1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của đại hội đồng cổ đông trong quản trị công ty đại chúng

59 10 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa vị pháp lý của đại hội đồng cổ đông trong quản trị công ty đại chúng
Tác giả Nguyễn Quốc Dũng
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Từ Thanh Thảo
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 597,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG (11)
    • 1.1. Khái quát về công ty đại chúng và quản trị công ty đại chúng (11)
      • 1.1.1. Khái quát về công ty đại chúng (11)
      • 1.1.2. Khái quát về quản trị công ty đại chúng (14)
    • 1.2. Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng (23)
      • 1.2.1. Khái niệm địa vị pháp lý Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng18 1.2.2. Tính khách quan của sự tồn tại thiết chế Đại hội đồng cổ đông trong công (23)
      • 1.2.3. Đặc điểm địa vị pháp lý Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng . 21 1.2.4. Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng (26)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG (31)
    • 2.1. Thực trạng các quy định của pháp luật về Đại hội đồng cổ đông công ty đại chúng (31)
      • 2.1.1. Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông công ty đại chúng (31)
      • 2.1.2. Hoạt động của Đại hội đồng cổ đông công ty đại chúng (37)
    • 2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Đại hội đồng cổ đông trong quản trị công ty đại chúng (47)
      • 2.2.1. Về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (47)
      • 2.2.2. Về hoạt động của Đại hội đồng cổ đông (49)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

Khái quát về công ty đại chúng và quản trị công ty đại chúng

1.1.1 Khái quát về công ty đại chúng

Từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức hoạt động vào ngày 28/07/2001, khái niệm “công ty đại chúng” ngày càng trở nên phổ biến Đến tháng 06/2023, thị trường này đã ghi nhận 3,230 công ty đại chúng niêm yết trên ba sàn chứng khoán chính: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sàn giao dịch Upcom (UPCOM) Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của các công ty đại chúng trong nền kinh tế.

Với vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, công ty đại chúng (CTĐC) đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới Khái niệm CTĐC bắt nguồn từ thực tiễn của nhiều quốc gia, trong đó công ty cổ phần (CTCP) được phân loại thành công ty nội bộ và CTĐC dựa trên quy mô vốn và số lượng cổ đông Công ty nội bộ thường có quy mô vốn nhỏ, ít cổ đông và không phát hành cổ phiếu ra công chúng, do đó không cần thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hay công bố thông tin theo quy định pháp luật.

Công ty đại chúng (CTĐC) khác với công ty nội bộ ở quy mô vốn lớn, số lượng cổ đông đông đảo và hoạt động trên diện rộng, với cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán CTĐC phải tuân thủ các quy định về minh bạch, bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính và công bố thông tin, cùng với việc áp dụng nguyên tắc quản trị công ty Theo Từ điển The Oxford Modern English, CTĐC là công ty bán cổ phiếu cho tất cả người mua trên thị trường mở, với tiêu chí xác định dựa trên phạm vi phân phối cổ phiếu cho nhà đầu tư không hạn chế, không phụ thuộc vào quy mô vốn Tuy nhiên, định nghĩa về CTĐC có thể khác nhau ở từng quốc gia; tại Anh, CTĐC được gọi là công ty đại chúng hạn chế (public limited company - Plc), với đuôi Plc bắt buộc ghi sau tên công ty.

1 Số liệu tham khảo từ https://finance.vietstock.vn/doanh-nghiep-a-z?page=1, truy cập ngày 01/06/2023

2 Tôn Tích Quý (2006), Nâng cao tính minh bạch của CTĐC trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hà Nội, tr 7

3 Điều 58, Chương 2, Phần 5, Companies Act of the United Kingdom 2006 (Luật Công ty của Vương Quốc Anh năm 2006), xem tại: https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/contents truy cập 01/6/2023

Công ty cổ phần (PLC) tại Úc yêu cầu vốn tối thiểu 50.000 bảng Anh, cho phép huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi với số lượng cổ đông không giới hạn, cùng với ít nhất hai thành viên quản trị thường trực Đạo luật Công ty của Úc cho phép nhà đầu tư lựa chọn giữa công ty sở hữu tư nhân (proprietary company) hoặc công ty đại chúng (CTĐC) Các công ty nội bộ thường nhỏ, giới hạn tối đa 50 cổ đông không phải là nhân viên, trong khi CTĐC không bị giới hạn số lượng cổ đông và chỉ CTĐC mới có quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn.

