị trường chứng khoán”

Có thể thấy NĐTCPCN là một bộ phận của NĐT Nếu căn cứ vào phương thức tổ chức giao dịch, hoạt động đầu tư cổ phiếu của NĐTCPCN có thể diễn ra ở thị trường chứng khoán tập trung và thị trường chứng khoán phi tập trung Trong phạm

vi khóa luận, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động mua, bán, nắm giữ cổ phiếu của công

ty đại chúng có cổ phiếu đã niêm yết13 của NĐTCPCN trên TTCK tập trung

1.1.2 Đặc điểm của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán

Khi xét dưới góc độ chủ thể tham gia đầu tư trên TTCK, ngoài các NĐTCPCN còn có các nhà đầu tư cổ phiếu tổ chức (NĐTCPTC) Tổ chức là một thực thể nhân tạo do nhiều cá nhân tham gia và hình thành theo quy định của pháp luật14 Tương tự như định nghĩa về NĐTCPCN được phân tích tại mục 1.1.1, NĐTCPTC có thể được

hiểu là tổ chức thực hiện hoạt động mua, bán, nắm giữ cổ phiếu trên TTCK NĐTCPTC tham gia đầu tư trên TTCK là các pháp nhân, bao gồm các công ty thực

sử dụng để chỉ công ty đại chúng có cổ phiếu được niêm yết

14 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2021), Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.163

Trang 15

hiện hoạt động đầu tư cổ phiếu như một hoạt động kinh doanh, công ty đầu tư chứng khoán, các quỹ đầu tư chứng khoán,… NĐTCPCN và NĐTCPTC đều là những bộ phận của NĐT Tuy nhiên khi tham gia đầu tư trên TTCK thì NĐTCPCN có những đặc điểm nổi trội sau:

Thứ nhất, NĐTCPCN tham gia TTCK vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và

quyền quản trị công ty Tham gia TTCK vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và quyền

quản trị công ty là đặc điểm có ở cả NĐTCPCN và NĐTCPTC Đa số NĐT nói chung

và NĐTCPCN nói riêng khi tham gia đầu tư trên TTCK đều hướng đến việc thu được một số tiền lớn hơn so với số tiền ban đầu mình đã bỏ ra Việc sở hữu cổ phiếu của công ty sẽ làm cho NĐTCPCN trở thành một trong những chủ sở hữu của công ty và

có quyền quản trị đối với công ty đó Quyền quản trị đối với công ty được xem là một quyền để phân biệt NĐT đầu tư chứng khoán là cổ phiếu và NĐT đầu tư chứng khoán

là trái phiếu vì NĐT sở hữu cổ phiếu sẽ trở thành một trong những chủ sở hữu và có quyền quản trị đối với công ty, còn NĐT sở hữu trái phiếu sẽ trở thành một trong những chủ nợ và không có quyền quản trị đối với công ty

NĐTCPCN có nguồn vốn lớn như NĐTCPCN chuyên nghiệp15, đa số các NĐTCPCN

có nguồn vốn là tiền nhàn rỗi, tiền tiết kiệm, tiền vay mượn được hoặc tiền chưa có mục đích sử dụng được dùng để thực hiện hoạt động đầu tư nhằm kiếm thêm thu nhập Mặt khác, NĐTCPCN cũng bị hạn chế trong hoạt động huy động thêm nguồn vốn bổ sung hay nguồn vốn dự phòng rủi ro trong hoạt động đầu tư Do đó, phần đông NĐTCPCN tham gia thị trường với nguồn vốn hạn chế, số tiền được sử dụng để đầu

tư trên TTCK không quá nhiều so với số tiền mà họ thực sự sở hữu Trái ngược với NĐTCPCN, các NĐTCPTC là NĐT có tiềm lực tài chính lớn, thể hiện ở số tiền được trích cho hoạt động đầu tư, khả năng huy động vốn và thành lập các quỹ dự phòng rủi ro khi thị trường đi xuống Đặc điểm này càng thể hiện rõ hơn ở những NĐTCPTC

có hoạt động đầu tư cổ phiếu là hoạt động kinh doanh chính như các công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán

ngừng tăng lên NĐT cá nhân có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với sự tăng trưởng GDP ở mỗi quốc gia16 TTCK được đánh giá là kênh đầu tư hấp dẫn, quy định tham gia đơn giản và được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để phát triển Tuy nhiên các quỹ đầu tư, các tổ chức quản lý tài sản có chức năng thay mặt hoặc đại diện cho cá

15 Ph ần về NĐTCPCN chuyên nghiệp sẽ được trình bày ở mục 1.1.3 của khóa luận

16 Hà Thị Đoan Trang (2015), Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận

án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, tr.9

Trang 16

nhân thực hiện hoạt động đầu tư lại chưa thực sự phát triển, chưa được phổ biến rộng rãi hoặc nhận được sự tin tưởng từ công chúng Điều này dẫn đến những cá nhân có mong muốn đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận lựa chọn đầu tư trên TTCK với tư cách NĐTCPCN, khiến cho số lượng NĐTCPCN không ngừng tăng lên và chiếm số lượng

áp đảo hơn so với NĐTCPTC

Thứ tư, phần đông NĐTCPCN chưa có trình độ chuyên môn Trình độ chuyên

môn là một đặc điểm tương phản giữa NĐTCPTC và phần đông NĐTCPCN Trình

độ chuyên môn của NĐTCPTC thể hiện rõ ràng ở trình độ nhân lực, chiến lược đầu

tư và mục tiêu đầu tư NĐTCPTC luôn có một tập hợp nguồn nhân lực có kiến thức,

kỹ năng hay kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán Nguồn nhân lực này cho phép NĐTCPTC xác định rõ ràng mục tiêu khi tham gia thị trường, thực hiện các chiến lược đầu tư có hiệu quả, có tâm lý vững vàng trước những biến động của thị trường cũng như có các kế hoạch phòng ngừa rủi ro Trong khi đó, đa số các NĐTCPCN xem hoạt động đầu tư như một “nghề tay trái” để kiếm thêm thu nhập nên số lượng NĐTCPCN được đào tạo bài bản, có kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán và đầu tư tương đối ít, ngoại trừ các NĐTCPCN chuyên nghiệp Đặc điểm hạn chế về trình độ chuyên môn của các NĐTCPCN thể hiện rõ nhất ở những NĐTCPCN tham gia TTCK trong giai đoạn bùng phát của dịch bệnh Covid-19 với mục đích bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút Nhưng hoạt động đầu tư của nhóm NĐTCPCN này sau một thời gian đã bộc lộ nhiều hạn chế, rủi ro Mặt khác, sự hạn chế kiến thức

về TTCK của các NĐTCPCN là điểm yếu thường bị các đối tượng lợi dụng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay thao túng TTCK

Việc phân loại NĐTCPCN có thể khác nhau tùy theo từng căn cứ được đưa ra (i) Căn cứ vào tính chuyên nghiệp khi tham gia TTCK, LCK chia NĐT thành NĐT chuyên nghiệp và NĐT không chuyên nghiệp Tương tự cách xác định đó, NĐTCPCN cũng được phân chia thành NĐTCPCN chuyên nghiệp và NĐTCPCN không chuyên nghiệp NĐTCPCN chuyên nghiệp là các cá nhân tham gia đầu tư cổ phiếu trên TTCK đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

(a) Người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán;

(b) Cá nhân nắm giữ danh mục chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch có giá trị tối thiểu là 02 tỷ đồng theo xác nhận của công ty chứng khoán (CTCK) tại thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là NĐTCPCN chuyên nghiệp;

(c) Cá nhân có thu nhập chịu thuế năm gần nhất tối thiểu là 01 tỷ đồng tính

Trang 17

đến thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là NĐTCPCN chuyên nghiệp theo

hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế hoặc chứng từ khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân chi trả17

Những NĐTCPCN không đáp ứng được một trong các tiêu chí nói trên sẽ được mặc nhiên được xác định là NĐTCPCN không chuyên nghiệp So với NĐTCPCN không chuyên nghiệp, có thể thấy NĐTCPCN chuyên nghiệp có lợi thế hơn về khả năng tài chính hoặc kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực chứng khoán

Sự khác biệt về khả năng tài chính, kiến thức chuyên môn nói trên là cở sở để NĐTCPCN chuyên nghiệp có quyền mua cổ phiếu chào bán riêng lẻ của công ty đại chúng trong khi NĐTCPCN không chuyên nghiệp lại không có quyền này Tuy nhiên, ngoài NĐTCPCN chuyên nghiệp, quyền mua cổ phiếu chào bán riêng lẻ của công ty đại chúng cũng áp dụng đối với NĐTCPCN là NĐT chiến lược18

(ii) Căn cứ vào nghĩa vụ công bố thông tin (CBTT) theo quy định của LCK thì NĐTCPCN bao gồm NĐTCPCN phải thực hiện nghĩa vụ CBTT và NĐTCPCN thông thường Nhóm những NĐTCPCN phải thực hiện nghĩa vụ CBTT bao gồm:

(a) Cổ đông lớn, nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty đại chúng (bao gồm cả cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng);

(b) Người nội bộ của công ty đại chúng theo quy định tại khoản 45 Điều 4 của LCK và người có liên quan của người nội bộ19

Những NĐTCPCN không thuộc 2 nhóm trên được xếp vào nhóm NĐTCPCN thông thường, tức khi tiến hành mua, bán, nắm giữ hay thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu hoặc xảy ra các sự kiện liên quan đến nhân thân thì không phải thực hiện nghĩa vụ CBTT Có thể thấy nhóm NĐTCPCN phải thực hiện nghĩa vụ CBTT thường có liên

hệ mật thiết với công ty niêm yết hơn bởi chức vụ, vị trí của mình so với nhóm NĐTCPCN không phải thực hiện nghĩa vụ CBTT

1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật để xác lập quyền của nhà đầu

tư cổ phiếu cá nhân

Pháp luật là trụ cột thiết yếu xây dựng nên kết cấu xã hội, pháp luật có tính hiệu quả trong hoạt động quản lý xã hội vì được đảm bảo thực thi bằng quyền lực

17 Điều 11 LCK

18 NĐT chiến lược được quy định tại khoản 17 Điều 4 LCK: “Nhà đầu tư chiến lược là nhà đầu tư được Đại hội

đồng cổ đông lựa chọn theo các tiêu chí về năng lực tài chính, trình độ công nghệ và có cam kết hợp tác với công ty trong thời gian ít nhất 03 năm.”

