Lí do chọn đề tài Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xóa dần sự chênh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
TRẦN THỊ KIM OANH
CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI (2007-2015)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Minh
THÁI NGUYÊN - 2016
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: Công cuộc xây dựng nông
thôn mới ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai (2007 – 2015), dưới sự hướng dẫn
của TS Nguyễn Xuân Minh là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu
và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm Luận văn và Nhà trường
về sự cam đoan này
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Xuân Minh đã tận tình chỉ bảo, định hướng khoa học và trực tiếp hướng dẫn cho tác giả trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường ĐHSP Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai, UBND huyện Bảo Thắng, Trường THPT số 1 Bảo Thắng…đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn đồng hành giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo vệ luận văn
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Oanh
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI TRƯỚC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 13
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 13
1.1.1 Vị trí địa lí 13
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.3 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 15
1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Bảo Thắng 19
1.2.1 Đặc điểm kinh tế 20
1.2.2 Đặc điểm xã hội 25
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN BẢO THẮNG (2007 - 2015) 30
2.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới 30
2.1.1 Quan niệm về nông thôn và nông thôn mới 30
2.1.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới 33
2.2 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền địa phương về xây dựng nông thôn mới 43
2.2.1 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Lào Cai 43
Trang 5iv
2.2.2 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền huyện Bảo Thắng và quá
trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 46
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN BẢO THẮNG 64
3.1 Sản xuất phát triển, thu nhập của người dân được nâng lên 64
3.1.1 Sản xuất nông nghiệp 64
3.1.2 Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 65
3.2 Đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của dân cư nông thôn được cải thiện rõ rệt 66
3.2.1 Đời sống vật chất 66
3.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần 68
3 3 Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tăng cường 70
Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 7
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 16 Bảng 2.1 Các tiêu chí trong Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 36 Bảng 2.2 Nội dung sửa đổi 5 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 38 Bảng 2.3 Công tác chỉ đạo, tuyên truyền xây dựng NTM huyện Bảo Thắng giai đoạn 2011 - 2015 50 Bảng 2.4 Số các xã đạt các tiêu chí trên toàn huyện 62 Bảng 3.1 Tỉ lệ lao động có việc làm thường xuyên của các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 67 Bảng 3.2 Công tác vệ sinh môi trường nông thôn của huyện Bảo Thắng giai đoạn 2011-2015 70 Bảng 3.3 Kết quả xây dựng giao thông nông thôn của huyện Bảo Thắng giai đoạn 2011-2015 71
Trang 8vi
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Bảo Thắng giai đoạn từ 1991 đến nay 12
Sơ đồ 2.1 Hệ thống quản lí Chương trình MTQG xây dựng NTM 42
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta, nhằm đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xóa dần sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng, miền, đặc biệt
là sự chênh lệch thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị; tạo điều kiện
để người nông dân vươn lên trong công cuộc “xóa đói, giảm nghèo”, tiến lên
làm giàu ngay trên địa bàn cư trú
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng đất nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc xây dựng thành công mô hình nông thôn mới có tầm quan trọng vô cùng to lớn Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày
5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, xác định nhiệm vụ thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Thực hiện thành công nông thôn mới sẽ tạo ra một
nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất nông nghiệp có năng suất và chất lượng cao Chương trình sẽ góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, các hình thức tổ chức sản xuất hài hoà có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất phát triển Xây dựng NTM gắn liền với phát triển hệ thống
đô thị theo quy hoạch sẽ tạo điều kiện cho xã hội nông thôn phát triển ổn định, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Tuy nhiên, so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, nông thôn nước ta nói chung, đặc biệt là khu vực nông thôn ở vùng cao nói riêng vẫn còn nhiều yếu kém Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, về cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy có những biến đổi tích cực
về điện, đường, trường, trạm, song vẫn còn lạc hậu; mức sống vật chất, văn hoá, y tế, giáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một bước nhưng còn
ở mức thấp và đặc biệt ngày càng có khoảng cách xa so với đô thị; mức độ ô
Trang 102
nhiễm môi trường sống ngày càng nghiêm trọng; chất lượng hệ thống chính trị ở cấp cơ sở (xã, thôn, xóm, bản), nhất là năng lực quản lí điều hành của cán bộ còn nhiều hạn chế Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra nhiệm vụ cấp bách là phải đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, làm cơ
sở để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên khắp các vùng, miền cả nước