Theo Luật Chứng khoán năm 2019 tại Việt Nam, "Công ty đại chúng" (CTĐC) được định nghĩa rõ ràng là các Công ty Cổ phần (CTCP) thuộc hai loại hình cụ thể.

Một là, công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là

Theo quy định mới, 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết phải do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ Luật Chứng khoán năm 2006 đã điều chỉnh vốn điều lệ tối thiểu của công ty đại chúng từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng Sự thay đổi này phản ánh những yêu cầu khắt khe hơn về điều kiện trở thành công ty đại chúng, nhằm nâng cao tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Việc tạo điều kiện tham gia thị trường giúp doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, đồng thời mở ra một kênh đầu tư tài chính hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

Năm 2019, với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng công ty đại chúng (CTĐC) có vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng trở lên đạt 1.572, chiếm 81,04% tổng số CTĐC được thống kê.

Để nâng cao năng lực tài chính của công ty đại chúng (CTĐC) và đảm bảo an toàn cho thị trường chứng khoán (TTCK), Luật Chứng khoán năm 2019 đã quy định mức vốn điều lệ cao hơn, phù hợp với xu thế tăng trưởng của nền kinh tế Mô hình CTĐC yêu cầu chi phí hoạt động lớn để tổ chức các cuộc họp với số lượng cổ đông đông đảo, do đó việc nâng điều kiện vốn điều lệ giúp hạn chế những công ty chưa thực sự “sẵn sàng” trở thành CTĐC Ngoài điều kiện về vốn điều lệ, CTĐC còn phải đáp ứng yêu cầu về cổ đông nắm giữ cổ phiếu biểu quyết, đây là điểm mới so với Luật Chứng khoán năm 2006, được bổ sung trong Luật Chứng khoán năm 2019.

4 Điều 112 (1), Chương 2A, Corporations Act of Australia 2001 (Luật Công ty của Úc 2001), xem tại: https://www.legislation.gov.au/Details/C2018C00031 truy cập 01/6/2023

5 Điều 113 (1), Chương 2A, Corporations Act of Australia 2001 (Luật Công ty của Úc 2001), xem tại: https://www.legislation.gov.au/Details/C2018C00031 truy cập 01/6/2020

6 Khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán năm 2019

7 Nguyễn Minh Hằng (2021), Một số điểm mới trong các quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng theo Luật

Chứng khoán 2019, Kỷ yếu hội thảo: Những điểm mới của Luật Chứng khoán 2019, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 6

8 Theo số liệu tại Trang thông tin điện tử của Tổng cục thống kê tại địa chỉ: https://www.gso.gov.vn

CTĐC mang lại 8 lợi ích tích cực, giúp đảm bảo tính đại chúng cho tất cả các nhà đầu tư muốn sở hữu cổ phần công ty mà không cần chuyên môn Đồng thời, quy định yêu cầu ít nhất 100 nhà đầu tư nắm giữ 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết nhằm hạn chế ảnh hưởng của các cổ đông lớn đối với các hoạt động công ty, ngăn chặn việc chi phối quyết định của ĐHĐCĐ.

Công ty đã thành công trong việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Luật Chứng khoán năm 2019 đã bổ sung các điều kiện chặt chẽ hơn so với Luật Chứng khoán năm 2006, yêu cầu các công ty thực hiện chào bán cổ phiếu phải tuân thủ quy định của UBCKNN Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư và duy trì hoạt động an toàn, hợp pháp của thị trường chứng khoán.

Theo định nghĩa, có hai loại công ty đại chúng (CTĐC): CTĐC niêm yết và CTĐC không niêm yết Các CTĐC phải tuân thủ quy định của Luật Chứng khoán về công bố thông tin và minh bạch, cũng như quy chế quản trị công ty Để trở thành CTĐC, các công ty cần đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) khi đã đủ điều kiện.

Từ quy định trên, căn cứ theo pháp luật chứng khoán và pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam thì CTĐC có các đặc điểm cơ bản sau:

CTĐC là công ty cổ phần theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, được xác định tại Điều 32 Luật Chứng khoán năm 2019 Công ty này có các đặc điểm cơ bản của CTCP, bao gồm: vốn điều lệ được chia thành nhiều cổ phần bằng nhau, chủ sở hữu là các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ trong phạm vi vốn đã góp, cùng với cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt.