19 Điều 127, Điều 128 LCK

Trang 18

Nhà nước Nếu không có pháp luật, kết cấu xã hội sẽ có nguy cơ đứng trên bờ vực

sụp đổ Việc sử dụng pháp luật để xác lập quyền của NĐTCPCN ngoài đảm bảo hiệu quả thực thi còn nhằm hướng đến những mục đích sau:

Thứ nhất, điều chỉnh pháp luật nhằm hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện

giao dịch của các NĐTCPCN TTCK là một thiết chế hoạt động thường xuyên, có tính thanh khoản và dễ dàng dịch chuyển vốn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Những

rủi ro đó thể hiện ở việc thị giá cổ phiếu phụ thuộc vào sự vận động của nền kinh tế,

sự vận động này thể hiện rõ nhất ở quan hệ cung – cầu của các chủ thể tham gia TTCK

và là cơ sở để xác định thị giá của cổ phiếu; các chính sách pháp luật của Nhà nước,

cụ thể ở việc các chính sách pháp luật được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện hay hạn chế đối với một số lĩnh vực hay ngành nghề; tình hình hoạt động của doanh nghiệp, những yếu tố được quan tâm nhiều là các kế hoạch mua lại cổ phiếu, phát hành thêm cổ phiếu, tình hình tài chính của doanh nghiệp Những yếu tố trên luôn hiện hữu song hành với quá trình hoạt động của TTCK cũng như thường tác động theo cả hướng tích cực hoặc tiêu cực đến NĐT, đặc biệt là NĐTCPCN

chủ thể khác khi tham gia TTCK NĐTCPCN khi tham gia TTCK chịu tình trạng bất cân xứng thông tin và thuộc về bên yếu thế hơn Bất cân xứng thông tin trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều NĐT sở hữu được thông tin riêng; hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty; hoặc doanh nghiệp, những người quản lý doanh nghiệp

có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng NĐT20 Nhóm NĐT là cổ đông lớn, người nội bộ, người có liên quan là những người tạo ra thông tin khi thực hiện hoạt động đầu tư cổ phiếu21 hoặc nhờ vào vị trí, chức vụ của mình mà biết trước được thông tin sớm hơn so với chủ thể khác Nhóm NĐTCPTC nhờ lợi thế về nguồn nhân lực và cơ

sở vật chất cho phép được tiếp cận thông tin trước hoặc chủ động có được thông tin sớm hơn so với NĐTCPCN Trong khi đó, NĐTCPCN thường chỉ tiếp cận thông tin thông qua kênh internet, mạng xã hội,… Các phương thức tiếp cận thông tin này có thể dẫn đến sự hạn chế về thời gian hay sự sai lệch về độ chính xác khiến NĐTCPCN trở thành bên yếu thế hơn trong hệ thống tiếp nhận thông tin Thông tin trên TTCK được xem là mắc xích quan trọng trong quá trình đưa ra quyết định mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu của NĐT Sự yếu thế trong việc tiếp cận thông tin của NĐTCPCN sẽ chi phối đến cơ hội, quyết định đầu tư và chi phí trong hoạt động đầu tư của họ

Trang 19

tạo điều kiện cho TTCK và nền kinh tế phát triển Khi được pháp luật thừa nhận các quyền khi tham gia TTCK, NĐTCPCN sẽ có cơ sở pháp lý để chủ động thực hiện những quyền của mình cũng như được bảo vệ khi các quyền hợp pháp bị xâm hại Sự đảm bảo được thực hiện các quyền hợp pháp khi tham gia TTCK sẽ giúp các NĐTCPCN đã tham gia TTCK yên tâm tiếp tục hoạt động đồng thời thu hút thêm các NĐTCPCN mới Việc thu hút được NĐTCPCN tham gia TTCK sẽ đem lại nguồn vốn, sự sôi động và cơ hội phát triển cho TTCK, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

1.2 Pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán t ập trung

Ở nghĩa rộng, quyền được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận

ho ặc cho hưởng, được làm, được đòi hỏi” 22 Theo khoa học pháp lý, quyền là khả năng xử sự của chủ thể trong những điều kiện cụ thể được pháp luật quy định, chủ thể có thể lựa chọn hoặc không lựa chọn cách xử sự đó khi thực hiện quyền chủ thể của mình23 Pháp luật chứng khoán hiện hành chưa đưa ra khái niệm về quyền của NĐT hay quyền của NĐTCPCN nhưng nếu tiếp cận từ góc nhìn khoa học pháp lý thì

có thể định nghĩa “quyền của NĐTCPCN là quyền pháp lý, bao gồm những hành vi

mà NĐTCPCN được lựa chọn thực hiện trong khả năng của mình hoặc những điều

mà NĐTCPCN được hưởng mà không bị ngăn cản, xâm hại bởi bất kỳ hành vi nào

c ủa chủ thể khác” Qua quá trình nghiên cứu, tác giả cho rằng quyền của NĐTCPCN

có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, quyền của NĐTCPCN bao gồm các quyền chủ động và quyền thụ

động Quyền chủ động thể hiện ở việc NĐTCPCN trong phạm vi năng lực của mình

có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp mà pháp luật đã quy định, tức chuyển trạng thái của quyền từ “tĩnh” sang “động” Ví dụ, quyền tham gia thị trường của NĐTCPCN thể hiện cơ bản ở việc một cá nhân có năng lực hành vi dân sự lựa chọn mở tài khoản giao dịch chứng khoán để đầu tư cổ phiếu và trở thành NĐTCPCN Tuy nhiên, nếu như cá nhân đó không có nhu cầu tham gia đầu tư cổ phiếu trên TTCK thì không cần phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán để trở thành NĐTCPCN Quyền thụ động thể hiện qua việc NĐTCPCN không bị ngăn cản, không bị xâm hại bởi bất cứ một hành vi của chủ thể nào trong quá trình tham gia TTCK và đi kèm đó là trách nhiệm đảm bảo của nhà nước Xuất phát từ đặc tính cá nhân và tính chất của TTCK, không

phải trong mọi trường hợp NĐTCPCN đều được lựa chọn cách thức xử sự để thỏa

22 Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), tr.815

23 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2019), tlđd (14), tr.167

Trang 20

mãn nhu cầu của riêng họ Trong trường hợp phải tuân thủ pháp luật hay đảm bảo

hoạt động chung của TTCK, công ty niêm yết thì quyền của NĐTCPCN sẽ bị giới hạn hoặc thực hiện theo số đông Điều này thể hiện rõ nhất ở quyền được hưởng lợi của NĐTCPCN: công ty niêm yết mà NĐTCPCN sở hữu cổ phiếu chỉ được chia cổ tức khi đáp ứng các quy định pháp luật và phương án phân phối cổ tức cho các cổ đông sẽ được thực hiện theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông24

gia TTCK Khi quyền của NĐTCPCN được thực hiện thông qua quy định các chủ thể khác phải thực hiện nghĩa vụ mà không xác định đối tượng cụ thể của nghĩa vụ thì những cá nhân chưa phải là NĐTCPCN vẫn có thể tiếp cận “sản phẩm” của nghĩa

vụ đó nếu pháp luật không cấm Đơn cử là quyền được cung cấp thông tin của NĐTCPCN: những cá nhân chưa phải là NĐTCPCN vẫn có quyền được tiếp cận những thông tin mà các chủ thể có nghĩa vụ CBTT theo quy định pháp luật nhằm làm

cơ sở để đánh giá, quyết định xem có nên tham gia TTCK hay không

1.2.2 Nội dung quy định pháp luật về quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân

NĐTCPCN là một bộ phận của NĐT nên quyền của NĐTCPCN sẽ là một bộ phận trong quyền của NĐT Hiện nay, pháp luật chứng khoán chưa có điều luật cụ thể quy định quyền của NĐT nói chung và quyền của NĐTCPCN nói riêng Việc xác định quyền của NĐT được thực hiện thông qua việc tìm hiểu các nguyên tắc hoạt động về chứng khoán, TTCK và các nghĩa vụ mà các chủ thể khác phải thực hiện đối với NĐT Do đó, việc nghiên cứu các quyền của NĐTCPCN được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật về quyền của NĐT, cụ thể là các nguyên tắc hoạt động về chứng khoán, TTCK và các nghĩa vụ mà các chủ thể khác phải thực hiện đối với NĐT Trong nội dung khóa luận, tác giả sẽ chỉ đề cập đến 6 quyền của NĐTCPCN khi tham gia TTCK bao gồm: (i) Quyền được sở hữu tài sản; (ii) Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư; (iii) Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch; (iv) Quyền được cung cấp thông tin; (v) Quyền được bảo mật thông tin và (vi) Quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm pháp luật

Quyền sở hữu là một trong những quyền hợp pháp được ghi nhận tại văn bản

có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp25 Đảm bảo quyền được sở hữu tài sản là một trong những chính sách của hoạt động đầu tư kinh doanh nói chung26 Khi tham gia

24 Nội dung này sẽ được phân tích ở mục 1.2.2.2

25 Điều 32 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

26 Điều 5 Luật Đầu tư

Trang 21

đầu tư trên TTCK, NĐTCPCN sở hữu tài sản bao gồm cổ phiếu lưu ký và tiền gửi giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, cổ phiếu lưu ký và tiền gửi giao dịch chứng khoán của NĐTCPCN là một loại tài sản đặc biệt, NĐTCPCN không trực tiếp kiểm soát tài sản của mình mà thực hiện gián tiếp qua chế định trung gian là CTCK Vì thế pháp luật cần có sự điều chỉnh để xác định rõ quyền sở hữu đối với tài sản, phòng ngừa trường hợp tài sản bị chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật

Quyền sở hữu của NĐTCPCN được ghi nhận là một trong những nguyên tắc hoạt động về chứng khoán và TTCK27 LCK thừa nhận mặc dù chứng khoán và các tài sản khác của khách hàng do Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, thành viên của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam (trong đó bao gồm các CTCK) thực hiện quản lý nhưng đây không phải là tài sản của các chủ thể này mà là tài sản thuộc sở hữu của khách hàng28 TTCK hoạt động theo nguyên tắc trung gian, NĐTCPCN muốn tham gia đầu tư phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại CTCK, các giao dịch và hoạt động quản lý tài sản cũng được thực hiện gián tiếp thông qua CTCK Tuy nhiên, trong khối tài sản bao gồm tiền gửi và chứng khoán lưu ký được quản lý dưới danh nghĩa của CTCK không chỉ có tài sản của khách hàng này mà còn có tài sản của khách hàng khác và cả CTCK được thực hiện nghiệp vụ tự doanh Việc thừa nhận quyền sở hữu tài sản đối với NĐTCPCN khi tham gia TTCK đảm bảo NĐTCPCN có thể thực hiện những quyền chính đáng của mình, tránh trường hợp các chủ thể quản lý thực hiện các quyền sở hữu trái pháp luật đối với tài sản của

họ đồng thời khẳng định hoạt động quản lý tài sản nói trên thuộc về hoạt động nghiệp

vụ29, không phải là bằng chứng chứng minh quyền sở hữu

Việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của riêng từng NĐTCPCN trong khối tài sản mà CTCK thực hiện quản lý còn được quy định bằng yêu cầu phải quản lý tách bạch tài sản thuộc sở hữu của khách hàng (bao gồm cả chứng khoán và tiền gửi giao dịch chứng khoán) với tài sản của CTCK và với khách hàng khác30 đồng thời có nghĩa

vụ xác định rõ số dư tiền, chứng khoán lưu ký tại mọi thời điểm, đảm bảo các giao dịch trong phạm vi số dư tiền và chứng khoán lưu ký của khách hàng31 Bên cạnh đó,

vì cổ phiếu lưu ký và tiền gửi giao dịch chứng khoán là tài sản của NĐTCPCN nên

họ được quyền thực hiện những quyền của chủ sở hữu đối với tài sản như cầm cố tài sản, dùng làm tài sản đảm bảo, tặng cho tài sản, thừa kế tài sản,…

27 Khoản 1 Điều 5 LCK

28 Khoản 1 Điều 65 và Điều 88 LCK

29 Hoạt động quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán là hoạt động thuộc nghiệp vụ môi giới của CTCK theo điểm a, khoản 1 Điều 86 LCK

30 Khoản 3 Điều 89 LCK

31 Điều 17, Điều 18 Thông tư số 121/2020/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 31/12/2020 quy định về hoạt động của công ty chứng khoán (sau đây gọi tắt là Thông tư 121/2020/TT-BTC)

Trang 22

1.2.2.2 Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư

NĐT cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận32 Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư là quyền đặc thù của NĐTCPCN xuất phát từ đặc tính sinh lời của chứng khoán Đây là quyền phái sinh từ hoạt động đầu tư của NĐTCPCN, nếu NĐTCPCN không thực hiện hoạt động đầu tư thì sẽ không có quyền này Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của NĐTCPCN bao gồm các nội dung sau:

cổ phiếu là hoạt động diễn ra thường xuyên trên TTCK Đa số các NĐTCPCN mua vào cổ phiếu và kỳ vọng giá thị trường của chúng tăng lên sau đó bán ra nhằm kiếm lời Do đó, nếu hoạt động mua bán cổ phiếu của NĐTCPCN không phải là hành vi vi phạm pháp luật thì khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán cổ phiếu là khoản lợi

mà NĐTCPCN đương nhiên được hưởng sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính Trong trường hợp NĐTCPCN bán cổ phiếu với mức giá thấp hơn so với giá mua vào thì thuộc về nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro khi tham gia thị trường mà không

vi phạm nguyên tắc của quyền được hưởng chênh lệch Quyền được hưởng chênh lệch trong hoạt động mua bán cổ phiếu là một quyền chủ động của cả NĐTCPCN và NĐTCPTC

Thứ hai, quyền được hưởng lãi suất từ khoản tiền gửi giao dịch chứng khoán

trong tài khoản giao dịch Tài sản mà NĐTCPCN sở hữu ngoài cổ phiếu lưu ký còn

có tiền gửi giao dịch chứng khoán Khi NĐTCPCN chưa có kế hoạch sử dụng, khoản tiền này có thể được quản lý dưới tên của NĐTCPCN tại ngân hàng thương mại do CTCK lựa chọn hoặc bằng tài khoản chuyên dụng tại ngân hàng thương mại dưới tên của CTCK33 Về bản chất, tiền gửi giao dịch chứng khoán là tài sản của NĐTCPCN34

và ngân hàng thương mại là chủ thể đang thực hiện hoạt động nghiệp vụ nhận tiền gửi Do đó, NĐTCPCN được quyền hưởng lãi suất từ tiền gửi giao dịch chứng khoán theo nguyên tắc của hoạt động nhận tiền gửi35 Tuy nhiên, lãi suất từ khoản tiền gửi giao dịch chứng khoán mà từng NĐTCPCN được hưởng có thể khác nhau phụ thuộc vào điều khoản hợp đồng giữa NĐTCPCN và ngân hàng thương mại hoặc giữa NĐTCPCN và CTCK Đây là một quyền bị động của cả NĐTCPCN và NĐTCPTC

Thứ ba, quyền được hưởng cổ tức Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả

32 Học viện tài chính (2009), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, tr.22

33 Khoản 4 Điều 17 Thông tư 121/2020/TT-BTC

34 Đây là tài sản của NĐTCPCN như đã phân tích tại mục 1.2.2.1

35 Nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Trang 23

cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác36 Nhận cổ tức là quyền của cổ đông trong công ty cổ phần37 nên cũng là quyền của NĐTCPCN Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp NĐTCPCN nắm giữ cổ phiếu đều được chi trả cổ tức mà việc chi trả cổ tức phụ thuộc vào tình hình hoạt động của công ty Cụ thể, cổ tức được chi trả cho cổ phiếu phổ thông căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty và chỉ được tiến hành chi trả khi doanh nghiệp đáp ứng đủ 3 điều kiện sau: (i) Đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; (ii) Đã trích lập các quỹ công

ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; (iii) Ngay sau khi trả hết số cổ tức, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác đến hạn38 Mức cổ tức hằng năm được chi trả sẽ do Đại hội đồng cổ đông của công ty niêm yết quyết định39

Thứ tư, quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu trong công

ty Do cổ đông của công ty cổ phần có quyền được ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu trong công ty40 nên NĐTCPCN cũng có quyền này khi họ sở hữu cổ phiếu của công ty niêm yết Khi công ty niêm yết chào bán thêm chứng khoán

ra công chúng dưới phương thức phát hành quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu thì NĐTCPCN sẽ được quyền mua thêm một lượng cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu mà mình đang sở hữu trong công ty Thông thường cổ phiếu được phát hành thêm cho NĐTCPCN hiện hữu sẽ có giá thấp hơn so với thị giá, do đó NĐTCPCN có thể hưởng chênh lệch sau khi bán cổ phiếu ra thị trường Tuy nhiên, NĐTCPCN không bị ràng buộc phải mua toàn bộ số cổ phiếu mới phát hành tương ứng với tỷ lệ

sở hữu để tiếp tục duy trì tỷ lệ sở hữu như cũ mà có thể lựa chọn mua toàn bộ, mua một phần hoặc không mua số cổ phiếu phát hành thêm này

Công ty niêm yết có số lượng NĐTCPCN tương đối lớn nên sẽ có những trường hợp ý kiến về vấn đề phân chia cổ tức hoặc phương thức thực hiện hoạt động chào bán thêm cổ phần giữa các NĐTCPCN là khác nhau Khi đó, quyền được hưởng

cổ tức hay quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu trong công ty

sẽ được quyết định bởi Đại hội đồng cổ đông mà không phải tùy theo từng nhu cầu của NĐTCPCN Quyền của NĐTCPCN trong trường hợp này đóng vai trò là quyền

bị động, chỉ có ý nghĩa đảm bảo hoạt động hưởng lợi này của NĐTCPCN được diễn

ra mà không bị cản trở, xâm hại một cách bất hợp pháp bởi bất kỳ chủ thể nào Ngược

36 Khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022

37 Đây là quyền của cổ đông sở hữu mọi loại cổ phần, quy định tại Điều 115, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022

38 Khoản 2 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022

39 Điểm b, khoản 2 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022

40 Điều 115, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022

Trang 24

lại, do có có lợi thế về tài chính và có thể nắm giữ cổ phiếu của công ty niêm yết trong một khoảng thời gian dài nên nhóm NĐTCPTC có sự chi phối nhất định đối với các quyết định của Đại hội đồng cổ đông, bao gồm vấn đề phân phối cổ tức, phương thức phát hành quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu khi chào bán thêm

cổ phần có được lựa chọn hay không Điều này dẫn đến quyền được hưởng cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu trong công ty đối với NĐTCPTC thường có xu hướng là quyền chủ động hơn khi so sánh với NĐTCPCN