Là một trong những huyện trọng điểm về công - nông nghiệp của tỉnh Lào Cai, nhưng Bảo Thắng hiện vẫn là địa phương có số đông người lao động
ở khu vực nông nghiệp, cư dân nông thôn còn chiếm tỉ lệ trên 70% Vì vậy, vấn đề xây dựng nông thôn mới đang là sự quan tâm lớn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong toàn huyện
Là một huyện miền núi, vùng cao, biên giới, nhiều tộc người sinh sống, Bảo Thắng đã tích cực triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới Huyện
uỷ Bảo Thắng đã ban hành nghị quyết về xây dựng nông thôn mới; thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ cấp huyện đến cấp xã và triển khai các nội dung về xây dựng nông thôn mới Vậy, quá trình triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng
tỉnh Lào Cai diễn ra như thế nào; kết quả đạt tới đâu và còn có những mặt hạn chế yếu kém nào cần được khắc phục? Đó là những vấn đề cần được làm sáng
tỏ trên cơ sở khoa học
Với những lí do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: Công cuộc xây dựng
nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai (2007 – 2015) làm đề tài
Luận văn Thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Việc nghiên
cứu đề tài nhằm góp phần tìm ra một số giải pháp cho công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bảo Thắng
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan lãnh
Trang 113
đạo, quản lí, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học Những công trình liên quan đến chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta có khối lượng lớn, cách thức tiếp cận cũng rất đa dạng
Công trình: Kinh nghiệm tổ chức quản lí nông thôn Việt Nam trong lịch
sử do GS Phan Đại Doãn và GS Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia, H.1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta Sau khi nêu lên sự quan tâm của Nhà nước trong thời kì quản lí làng xã và xây dựng thiết chế chính trị - xã hội nông thôn, các tác giả đã trình bày khá toàn diện về nông thôn nước ta trong lịch sử như: Vấn đề Nhà nước quản lí nông thôn trong các thế kỉ XVI - XVIII; nhà Nguyễn đối với vấn đề nông thôn trong thế kỉ XIX; phát triển nông thôn trong
thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954); cơ cấu quản lí hành chính làng
xã Việt Nam (1954 - 1975) Công trình còn đề cập mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt Nam ở các vùng cụ thể, nhất là Bắc Bộ và Nam Bộ Công trình đã cung cấp những sử liệu rất có giá trị về vai trò của Nhà nước; tính cộng đồng và tính bền vững của mô hình làng xã Việt Nam; những nhân tố tác động việc hình thành thiết chế và mô hình hoạt động của làng xã
Công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Văn Bích và TS Chu Tiến
Quang: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1996, đã làm rõ các vấn đề:
Khái niệm về chính sách, chính sách kinh tế, quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới
Công trình: Phát triển nông thôn do GS Phạm Xuân Nam (chủ biên),
Nxb Khoa học xã hội, H 1997, nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sử dụng và quản lí nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, về phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo…Trên cơ sở phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp,
Trang 124
nông thôn nước ta, tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách, cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn Việt Nam Cũng trong năm 1997, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn
sách Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam
của GS.Nguyễn Điền Trong công trình trên, tác giả đề cập đến việc phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH, HĐH cũng như xu thế của nông thôn Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI
Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị
là một công trình nghiên cứu của nhóm tác giả do PGS.TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, H 1998, đã phân tích quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam dưới sự tác động của hệ thống chính sách; đi sâu phân tích một số chính sách về đất đai, về phân phối trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
Năm 2003, Nhà xuất bản Thống kê cho xuất bản cuốn sách: Nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc
Đây là công trình nghiên cứu rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ Công trình đã làm rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Những gợi mở
về những vấn đề đầu tư, vấn đề phân hóa giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản…đã được tác giả lí giải với nhiều luận
cứ có tính thuyết phục
Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia - Mã số Qx 99.01: Một số vấn
đề về kinh tế hộ nông dân Việt Nam thời kì đổi mới, do PGS.TS Trương Thị
Tiến chủ trì (2003) đã trình bày có hệ thống quá trình xác lập vai trò tự chủ
Trang 135
của kinh tế hộ nông dân Việt Nam thời kì đổi mới, phân tích vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ, xu hướng phát triển kinh tế hộ lên kinh tế trang trại, sự phân hóa của các hộ nông dân trong quá trình chuyển đổi cơ chế
Về những mô hình hợp tác xã nông nghiệp nước ta, được coi là một
mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn trong quan niệm xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, cũng được một tập thể các nhà khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu khá sâu sắc trong đề tài tổng kết
thực tiễn: Mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta (2003) do GS.TS Lưu Văn Sùng (chủ biên) Đặc biệt, đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do PGS.TS.Vũ Trọng Khải (chủ biên):
Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại, Nxb Nông nghiệp, H 2004,
là một công trình nghiên cứu về mô hình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới kết hợp truyền thống làng xã Việt Nam với văn minh thời đại