CTĐC có sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng giám sát và điều hành, điều này khác biệt so với CTCP theo pháp luật doanh nghiệp Cụ thể, Chủ tịch HĐQT của CTĐC không được kiêm nhiệm chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, nhằm ngăn chặn hiện tượng "vừa đá bóng vừa thổi còi" Quy định này giúp nâng cao chất lượng quản trị công ty và đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động của CTĐC.

9 Khoản 2 Điều 156 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Mối liên hệ giữa công ty đại chúng (CTĐC) và thị trường chứng khoán (TTCK) là rất chặt chẽ, vì CTĐC được thiết kế để huy động vốn từ công chúng, trong khi TTCK là phương tiện chính để thực hiện điều này Ngoài việc tuân thủ Luật Doanh nghiệp, CTĐC còn phải tuân theo Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn liên quan như là luật chuyên ngành Đặc biệt, những CTĐC hoạt động trong các lĩnh vực như ngân hàng và bảo hiểm còn chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành tương ứng.

Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng

Hệ thống văn bản luật chính thống của Việt Nam liên quan đến doanh nghiệp, bao gồm Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư, và nhiều luật khác, chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong công ty cổ phần (CTCP) Địa vị pháp lý, theo Từ điển Luật học, là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với các chủ thể khác, thể hiện qua tổng thể quyền và nghĩa vụ pháp lý Điều này giúp xác lập và giới hạn khả năng hoạt động của chủ thể, đồng thời phân biệt giữa các chủ thể pháp luật khác nhau và đánh giá vị trí, tầm quan trọng của chúng trong mối quan hệ pháp lý Về lý luận, địa vị pháp lý của ĐHĐCĐ có thể hiểu là chế định pháp lý liên quan đến ĐHĐCĐ hoặc tổng thể quyền và nghĩa vụ của ĐHĐCĐ.

Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) được xác định bởi các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của ĐHĐCĐ.

35 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr 58

Trong luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Xuân Dương (2017), tác giả phân tích địa vị pháp lý của đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Nghiên cứu này được thực hiện tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và quyền hạn của đại hội đồng cổ đông trong bối cảnh pháp lý hiện hành.

Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong công ty đại chúng (CTĐC) bao gồm tổng thể quyền và nghĩa vụ của ĐHĐCĐ, được xác định dựa trên các quy định của pháp luật Điều này cho phép ĐHĐCĐ tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, tương tác với Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS), Ban giám đốc (BGĐ) và các cổ đông khác.

Theo phương diện này thì địa vị pháp lý của ĐHĐCĐ có các dấu hiệu cơ bản là:

Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) được hình thành dựa trên các quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là tất cả các quy định pháp lý liên quan đến ĐHĐCĐ sẽ xác định rõ ràng địa vị pháp lý của cơ quan này.

Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thể hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức này Theo pháp luật, ĐHĐCĐ hoạt động dựa trên các quy tắc xử sự, trong đó bao gồm những phương thức xử sự cơ bản.

Địa vị pháp lý của các thể nhân và pháp nhân được xác định bởi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Điều này cũng áp dụng cho Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), nơi vị trí pháp lý của nó được thể hiện thông qua các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật giao phó.

Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) có vị trí pháp lý độc lập trong việc tham gia các quan hệ pháp luật, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức quản lý của công ty ĐHĐCĐ tham gia vào các quan hệ với các bộ phận khác trong doanh nghiệp dựa trên quyền và nghĩa vụ của mình, nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ đã được quy định Điều lệ công ty sẽ cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của ĐHĐCĐ, đảm bảo không trái với các quy định tối thiểu của pháp luật về công ty.

Địa vị pháp lý của ĐHĐCĐ được thể hiện qua các quan hệ pháp luật với HĐQT, BKS, BGĐ và cổ đông, những thành phần quan trọng trong cấu trúc quản lý của CTĐC Sự tham gia của ĐHĐCĐ vào quản lý và điều hành doanh nghiệp tạo ra mối liên hệ chặt chẽ với các bộ phận này, từ đó củng cố vị trí và khẳng định tầm quan trọng của ĐHĐCĐ trong tổ chức.