1.2.2.3 Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch

Xuất phát từ quy định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những

ngành ngh ề mà pháp luật không cấm” tại Hiến pháp41, quyền được tham gia thị trường là một phần của quyền tự do kinh doanh và được thừa nhận khi một cá nhân tham gia đầu tư trên TTCK Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch của NĐTCPCN được LCK quy định là một trong những nguyên tắc hoạt động về chứng khoán và TTCK42 Bên cạnh đó, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để NĐTCPCN nói riêng và NĐT nói chung tham gia TTCK là một trong những chính sách của Nhà nước về phát triển TTCK43 Tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch là quyền cơ bản của NĐTCPCN vì đây là cơ sở xác định một cá nhân là NĐTCPCN đồng thời phát sinh đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch của NĐTCPCN thể hiện qua những nội dung sau:

dịch chứng khoán Hoạt động đầu tư trên TTCK có thể đem lại cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nên cá nhân có thể lựa chọn tham gia hoặc không tham gia đầu

tư trên TTCK Pháp luật quy định các giao dịch trên TTCK được thực hiện thông qua

tổ chức trung gian là CTCK nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và hợp pháp, tránh sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch44 Do đó, một cá nhân muốn tham gia đầu tư trên TTCK phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại CTCK là thành viên giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Việt Nam45 và việc lựa chọn CTCK nào để mở tài khoản giao dịch là quyền của cá nhân đó Mặc dù pháp luật chứng khoán không có quy định cụ thể nhưng hợp đồng

mở tài khoản giao dịch chứng khoán giữa CTCK và NĐTCPCN là hợp đồng dân sự,

41 Điều 33 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

42 Khoản 1 Điều 5 LCK

43 Khoản 1 Điều 6 LCK

44 Học viện tài chính, tlđd (32), tr.20

45 Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng

ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán (Sau đây gọi tắt là Thông tư 120/2020/TT-BTC)

Trang 25

nên để hợp đồng có hiệu lực cần phải đảm bảo NĐTCPCN là chủ thể có năng lực hành vi dân sự phù hợp Tuy nhiên điều kiện này lại không đặt ra đối với NĐTCPTC bởi quyền này được hiển nhiên công nhận cùng với tư cách pháp nhân của nhóm NĐT này Hoạt động mở tài khoản giao dịch chứng khoán của NĐTCPCN phải đảm bảo các quy định sau:

(i) NĐTCPCN chỉ có một tài khoản giao dịch chứng khoán tại mỗi CTCK46

So với NĐTCPCN, một số NĐTCPTC có thể có nhiều hơn một tài khoản giao dịch chứng khoán tại mỗi CTCK nhằm phục vụ cho hoạt động của mình47;

(ii) CTCK phải làm thủ tục mở tài khoản giao dịch cho từng khách hàng trên

cơ sở hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán Hợp đồng mở tài khoản phải đáp ứng các quy định hiện hành và có các nội dung tối thiểu theo mẫu quy định tại Phụ lục III của Thông tư 121/2020/TT-BTC48;

(iii) Hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán không được chứa đựng

những thoả thuận bao gồm: thoả thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý CTCK mà không có lý do chính đáng; thoả thuận hạn chế phạm vi bồi thường của CTCK mà không có lý do chính đáng hoặc chuyển rủi ro từ CTCK sang khách hàng; thoả thuận buộc khách hàng thực hiện nghĩa vụ bồi thường một cách không công bằng; các thỏa thuận gây bất lợi một cách không công bằng cho khách hàng49

Thứ hai, NĐTCPCN có quyền quyết định danh mục đầu tư chứng khoán của

mình Danh mục đầu tư (portfolio) hay cơ cấu đầu tư là tập hợp các chứng khoán tài chính mà một NĐT hay định chế đầu tư nắm giữ50, danh mục đầu tư chứng khoán có thể hiểu đơn giản là tập hợp các cổ phiếu mà NĐT nắm giữ Quyền được quyết định danh mục đầu tư chứng khoán của NĐTCPCN là sự cụ thể hóa quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh của tổ chức, cá nhân được ghi nhận trong nguyên tắc hoạt động

về chứng khoán và TTCK51 Không có một quy định nào của pháp luật hiện hành mang tính chất cấm NĐTCPCN sở hữu cổ phiếu của một công ty niêm yết hoặc yêu cầu số vốn tối thiểu mà NĐTCPCN cần phải có khi tham gia đầu tư trên TTCK nên quyền quyết định danh mục đầu tư thể hiện ở việc lựa chọn cổ phiếu nào để đầu tư, đầu tư với số vốn bao nhiêu, thời điểm nào tiến hành hoạt động mua vào hoặc bán cổ phiếu ra phụ thuộc vào quyết định của NĐTCPCN

Mặc dù NĐTCPCN không bị cấm sở hữu cổ phiếu của một công ty niêm yết

46 Khoản 2 Điều 6 Thông tư 120/2020/TT-BTC

47 Điều 6 Thông tư 120/2020/TT-BTC

48 Khoản 1 Điều 15 Thông tư 120/2020/TT-BTC

49 Khoản 3 Điều 15 Thông tư 120/2020/TT-BTC

50 Nguyễn Văn Ngọc (2006), Từ điển kinh tế học, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.442

51 Khoản 1 Điều 5 LCK

Trang 26

theo pháp luật hiện hành, nhưng họ có thể bị hạn chế mua bán cổ phiếu trong trường

hợp nắm giữa cổ phiếu chào bán riêng lẻ của công ty niêm yết Chỉ các NĐT chiến lược và NĐT chứng khoán chuyên nghiệp được tham gia hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty niêm yết và thời gian chuyển nhượng của loại cổ phiếu này bị hạn chế theo điểm c khoản 1 Điều 31 LCK Hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty niêm yết không được thực hiện qua phương tiện thông tin đại chúng dẫn đến khó khăn cho NĐTCPCN thông thường trong việc tiếp cận thông tin liên quan đến đợt chào bán, vốn là cở sở quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư Việc xác định đối tượng chào bán cụ thể sẽ giúp công ty niêm yết giảm bớt chi phí khi thực hiện hoạt động chào bán, nhóm NĐT được chào bán có khả năng đáp ứng quy định thời gian chuyển nhượng cũng như nhận thức được phần nào rủi ro trước khi thực hiện hoạt động đầu tư Từ đó có thể nhận thấy, quy định hạn chế NĐTCPCN không chuyên nghiệp trong hoạt động mua cổ phiếu chào bán riêng lẻ của công ty niêm yết hướng đến mục đích giúp họ tránh những khoản đầu tư rủi ro hơn là hạn chế quyền mua bán cổ phiếu của họ Luật Chứng khoán năm 1933 của Hoa Kỳ52 cũng có một quy định tương tự trong việc hạn chế những NĐT không phải là NĐT đủ điều kiện53 trong hoạt động mua bán cổ phiếu niêm yết Tuy nhiên, Ủy ban giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (Securities and Exchange Commission – SEC) giải thích sự hạn chế này là một trong những phương thức để bảo vệ NĐT mà không phải là một

sự hạn chế hay ngăn cản NĐT tiếp cận với các khoản đầu tư54

So với NĐTCPCN thì một số NĐTCPTC chịu hạn chế rõ rệt trong việc quyết định danh mục đầu tư của mình Sự hạn chế này thể hiện ở lĩnh vực được phép đầu

tư và tỷ lệ tài sản được dùng để đầu tư Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 91 LCK, NĐTCPTC là CTCK không được góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp của bất kỳ CTCK nào khác tại Việt Nam Đối với NĐTCPTC là công ty quản lý

52 Securities Act of 1933

53 Nguyên văn “Accredited Investor”, được đề cập tại Rule 501(a) of Regulation D under the Securities Act of

1933 (17 CFR 250.501(a)) bao gồm: (i) Nhà môi giới hoặc đại lý theo Luật Giao dịch chứng khoán 1934; (ii)

Cố vấn đầu tư theo Luật Đầu tư 1940; (iii) Các giám đốc, giám đốc điều hành hoặc đối tác chung của tổ chức phát hành chứng khoán được chào bán hoặc bán; hoặc các giám đốc, giám đốc điều hành hoặc đối tác chung của đối tác chung của tổ chức phát hành đó; (iv) Người có tài sản trị giá thực từ 1 triệu đô trở lên nếu độc thân hoặc người mà với vợ hoặc chồng của họ có tổng tài sản trị giá thực từ 1 triệu đô trở lên, không bao gồm giá trị nơi cư trú chính của người đó; (v) Người có thu nhập mỗi năm từ 200,000 đô la trở lên trong hai năm liên tiếp vừa qua nếu người đó độc thân hoặc người mà với vợ hay chồng của họ có tổng thu nhập mỗi năm từ 300,000 đô la trở lên trong hai năm liên tiếp và có cơ sở hợp lý để duy trì mức thu nhập đó trong năm hiện tại; (vi) Người có bằng cấp chuyên môn, chức danh chuyên môn hoặc chứng chỉ khác được công nhận bởi Ủy ban giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ; (vii) Nhân viên am hiểu theo quy định của Luật Công ty đầu tư 1940 (đã được sửa đổi) của một công ty đầu tư mà công ty đó chào bán hoặc bán chứng khoán Tham khảo bản tiếng anh tại

230.501 , truy cập ngày 20/3/2023

https://www.ecfr.gov/current/title-17/chapter-II/part-230/subject-group-ECFR6e651a4c86c0174/section-54 Securities and Exchange Commission, “Accredited Investor Definition”,

https://www.federalregister.gov/documents/2020/10/09/2020-19189/accredited-investor-definition , truy cập ngày 20/3/2023

Trang 27

quỹ đầu tư chứng khoán thì không được góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp của 01 công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán khác tại Việt Nam trừ trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 91 LCK.Bên cạnh đó, NĐTCPTC bao gồm công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư đại chúng còn bị giới hạn tỷ lệ tổng giá trị tài sản khi đầu tư vào một số lĩnh vực đặc thù55.

Thứ ba, quyền được đặt lệnh giao dịch trong hệ thống, đảm bảo các lệnh được

truyền vào hệ thống một cách chính xác, công bằng và minh bạch NĐTCPCN muốn tiến hành mua bán cổ phiếu phải thực hiện hoạt động đặt lệnh giao dịch Đặt lệnh giao dịch là hoạt động truyền tải ý chí của NĐTCPCN đến TTCK thông qua trung gian là CTCK Việc đặt lệnh giao dịch ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội đầu tư của NĐTCPCN

vì giá chứng khoán luôn có sự thay đổi liên tục Mặt khác, việc đặt lệnh giao dịch của NĐTCPCN sẽ không có ý nghĩa nếu lệnh không được đưa vào hệ thống hoặc lệnh được truyền đi không đúng so với lệnh mà NĐTCPCN đã đặt Do đó, NĐTCPCN có quyền đặt lệnh giao dịch vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian giao dịch và lệnh được đặt phải đảm bảo tính chính xác, công bằng, phù hợp với nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của TTCK Tùy theo thỏa thuận giữa NĐTCPCN và CTCK mà NĐTCPCN có thể đặt lệnh bằng phiếu lệnh trực tiếp tại quầy giao dịch hoặc CTCK tiến hành nhận lệnh từ xa qua điện thoại, fax, internet và các đường truyền khác56 Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ cho CTCK để đảm bảo quyền được đặt lệnh của NĐTCPCN được thực hiện bao gồm:

(i) CTCK phải thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác lệnh giao dịch của khách hàng57;

(ii) Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang bị, thiết bị văn phòng, hệ thống công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh doanh chứng khoán58;

(iii) CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh của CTCK59 Quy định này hạn chế một phần quyền được giao dịch của NĐTCPTC

là CTCK có thực hiện hoạt động tự doanh so với NĐTCPCN là khách hàng của chính CTCK đó

Hoạt động đầu tư trên TTCK đem lại cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro, một khoản đầu tư có thể mang lại lợi nhuận nhưng cũng có thể dẫn đến thua lỗ cho

55 Khoản 1 Điều 110 và điểm a khoản 2 Điều 115 LCK

56 Khoản 1 Điều 16 Thông tư 121/2020/TT-BTC

57 Khoản 5 Điều 16 Thông tư 121/2020/TT-BTC

58 Khoản 4 Điều 74 LCK

59 Khoản 5 Điều 89 LCK

Trang 28

NĐTCPCN Cổ phiếu là một loại tài sản mơ hồ, NĐTCPCN dùng tài sản thật là tiền

để đổi lấy một loại “hàng hóa” trừu tượng Chính đặc điểm trừu tượng và rủi ro của

cổ phiếu là cơ sở để NĐTCPCN có quyền được biết những thông tin liên quan đến

cổ phiếu, công ty niêm yết và tình hình của TTCK để kịp thời nắm bắt và đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp Quyền tiếp cận thông tin của NĐTCPCN phải đáp ứng nguyên tắc thông tin được tiếp cận là đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật60 Bên cạnh đó, NĐTCPCN chịu tình trạng bất cân xứng trong hệ thống tiếp nhận thông tin và thuộc về bên yếu thế hơn khi tham gia TTCK61 nên quyền được tiếp cận thông tin của họ cũng phải đảm bảo nguyên tắc cân xứng và dễ tiếp cận Cụ thể:

của NĐTCPCN nghĩa là NĐTCPCN được tiếp cận với mọi thông tin liên quan đến

cổ phiếu, công ty niêm yết, TTCK và các thông tin khác có liên quan đến hoạt động đầu tư trên TTCK, trừ các thông tin được phép giữ bí mật theo quy định pháp luật Thông tin đầy đủ còn là thông tin cả về quá khứ, về hiện tại và các kế hoạch phát triển trong tương lai62 Mặt khác, quyền được tiếp cận thông tin của NĐTCPCN được thực hiện thông qua nghĩa vụ CBTT của các chủ thể khác, tức NĐTCPCN không thể tự tạo ra thông tin mà mình cần để tự tiếp cận mà phải dựa vào các chủ thể thực hiện nghĩa vụ CBTT Do đó, việc NĐTCPCN được tiếp cận những thông tin từ các chủ thể tham gia hoặc có hoạt động liên quan đến TTCK là cần thiết để đảm bảo nguyên tắc thông tin phải đầy đủ được thực hiện Hiện nay, các chủ thể có nghĩa vụ CBTT bao gồm: (i) CQNN63; (ii) Tổ chức cung ứng dịch vụ thị trường bao gồm các SGDCK, Trung tâm lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; (iii) Tổ chức trung gian là các CTCK, chi nhánh CTCK; (iv) Công ty niêm yết; (v) Cổ đông lớn, nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; (vii) Người nội bộ của công ty đại chúng và người có liên quả của người nội bộ Bên cạnh đó, NĐTCPCN không bị hạn chế khi tiếp cận thông tin là những phân tích, đánh giá, báo cáo hay nghiên cứu từ các chuyên gia, tác giả hoặc các chủ thể khác

thông tin ghi nhận sự kiện khách quan, không bị bóp méo hoặc xuyên tạc Những thông tin không chính xác thường là nguyên nhân cho những quyết định sai lầm, gây

60 Khoản 1 Điều 119 LCK và khoản 1 Điều 4 Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (sau đây gọi tắt là Thông tư 96/2020/TT-BTC)

61 Tình trạng bất cân xứng thông tin đã được đề cập đến tại phần 1.1.4 của khóa luận

62 Vũ Thị Huyền Ngọc (2014), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị

trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc

gia Hà Nội, tr 24

63 CQNN là chủ thể tất nhiên phải tiến hành công bố các chính sách pháp luật, các văn bản có hiệu lực pháp lý

có ý nghĩa trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK nên cũng được xem là một trong những chủ thể có nghĩa vụ CBTT mà NĐTCPCN có quyền tiếp cận trong quá trình đầu tư trên TTCK

Trang 29

thiệt hại đến tài sản của NĐTCPCN Hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp tạo dựng thông tin sai sự thật, CBTT sai lệch, che giấu thông tin hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ về chứng khoán là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động của TTCK64 Hành vi này bị nghiêm cấm nhằm xây dựng TTCK công bằng, công khai và minh bạch Để đảm bảo nguyên tắc chính xác trong hoạt động CBTT, pháp luật thiết lập cơ chế chịu trách nhiệm cho chủ thể thực

hiện hoạt động này đối với thông tin đã công bố của mình Nếu có sự thay đổi về nội dung của thông tin đã được công bố, chủ thể thực hiện CBTT phải có trách nhiệm công bố kịp thời, đầy đủ về những nội dung thay đổi cùng với lý do thay đổi so với thông tin đã được công bố trước đó65

Thứ ba, thông tin phải kịp thời và cân xứng Như đã phân tích, TTCK tồn tại

tình trạng bất cân xứng trong hệ thống tiếp nhận thông tin mà phần đông NĐTCPCN

là bên yếu thế hơn trong hệ thống đó Tình trạng này đặt ra yêu cầu xây dựng các quy định pháp luật để việc tiếp cận thông tin giữa NĐTCPCN với các chủ thể khác trên TTCK và giữa những NĐTCPCN với nhau có sự cân xứng TTCK là thị trường của thông tin66, NĐTCPCN cần được tiếp cận thông tin một cách kịp thời để có thể “bắt nhịp” với tình hình thị trường và thực hiện các quyết định đầu tư Việc NĐTCPCN được tiếp cận thông tin một cách kịp thời và cân xứng nhằm đảm bảo cạnh tranh giữa các chủ thể trên TTCK được công bằng và lành mạnh Các quy định pháp luật để đảm bảo tiêu chí kịp thời và cân xứng trong quyền được tiếp cận thông tin của NĐTCPCN bao gồm: (i) Cấm các hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán67; (ii) Yêu cầu về thời gian phải CBTT của những chủ thể có nghĩa vụ; (iii) Khi xảy ra

sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của NĐT hoặc có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin

đó thì các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ CBTT theo yêu cầu68

64 Khoản 1 Điều 12 LCK

65 Khoản 2 Điều 119 LCK

66 Lê Thị Thu Thủy (2006), “Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư theo Luật chứng khoán”, Tạp chí Khoa học Đại học

Quốc gia Hà Nội, số 04/2006, tr 34

67 Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán là hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định

số 156/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-

CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

156/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Sau đây gọi tắt là Nghị định 156/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP) Hành vi này còn được biết đến với tên gọi “giao dịch nội gián” và bị cấm theo khoản

2 Điều 12 LCK

68 Được quy định tại Điều 12 Thông tư 96/2020/TT-BTC

Trang 30

đáp ứng được tiêu chí chính xác, đẩy đủ, cân xứng và kịp thời nhưng nếu NĐTCPCN

gặp khó khăn hoặc không thể tiếp cận các thông tin này thì sẽ mất đi ý nghĩa của hoạt động CBTT Việc tiếp cận thông tin một cách dễ dàng trong quyền được tiếp cận thông tin thể hiện ở việc NĐTCPCN không bị cản trở bởi phương tiện, cách thức khi tìm kiếm các thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư trên TTCK Hiện nay, các quy định để đảm bảo nguyên tắc dễ tiếp cận thông tin bao gồm:

(i) Ngôn ngữ phải đảm bảo tính truyền đạt của thông tin và tính có thể tiếp nhận của NĐTCPCN Ngôn ngữ được sử dụng để CBTT hiện nay là tiếng Việt Riêng đối với các SGDCK và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán phải CBTT bằng tiếng Việt và tiếng Anh69

(ii) Phương tiện công bố phải đảm bảo tính đại chúng và đa dạng Hệ thống các phương tiện báo cáo, CBTT hiện nay được quy định bao gồm: (a) Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượng CBTT; (b) Hệ thống CBTT của UBCKNN; (c) Trang thông tin điện tử của SDGCK, phương tiện CBTT khác theo Quy chế của SGDCK; (d) Trang thông tin điện tử của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam và (e) các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo in, báo điện tử, )70