1.2.2 Tính khách quan của sự tồn tại thiết chế Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng

Thứ nhất, ĐHĐCĐ được hình thành bắt nguồn từ tư cách là chủ sở hữu của cổ đông

Tại Việt Nam, mọi tổ chức và cá nhân đều có quyền tự do đầu tư và kinh doanh Hình thức đầu tư phổ biến nhất hiện nay là thành lập các tổ chức kinh doanh.

Việc thành lập mới, góp vốn, mua cổ phần hoặc mua phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế hiện có giúp cá nhân thực hiện quyền tự do đầu tư và kinh doanh, từ đó tăng tài sản cá nhân và góp phần làm giàu cho đất nước Cá nhân và tổ chức có thể linh hoạt lựa chọn hình thức doanh nghiệp, trong đó có Công ty TNHH (CTĐC), một mô hình đại diện cho tự do đầu tư và kinh doanh, phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Sau khi thành lập, doanh nghiệp trở thành thực thể kinh tế độc lập với quyền hoạt động kinh doanh được pháp luật công nhận Quyền tự do và tự chủ kinh doanh chỉ được thực hiện bởi các chủ sở hữu hoặc thành viên, trong đó cổ đông là chủ sở hữu của công ty cổ phần (CTĐC) Tuy nhiên, với số lượng cổ đông lớn, việc ra quyết định liên quan đến hoạt động hàng ngày trở nên khó khăn Do đó, cổ đông cần chủ động tham gia vào quyết định và quản lý thông qua Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), nơi tập hợp toàn bộ cổ đông và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện quyền lãnh đạo ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng của công ty, cho phép cổ đông tham gia vào chiến lược và quyết định then chốt, nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích của họ trong quản trị CTĐC.

ĐHĐCĐ được hình thành từ yêu cầu quản trị công ty, với mục tiêu đảm bảo hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động sản xuất và kinh doanh Cơ cấu tổ chức của CTĐC phải rõ ràng và chặt chẽ, được xác định bởi quy định pháp luật và Điều lệ công ty Yêu cầu đầu tiên trong cơ chế quản trị là bảo vệ quyền lực của các chủ sở hữu và cổ đông, cho phép họ quyết định các vấn đề tổ chức để thực hiện quyền đầu tư Đồng thời, cơ cấu quản trị cần đảm bảo sự bình đẳng giữa các cổ đông qua tỷ lệ vốn góp, mặc dù điều này có thể dẫn đến lạm quyền từ cổ đông lớn, gây thiệt hại cho cổ đông nhỏ Do đó, hệ thống quản trị cần kiểm soát và hạn chế hiện tượng này, đồng thời đảm bảo hoạt động hiệu quả của bộ máy quản lý trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty.

Trong cơ cấu quản lý của CTĐC, nhiều cơ quan và bộ phận với vị trí, chức năng và nhiệm vụ rõ ràng được thiết lập Mô hình quản trị của các CTĐC toàn cầu và Luật Doanh nghiệp Việt Nam đều xác định các bộ phận chịu trách nhiệm ra quyết định, quản lý, điều hành và kiểm soát ĐHĐCĐ là bộ phận có quyền lực và ra quyết định chủ chốt, thể hiện quyền lực của chủ sở hữu trong mô hình quản lý của CTĐC.

1.2.3 Đặc điểm địa vị pháp lý Đại hội đồng cổ đông trong công ty đại chúng ĐHĐCĐ là bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết nên đây là cơ quan quyết định cao nhất trong CTĐC Do đó đây là cơ quan quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu doanh nghiệp, bầu các chức danh thành viên HĐQT, BKS, bán hoặc đầu tư các tài sản, hợp đồng, dự án có giá trị lớn hoặc thông qua báo cáo tài chính Địa vị pháp lý của ĐHĐCĐ trong CTĐC có nét tương đồng với Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn khi thực hiện chức năng của mình thông qua đặc tính “quyền lực cao nhất” trong doanh nghiệp Quyền lực này là quyền lực mang tính tập thể đại diện lợi ích cho toàn bộ cổ đông

THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Ngày đăng: 12/10/2023, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1986), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1986
12. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2019), Bản thuyết minh chi tiết về dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) (Kèm theo Báo cáo số 7900/BC-BKHĐT ngày 25 tháng 10 năm 2019), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh chi tiết về dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) (Kèm theo Báo cáo số 7900/BC-BKHĐT ngày 25 tháng 10 năm 2019)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
14. Hoàng Thị Mai (2015), Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần
Tác giả: Hoàng Thị Mai
Năm: 2015
15. Lương Đình Thi (2015), Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam
Tác giả: Lương Đình Thi
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm: 2015
16. Lê Vũ Nam (Chủ biên) (2017), Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Nxb. ĐHQG-TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Lê Vũ Nam
Nhà XB: Nxb. ĐHQG-TPHCM
Năm: 2017
17. Nguyễn Minh Hằng (2021), Một số điểm mới trong các quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng theo Luật Chứng khoán 2019, Kỷ yếu hội thảo:Những điểm mới của Luật Chứng khoán 2019, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo:Những điểm mới của Luật Chứng khoán 2019
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2021
20. Tôn Tích Quý (2006), Nâng cao tính minh bạch của CTĐC trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính minh bạch của CTĐC trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Tôn Tích Quý
Nhà XB: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Năm: 2006
21. Trần Thị Ngọc Ánh (2019), Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam – từ thực tiễn của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường ĐH Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam – từ thực tiễn của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)
Tác giả: Trần Thị Ngọc Ánh
Nhà XB: Trường ĐH Luật Hà Nội
Năm: 2019
23. Võ Thị Hà Linh (2015), Việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội.Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Hà Linh
Năm: 2015
24. Aguilera, R.V., Desender, K., Bednar, M.K. & Lee, J.H. (2015), “Connecting the dots: Bringing external corporate governance into the corporate governance puzzle”, Academy of Management Annals, 9(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Connecting the dots: Bringing external corporate governance into the corporate governance puzzle”, "Academy of Management Annals
Tác giả: Aguilera, R.V., Desender, K., Bednar, M.K. & Lee, J.H
Năm: 2015
25. Aguilera, R.V. & Jackson, G. (2010), “Comparative and international corporate governance”, Academy of Management annals, 4(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative and international corporate governance
Tác giả: Aguilera, R.V., Jackson, G
Nhà XB: Academy of Management annals
Năm: 2010
27. Ashe-Edmunds, S. (2012), The Difference Between Corporate Governance & Corporate Management, Demand Media Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Difference Between Corporate Governance & Corporate Management
Tác giả: Ashe-Edmunds, S
Nhà XB: Demand Media
Năm: 2012
28. Ben Francis, Richard Poole (2015), Oxford Business English dictionary for learner' of English, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Business English dictionary for learners of English
Tác giả: Ben Francis, Richard Poole
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 2015
29. Brian R. Cheffins (2012), “The History of Corporate Governance”, Law Working Paper No.184/2012, European Corporate Governance Institute (ECGI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The History of Corporate Governance
Tác giả: Brian R. Cheffins
Nhà XB: European Corporate Governance Institute (ECGI)
Năm: 2012
30. Cadbury, A. (1992), Report of the committee on the financial aspects of corporate governance, vol. 1, Gee Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of the committee on the financial aspects of corporate governance
Tác giả: Cadbury, A
Nhà XB: Gee
Năm: 1992
32. Filatotchev, I. & Boyd, B.K. (2009), “Taking stock of corporate governance research while looking to the future”, Corporate Governance: An International Review, 17(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance: An International Review
Tác giả: Filatotchev, I., Boyd, B.K
Năm: 2009
37. Companies Act of the United Kingdom 2006, xem tại: https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/contents truy cập 01/6/2023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Companies Act of the United Kingdom 2006
Năm: 2006
40. Số liệu tham khảo từ https://finance.vietstock.vn/doanh-nghiep-a-z?page=1, truy cập ngày 01/06/2023 Link
42. Theo số liệu tại Trang thông tin điện tử của Tổng cục thống kê tại địa chỉ: https://www.gso.gov.vn Link
43. Xem thêm bài viết: Quản trị doanh nghiệp tại Coninco (CNN): Rối do đâu?, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/quan-tri-doanh-nghiep-tai-coninco-cnn-roi-do-dau-post322504.html truy cập ngày 10/06/2023 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w