Việc thực hiện nghĩa vụ CBTT của các chủ thể tham gia TTCK không chỉ quan trọng đối với NĐTCPCN trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin mà còn là cơ

sở để các cá nhân và tổ chức khác tìm hiểu, đánh giá và đưa ra quyết định tham gia đầu tư trên TTCK

Bắt nguồn từ việc thừa nhận tính bảo mật của thông tin cá nhân được quy định trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp71, bảo mật thông tin là một trong những quyền chính đáng của NĐTCPCN khi tham gia hoạt động trên TTCK Mục đích của bảo mật thông tin không chỉ là giữ cho thông tin được an toàn mà còn

bảo vệ NĐTCPCN và tài sản của họ an toàn, ngăn chặn các trường hợp sử dụng thông tin trái pháp luật để trục lợi hoặc xâm hại quyền lợi của các chủ thể khác Quyền bảo mật thông tin của NĐTCPCN bao gồm những nội dung sau:

sở hữu tài sản là tiền gửi và cổ phiếu đồng thời thực hiện các giao dịch liên quan đến các tài sản này nên nội dung thông tin mà NĐTCPCN được bảo mật phải bao gồm:

69 Điều 5 Thông tư 96/2020/TT-BTC

70 Khoản 1 Điều 7 Thông tư 96/2020/TT-BTC

71 Điều 21 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

Trang 31

(i) Thông tin cá nhân của NĐTCPCN Bao gồm các thông tin về họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu, mật mã dân sự, thông tin nhận dạng hoặc các thông tin khác về nhân thân của NĐTCPCN;

(ii) Thông tin về các giao dịch trên tài khoản của NĐTCPCN Tập hợp dữ liệu này có liên quan đến các giao dịch về cổ phiếu và tiền của NĐTCPCN, bao gồm cả

những lệnh giao dịch đã hoàn thành hay lệnh giao dịch chưa hoàn thành cũng như những giao dịch đã thực hiện trong quá khứ, giao dịch đang thực hiện và giao dịch

dự tính được thực hiện trong tương lai;

(iii) Thông tin về tài sản thuộc sở hữu của NĐTCPCN Bao gồm các dữ liệu

về chứng khoán lưu ký, tiền gửi trong tài khoản giao dịch chứng khoán, các quyền về tài sản khác mà NĐTCPCN được phép thực hiện

hiện hành không có điều khoản chung thừa nhận quyền được bảo mật thông tin của NĐTCPCN mà quyền này được quy định gián tiếp thông qua nghĩa vụ bảo mật thông tin của các chủ thể khác Hiện nay, các chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin bao gồm: (i) UBCKNN và cán bộ, công chức, viên chức của UBCKNN72; (ii) Tổ chức kiểm toán73; (iii) SGDCK Việt Nam và cán bộ, nhân viên, người lao động của SGDCK Việt Nam74; (iv) Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam75; (v) CTCK76; (vi) Những chủ thể bằng vị trí, chức vụ, quyền hạn hoặc bằng khả năng của mình mà có được thông tin của NĐTCPCN

trong một giai đoạn rồi được công khai và sử dụng như một nguồn tài nguyên hoặc tài sản có giá trị thì tính an toàn của hoạt động bảo mật thông tin sẽ không được đạt được Vì vậy, để đảm bảo tính bảo mật của thông tin, thông tin phải được bảo mật từ khi NĐTCPCN tham gia TTCK cho đến khi các thông tin đó được hủy hoặc xóa bỏ

Tuy nhiên, quyền được bảo mật thông tin của NĐTCPCN không phải là quyền tuyệt đối mà các chủ thể khác vẫn có thể tiếp cận một cách hợp pháp trong các trường hợp sau: (i) Khi được NĐTCPCN đồng ý; (ii) Khi phải thực hiện nghĩa vụ CBTT; (iii) Theo yêu cầu của CQNN có thẩm quyền

1.2.2.6 Quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm pháp luật

Trang 32

Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hại cho xã hội, trái pháp luật, có lỗi, do chủ

thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được Nhà nước xác lập và bảo vệ77 Khi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK sẽ xâm hại đến các quyền chính đáng của các chủ thể khác

và gây ra sự bất ổn trong hoạt động chung của TTCK Vì vậy, NĐTCPCN có quyền được bảo vệ trước các hành vi này để đảm bảo quyền của họ được thực hiện và góp phần xây dựng TTCK an toàn, lành mạnh Quyền được bảo vệ trước các hành vi vi

phạm pháp luật được hiểu là việc các chủ thể liên quan phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật, chấm dứt hành vi cản trở, xâm hại đến các quyền của NĐTCPCN theo yêu cầu của NĐTCPCN hoặc các CQNN có thẩm quyền Khi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK, quyền được bảo vệ trước các hành vi này của NĐTCPCN

có thể được thực hiện dưới hai góc độ sau:

NĐTCPCN chủ động trong việc bảo vệ mình khi quyền hợp pháp bị xâm hại

Biểu hiện cho tính chủ động thể hiện ở việc NĐTCPCN có thể thực hiện các biện pháp tự bảo vệ mình hoặc chủ động yêu cầu các CQNN có thẩm quyền ngăn chặn hành vi xâm hại, khôi phục quyền hợp pháp của họ; nếu không có yêu cầu từ phía NĐTCPCN thì các hành vi vi phạm pháp luật có thể vẫn tiếp diễn hoặc không bị xử

lý Quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu các CQNN có thẩm quyền can thiệp khi quyền hợp pháp của mình bị xâm hại đã được thừa nhận tại Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 Trong lĩnh vực chứng khoán, NĐTCPCN có thể chủ động thực hiện các biện pháp sau để bảo vệ mình khi quyền hợp pháp bị xâm hại:

(i) Yêu cầu các chủ thể liên quan thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật, chấm dứt hành vi cản trở, xâm hại đến các quyền của NĐTCPCN Đây là biện pháp

cơ bản và chủ động nhất mà NĐTCPCN có thể thực hiện Dựa vào khả năng của mình, NĐTCPCN có thể phát hiện và yêu cầu các chủ thể liên quan thực hiện đúng hoặc chấm dứt hành vi cản trở, xâm hại đến các quyền chính đáng của mình NĐTCPCN

có thể thực hiện yêu cầu bằng nhiều hình thức khác nhau như lời nói, văn bản hay hành động Tuy nhiên, nội dung và hình thức thể hiện của yêu cầu không được trái với quy định pháp luật

(ii) Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện Trong trường hợp NĐTCPCN không muốn tự mình yêu cầu hoặc không đạt được kết quả mong muốn khi yêu cầu các chủ thể liên quan thực hiện nghĩa vụ, chấm dứt hành vi cản trở, xâm hại đến các quyền của mình thì NĐTCPCN có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện LCK đã bỏ đi điều luật quy định về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với lĩnh vực chứng

77 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tlđd (14), tr 227

Trang 33

khoán so với Luật chứng khoán 2006 nhưng quyền này vẫn được ghi nhận tại Luật Khiếu nại78, Luật Tố cáo79 và pháp luật tố tụng Khi có yêu cầu của NĐTCPCN, các

cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành hoạt động nghiệp vụ nhằm đưa ra kết luận và giải quyết yêu cầu mà NĐTCPCN đã đề ra So với NĐTCPCN thì NĐTCPTC không được thực hiện quyền tố cáo bởi hoạt động tố cáo chỉ áp dụng cho chủ thể là cá nhân

(iii) Yêu cầu bồi thường thiệt hại Bồi thường thiệt hại là vấn đề được thừa

nhận và quy định trong LCK Bồi thường thiệt hại có thể xảy ra trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng LCK quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xảy ra khi đáp ứng đủ ba điều kiện: (a) Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và TTCK; (b) Có thiệt hại xảy ra; (c) Có mối quan hệ giữa hành vi và thiệt hại xảy ra

Khi CQNN có th ẩm quyền chủ động trong việc bảo vệ NĐTCPCN trước các hành vi vi ph ạm pháp luật Trong trường hợp này, các CQNN bằng chức năng, nhiệm

vụ của mình phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trên TTCK và tiến hành xử lý các hành vi đó; sự can thiệp của NĐTCPCN bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK không có tính chất quyết định trong việc phát hiện và xử

lý các hành vi vi phạm pháp luật đó Nguyên nhân khiến NĐTCPCN không chủ động trong việc bảo vệ quyền hợp pháp của mình trước các hành vi xâm hại có thể do họ không phát hiện được quyền của mình bị xâm hại hoặc đã phát hiện nhưng thiếu năng lực hay kiến thức để thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền hợp pháp của mình CQNN

chủ động trong việc bảo vệ NĐTCPCN trước các hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK bằng việc thực hiện các hoạt động sau:

(i) Thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát là những hoạt động thường xuyên được quy định trong LCK với mục đích phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra và đảm bảo các quy định của pháp luật chứng khoán được thực hiện chính xác Nhóm hoạt động này được thực hiện định kỳ hoặc khi có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức

(ii) Thực hiện hoạt động xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Khi CQNN thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực chứng khoán và phát hiện hành vi vi phạm, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi này mà chủ thể thực hiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Mục đích của hoạt động này là đưa các hành vi vi phạm về lại khuôn khổ pháp luật ban đầu, đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của TTCK

78 Luật Khiếu nại 2011, sửa đổi, bổ sung năm 2013

79 Luật Tố cáo 2018, sửa đổi, bổ sung năm 2020

Trang 34

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

NĐTCPCN là một bộ phận của NĐT và có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của TTCK Tuy nhiên, NĐTCPCN có những đặc điểm riêng biệt so với các NĐT khác như tham gia đầu tư trên TTCK vì mục đích thu lợi nhuận và quyền quản trị công ty, chiếm số lượng đông đảo hơn so với các NĐT khác tham gia TTCK

và có xu hướng ngày càng gia tăng nhưng đa số họ có nguồn vốn hạn chế và thiếu kiến thức chuyên môn

Để giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao dịch của các NĐTCPCN, đảm bảo vị thế của họ so với các chủ thể khác đồng thời thu hút thêm NĐT tham gia hoạt động trên thị trường, cần có các quy định về quyền của NĐTCPCN khi họ tham gia hoạt động trên TTCK Những quy định này cũng góp phần tạo điều kiện phát triển cho TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung

Trong quá trình tham gia TTCK, NĐTCPCN có các quyền cơ bản gồm quyền được sở hữu tài sản, quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư, quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch, quyền được cung cấp thông tin, quyền được bảo mật thông tin và quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm pháp luật Những quyền này không chỉ được thừa nhận đối với NĐTCPCN mà còn đối với NĐTCPTC Tuy nhiên do chủ thể thực hiện quyền là không giống nhau nên trong quá trình thực hiện sẽ có sự khác biệt nhất định về phạm vi, điều kiện thực hiện quyền, tính chất quyền là chủ động hay bị động giữa NĐTCPCN và NĐTCPTC

Trang 35

CHƯƠNG 2

TH ỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

CÁ NHÂN TRÊN TH Ị TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

VÀ M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Th ực trạng thực hiện các quyền của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên thị trường chứng khoán tập trung

2.1.1 Quyền được sở hữu tài sản

Để đảm bảo quyền sở hữu của NĐTCPCN, pháp luật đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản của họ và có các quy định đảm bảo quản lý tách biệt tài sản của từng NĐTCPCN, của NĐTCPCN với CTCK Tuy nhiên, CTCK nơi NĐTCPCN mở tài khoản giao dịch có thể thực hiện hành vi lạm dụng tiền gửi của khách hàng dẫn đến xâm hại quyền sở hữu tài sản của NĐTCPCN Hành vi lạm dụng tiền gửi của khách hàng do CTCK thực hiện có thể diễn ra dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp

Dưới hình thức trực tiếp lạm dụng tiền gửi của khách hàng, CTCK thường có những hành vi nhằm ngăn cản NĐTCPCN thực hiện quyền sử dụng, định đoạt đối với số tiền gửi trong tài khoản chứng khoán bằng các hành vi như tự ý thực hiện các giao dịch chuyển tiền, không thực hiện các giao dịch chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu Tại bản án số 03/2018/KDTM-ST ngày 26 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch

vụ chứng khoán có nội dung tóm tắt như sau: Ông Nguyễn Văn C và Công ty Cổ phần chứng khoán Z (Công ty Z) có ký hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng khoán Ông C đã xác nhận số dư trong tài khoản chứng khoán của mình là 7.337.646.185 đồng và yêu cầu được rút số tiền trên nhưng Công ty Z không thực hiện Sau nhiều lần yêu cầu rút tiền nhưng không được thực hiện, ông Nguyễn Văn

C nộp đơn khởi kiện yêu cầu Công ty Z phải trả cho ông số tiền 7.337.646.185 đồng

có trong tài khoản chứng khoán 062C7336 của ông mở tại Công ty Cổ phần chứng khoán Z Tòa án nhân dân Quận B thành phố Hà Nội đã chấp nhận hoàn toàn yêu cầu

khởi kiện của ông C Bản án được thực thi mà không có kháng cáo, kháng nghị80 Hành vi không giải chấp số tiền có trong tài khoản giao dịch chứng khoán của ông C

do Công ty Z thực hiện có tính chất của hành vi lạm dụng tiền của khách hàng, bởi tiền gửi giao dịch trong tài khoản chứng khoán 062C7336 là tài sản của ông C; giữa ông C và Công ty Z không có thỏa thuận dùng số tiền trên để thực hiện nghĩa vụ nào nên Công ty Z chỉ được thực hiện hoạt động nghiệp vụ là quản lý tài sản của khách hàng mà không có quyền sở hữu đối với tài sản của ông C Hành vi nói trên của Công

80 Bản án số 03/2018/KDTM-ST ngày 26/02/2018 về việc tranh chấp hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng khoán của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội (Xem Bản án tại Phụ lục 1).

Trang 36

ty Z đã vi phạm khoản 3 Điều 17 Nghị định 121/2020/NĐ-CP, ảnh hưởng đến trực tiếp đến quyền được sở hữu tài sản của ông C

Dưới hình thức gián tiếp lạm dụng tiền gửi của khách hàng, CTCK có thể “vay lại” tiền gửi của NĐTCPCN dưới dạng các sản phẩm tài chính Khi tham gia TTCK, NĐTCPCN có thể lựa chọn gửi tiền giao dịch chứng khoán vào tài khoản đứng tên mình tại ngân hàng thương mại mà CTCK lựa chọn hoặc gửi tiền vào tài khoản chuyên dụng của CTCK mở tại ngân hàng thương mại Tuy khoản 4 Điều 17 Nghị định 121/2020/TT-BTC quy định CTCK phải xây dựng và quản lý tiền gửi của khách hàng theo cả hai phương thức trên và NĐTCPCN được quyền lựa chọn phương thức quản lý tiền gửi của mình nhưng phần đông các CTCK thường gợi ý hoặc mặc định quản lý tiền gửi của khách hàng tại tài khoản chuyên dụng của mình Khi tiền gửi giao dịch chứng khoán của NĐTCPCN được gửi tại tài khoản chuyên dụng của CTCK, CTCK có thể nắm được thông tin về tài sản của họ rồi ngỏ lời “hợp tác đầu tư” với NĐTCPCN đang có khoản tiền gửi giao dịch chứng khoán dư, chưa có ý định nào cho hoạt động mua bán cổ phiếu Do khoản tiền gửi này nằm trong tài khoản chuyên dụng của CTCK nên dễ dàng được “mượn đi” dưới các hình thức đầu tư, tiền gửi tiết kiệm hoặc chỉ đơn giản là việc NĐTCPCN giữ nguyên số dư tiền trong tài khoản giao dịch chứng khoán của mình Các NĐTCPCN tham gia hoạt động trên được cam kết hưởng lợi nhuận cao hơn lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại, khi cần có thể tiến hành giao dịch ngay mà không cần rút tiền về tài khoản,… Khoản tiền được lấy đi trong trường hợp này được CTCK sử dụng để bổ sung vốn cho hoạt động của CTCK, chủ yếu là dịch vụ ký quỹ (margin) Khi đó, NĐTCPCN là bên cho vay được lãi, bên vay có tiền để đầu tư và CTCK được hưởng hoa hồng81 Về bản chất, CTCK đang thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi, môi giới giao dịch vay, mượn tài sản giữa các khách hàng với nguồn tiền được lấy từ tiền gửi giao dịch chứng khoán của NĐTCPCN Hành vi này mang tính chất lạm dụng tiền gửi của khách hàng là các NĐTCPCN, vi phạm quy định pháp luật bởi CTCK không có nghiệp vụ nhận tiền gửi

của các cá nhân là NĐTCPCN đồng thời các giao dịch liên quan đến tiền của họ chỉ được phép thực hiện thông qua các ngân hàng thương mại Vì hoạt động “cho vay” nói trên không có tài sản đảm bảo, các NĐT khác được vay tiền chưa chắc đã có lãi

từ hoạt động đầu tư để trả lại tài sản cho NĐTCPCN đã cho vay nên khi CTCK thực hiện hành vi mang tính chất lạm dụng tiền gửi của khách hàng nói trên đã ảnh hưởng đến quyền sở hữu và an toàn tài sản của NĐTCPCN

81 Bông Mai, “Bộ Tài chính xử lý công ty chứng khoán lạm dụng tiền của khách hàng để huy động vốn”,

20210505142911156.htm , truy cập ngày 20/3/2023

Trang 37

https://tuoitre.vn/bo-tai-chinh-xu-ly-cong-ty-chung-khoan-lam-dung-tien-cua-khach-hang-de-huy-dong-von-2.1.2 Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư

Trong quá trình thực hiện đầu tư, quyền hưởng lợi là quyền tất yếu mà mọi NĐTCPCN đều hướng tới và mong muốn được thực hưởng Đối với quyền được nhận cổ tức, NĐTCPCN thường được hưởng cổ tức là tiền hoặc cổ phiếu Nhìn chung, các CTCK hiện nay không có thỏa thuận về tài khoản nhận cổ tức trong hợp đồng mở tài khoản giao dịch với NĐTCPCN Trên thực tế, các CTCK thường có xu hướng chi

trả cổ tức là tiền vào tài khoản lưu ký, chi trả cổ tức là cổ phiếu vào tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường trong trường hợp NĐTCPCN có thêm tài khoản giao dịch ký quỹ Quyền được hưởng lợi của NĐTCPCN thường đi kèm với nghĩa vụ tài chính là thuế thu nhập cá nhân CTCK, ngân hàng thương mại nơi NĐTCPCN mở tài khoản lưu ký sẽ là chủ thể khai và nộp thuế thay cho NĐTCPCN82 Thời điểm thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân của NĐTCPCN như sau:

- Đối với cổ tức là tiền: được khấu trừ tại nguồn bởi CTCK, ngân hàng thương mại nơi NĐTCPCN mở tài khoản lưu ký trước khi chi trả cho NĐTCPCN

- Đối với cổ phiếu: thực hiện tại thời điểm NĐTCPCN chuyển nhượng cổ phiếu

Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch là quyền cơ bản, gắn liền với hoạt động hằng ngày của NĐTCPCN LCK và các văn bản hướng dẫn thi hành

đã có các quy định về quyền của NĐTCPCN khi họ tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch cũng như nghĩa vụ của các chủ thể khác nhằm đảm bảo quyền này được thực thi trên thực tế Tuy nhiên, khi NĐTCPCN thực hiện quyền này còn có một số bất cập, vướng mắc sau:

Việc xác định độ tuổi đủ tư cách trở thành NĐTCPCN có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực hợp đồng giữa NĐTCPCN với các chủ thể khác cũng như quyền và nghĩa vụ phát sinh khi họ tham gia đầu tư trên TTCK, đặc biệt khi người đó thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Độ tuổi mà một cá nhân được mở tài khoản giao dịch chứng khoán đã từng được đề cập đến tại Dự thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch cổ phiếu; chứng chỉ quỹ; trái phiếu doanh nghiệp; chứng quyền có bảo đảm được niêm yết; đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán tại khoản 10 Điều 6 như sau: “Nhà đầu tư cá nhân mở tài khoản giao dịch tại công ty chứng khoán bao gồm:

Trang 38

a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định

c ủa pháp luật Việt Nam;

b) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng

l ực hành vi dân sự mở tài khoản giao dịch phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.” 83 Tuy nhiên, sau khi dự thảo trên được thông qua và trở thành Thông tư

120/2020/TT-BTC thì quy định này đã không được giữ lại

Trên thực tế, các CTCK thường có xu hướng chấp thuận mở tài khoản giao dịch chứng khoán khi một cá nhân có thể cung cấp đủ thông tin trên hợp đồng mở tài khoản giao dịch Tức trong trường hợp một cá nhân có đủ thông tin về định danh (Chứng minh thư hoặc căn cước công dân) thì đã có thể trở thành một NĐTCPCN và tiền gửi giao dịch chứng khoán của họ sẽ được CTCK mặc nhiên quản lý tại tài khoản chuyên dụng của CTCK Theo pháp luật hiện hành, công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân84 Do đó một cá nhân từ đủ 14 tuổi đã có thể trở thành một NĐTCPCN và tham gia hoạt động trên TTCK Tuy nhiên theo pháp luật dân sự, người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi85 Vì vậy, việc bỏ qua sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trong hợp đồng mở tài khoản giao dịch giữa CTCK

và khách hàng là cá nhân chưa thành niên có phần không phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và có thể xảy ra tranh chấp pháp lý sau này Mặc dù có thể có sự chênh lệch nhỏ về độ tuổi trong việc chấp nhận người chưa thành niên trở thành NĐTCPCN giữa các CTCK nhưng nhìn chung việc chưa có quy định về độ tuổi đủ

tư cách trở thành NĐTCPCN dẫn đến một số nguy cơ sau:

M ột là, cá nhân tham gia đầu tư trên TTCK nhưng chưa đủ nhận thức, hiểu

biết và không có người đại diện theo pháp luật can thiệp có thể đưa ra các quyết định đầu tư sai lầm, gây thiệt hại về tài sản

Hai là, dễ xảy ra các tình huống mở tài khoản giao dịch “ma” để các đối tượng

có mục đích xấu thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như thao túng TTCK, tẩu tán tài sản,…

mạng nhưng không được cấp phép

83 Dự thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch cổ phiếu; chứng chỉ quỹ; trái phiếu doanh nghiệp; chứng quyền có bảo đảm được niêm yết; đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán,

https://mof.gov.vn/webcenter/portal/btcvn/pages_r/cd/du-thao-van-ban/dtvb-chi-tiet-gop-y-du-thao?id=15620 , truy cập ngày 20/3/2023

84 Khoản 1 Điều 19 Luật căn cước công dân 2014

85 Khoản 3 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015

Trang 39

Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch của NĐTCPN được thực

hiện thông qua CTCK được cấp phép thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật Tuy nhiên hiện nay, nhiều doanh nghiệp mặc dù không có giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng lại thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến qua trang web (như website www.greenstock.vn), ứng dụng (app Greenstock, Infina, Savenow, BUFF), mạng xã hội,…làm nhiều cá nhân có nhu cầu tham gia TTCK tin tưởng và tham gia UBCKNN từng nhiều lần đưa

ra cảnh báo các doanh nghiệp nói trên thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng không được cấp phép86 Bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng các cá nhân thực hiện hành vi lôi kéo, dụ dỗ các NĐTCPCN tham gia các hội nhóm trên các diễn đàn, mạng xã hội; tham gia các lớp học dạy đầu tư; hướng dẫn mua bán cổ phiếu trên các ứng dụng có cam kết về lợi nhuận nhận được hoặc cho phép thực hiện giao dịch mua bán nhận cổ phiếu ngay trong ngày (T+0)87,…

Theo quy định pháp luật hiện hành, kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện88 Chỉ các CTCK được cấp phép, quản lý, giám sát theo quy định của pháp luật về chứng khoán mới có quyền cung cấp các dịch vụ chứng khoán89

Cá nhân muốn thực hiện nghiệp vụ môi giới hoặc tư vấn đầu tư chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán (có chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán, chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ90) và chỉ được hành nghề với tư cách đại diện cho CTCK91 Hành vi cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến và môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán nói trên không những xâm hại đến quyền tham gia thị trường và thực hiện giao dịch của NĐTCPCN, quyền sở hữu tài sản của họ mà còn gây mất niềm tin, ảnh hưởng đến hoạt động chung của TTCK Hiện nay, hành vi này tùy theo tính chất và mức độ mà có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính theo Mục 9 Chương II Nghị định 156/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP

Thứ ba, xảy ra trường hợp NĐTCPCN không thể thực hiện các giao dịch

86 UBCKNN, “UBCKNN cảnh báo nhà đầu tư về hoạt động cung cấp dịch vụ về chứng khoán trên không gian mạng”,

https://www.ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCGOVVN1620125422 , truy cập ngày 20/3/2023 Xem thêm: “UBCKNN tiếp tục cảnh báo nhà đầu tư về hoạt động cung cấp dịch vụ

về chứng khoán trên không gian mạng nhưng không được UBCKNN cấp phép”,

https://www.ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCGOVVN1620128566& dID=128836 , truy cập ngày 30/4/2023

87 “Mất tiền tỷ vì sập bẫy lừa đảo “giao dịch T+0””, truong/thi-truong-ck/mat-tien-ty-vi-sap-bay-lua-dao-giao-dich-t-0/ , truy cập ngày 20/3/2023

https://mbs.com.vn/trung-tam-nghien-cuu/tin-tuc-thi-88 Mục 25, Phụ lục IV, Luật đầu tư

89 Điều 72 LCK

90 Khoản 2 Điều 216 Nghị định 155/2020/NĐ-CP

91 Khoản 1 Điều 98 LCK

Trang 40

trực tuyến do nguyên nhân từ phía CTCK hoặc SGDCK

Với sự phát triển của kỹ thuật – công nghệ, hoạt động đầu tư cổ phiếu theo đó ngày càng được số hóa, NĐTCPCN có thể thực hiện các giao dịch từ xa thông qua website, ứng dụng của các CTCK cung cấp thay vì đặt lệnh trực tiếp tại quầy giao dịch hay đặt lệnh qua điện thoại, fax,… Việc sử dụng hệ thống giao dịch trực tuyến

để tiến hành các giao dịch có nhiều ưu điểm như đảm bảo tính bảo mật và công bằng trong việc thực hiện lệnh, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho các bên liên quan

Ở chiều ngược lại, phát triển phương thức giao dịch này khiến phần lớn các giao dịch của NĐTCPCN phụ thuộc vào các nền tảng trực tuyến và đường truyền; đồng thời đặt ra yêu cầu về hạ tầng cơ sở đối với các CTCK và SGDCK trong quá trình hoạt động Bởi khi có sự cố xảy ra với các nền tảng trực tuyến hay hạ tầng cơ sở, nhiều NĐTCPCN không thực hiện được hoạt động mua bán cổ phiếu, ảnh hưởng đến quyền thực hiện các giao dịch của họ Sự cố liên quan đến giao dịch trực tuyến xảy ra ở cả CTCK (như Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ thương (TCBS)92, Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS93,…) và các SGDCK94 Khi xảy ra sự cố, đa số các NĐTCPCN là khách hàng của CTCK chỉ nhận được thông báo về việc có sự cố xảy ra mà không biết được nguyên nhân cụ thể cũng như liệu CTCK hay các SGDCK có lỗi hay không khi để xảy ra các sự cố đó

Đối với SGDCK Việt Nam và các công ty con, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo hoạt động thông suốt là một trong những yêu cầu thiết yếu để thực

hiện nhiệm vụ tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán95 Đối với CTCK, đảm bảo

có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang bị, thiết bị văn phòng, hệ thống công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng như xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu dự phòng để bảo đảm hoạt động an toàn và liên tục là một nghĩa vụ phải thực hiện trong suốt quá trình thành lập và hoạt động96 Việc không đảm bảo hạ tầng cơ sở của CTCK hay các SGDCK có thể gây gián đoạn trong hoạt động của NĐTCPCN, khiến họ không thể đặt lệnh mua bán cổ phiếu và bỏ lỡ các cơ hội đầu tư lý tưởng Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch của NĐTCPCN, cũng như gây

ra tâm lý bất ổn cho các chủ thể khác, giảm sức hấp dẫn và không đảm bảo được sự

92 Yến Chi, “Hệ thống giao dịch của TCBS gặp sự cố trong phiên sáng 03/11”, thong-giao-dich-cua-tcbs-gap-su-co-trong-phien-sang-0311-830-906282.htm , truy cập ngày 20/3/2023

https://vietstock.vn/2021/11/he-93 Yến Chi, “VPS gặp sự cố đăng nhập trong phiên chiều 31/03”, dang-nhap-trong-phien-chieu-3103-830-947335.htm , truy cập ngày 20/3/2023

https://vietstock.vn/2022/03/vps-gap-su-co-94 Chí Kiên, “Nhìn lại nửa năm nghẽn lệnh trên HOSE”, nam-nghen-lenh-tren-hose-830-874305.htm , truy cập ngày 20/3/2023

https://vietstock.vn/2021/07/longform-nhin-lai-nua-95 Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Sở giao dịch Chứng khoán Việt Nam

96 Khoản 4 Điều 74 và khoản 10 Điều 89 LCK

Ngày đăng: 12/10/2023, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w