Việc hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp Việt Nam đã bước đầu
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu Cuốn sách: Bảo hộ hợp lí nông nghiệp
Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Nxb Thống kê, H 2004,
do các GS.TS Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Điền, TS Nguyễn Từ, Th.s Nguyễn Thu Hằng biên soạn, là một công trình nghiên cứu công phu Các tác giả đã phân tích những đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp, trình bày khái quát những thành tựu cũng như hạn chế của nông nghiệp nước
ta trong hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị về sửa đổi các chính sách và hoàn thiện vai trò của Nhà nước để nông nghiệp, nông thôn nước ta hội nhập thành công
GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên) trong tác phẩm: Hệ thống chính trị ở
cơ sở nông thôn nước ta hiện nay - Nxb Chính trị Quốc gia H 2004, đã làm
rõ lịch sử, lí luận về làng xã và hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta; nêu rõ cơ cấu tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay và đề ra một số phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của hệ thống này
Trang 146
Bộ sách: Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay
(2005) do TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên đã phân tích thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay; làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở với quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở nông thôn Việt Nam
Đề tài: Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
cùng tổ chức Ausaid nghiên cứu (2005) đã đi sâu phân tích những quy định
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về thương mại nông sản Qua đó dự báo khả năng tương thích của hệ thống chính sách nông nghiệp Việt Nam so với những quy định của WTO, khuyến nghị những sửa đổi về chính sách để phát triển nông nghiệp Việt Nam khi trở thành thành viên WTO
Công trình nghiên cứu: Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó
đến phát triển nông nghiệp Việt Nam (2008) là một dự án nghiên cứu tập thể
do TS Nguyễn Từ phụ trách Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích các liên kết kinh tế quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến nghị những giải pháp chủ yếu
để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế
Qua quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề đòi hỏi vừa phải đánh giá, rút kinh nghiệm, vừa phải tiếp tục bàn hướng giải quyết để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Ngày 16/9/2009, Bộ NN&PTNT phối hợp với Quỹ Quốc tế phát triển nông nghiệp
tổ chức Hội thảo khoa học: Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030 Tại Hội thảo, các chuyên gia trong và ngoài nước về
Trang 157
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đều có cùng quan điểm, nông thôn Việt Nam
do có những đặc trưng riêng, nên xây dựng NTM phát triển bền vững và mang đậm bản sắc văn hóa là cần thiết và phải tập trung chủ yếu vào 5 nội dung cơ bản: 1- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn; 2- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; 3- Hỗ trợ phát triển sản xuất và xây dựng các hình thức sản xuất có hiệu quả trong nông thôn; 4- Xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh ở nông thôn; 5- Bảo vệ, phát triển nâng cao chất lượng môi trường nông thôn Chương trình mục tiêu quốc gia
Xây dựng NTM đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 nêu rõ vai trò
của đội ngũ cán bộ cơ sở trong phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, ý thức trách nhiệm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhân tố quan trọng để thực hiện thắng lợi chương trình này
Tập sách: Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lí luận và thực tiễn
do PGS.TS.Vũ Văn Phúc (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, H 2014, gồm các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về vấn đề xây dựng NTM Các bài viết đều bàn đến khía cạch đa dạng của việc xây dựng NTM về vấn đề quy hoạch, an sinh
xã hội, chính sách đất đai, bảo vệ môi trường… Nhiều bài viết nêu bật kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn mới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…Từ đó giúp Việt Nam có cách nhìn nhận để nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước Cuốn sách cũng đã tổng hợp nhiều bài viết mang tính thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh của nước ta
Luận án Tiến sĩ kinh tế chính trị: Việc làm cho lao động nông nghiệp
trong qúa trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội của Nguyễn Thị
Huệ (2014) đã phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp ở Thủ đô gắn với thời kì xây dựng NTM giai đoạn 2008-2013; chỉ ra những tác động qua lại giữa quá trình thực hiện xây dựng NTM
và việc làm cho lao động nông nghiệp trong điều kiện đặc thù của Thủ đô;
Trang 168
đưa ra phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng NTM ở thủ đô Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Xã hội hóa trong xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn theo Chương trình xây dựng NTM tại huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai của Nguyễn Thị Kim Cúc (2014) đã chỉ ra tính cấp thiết
của xã hội hóa trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở huyện Bảo Thắng
Từ đó, tác giả xác định quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mức độ xã hội hóa việc xây dựng cơ sở hạ tầng theo Chương trình xây dựng nông thôn mới
Tạp chí Dân tộc, số 163/2014, đăng bài: Bảo Thắng điểm sáng xây dựng
nông thôn mới của Thương Huyền và Lí Mười Trong bài viết, hai tác giả đánh
giá công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; nêu
rõ những kết quả đạt được của huyện Bảo Thắng trong xây dựng nông thôn mới nhờ sự chỉ đạo sâu sát, đúng đắn của Đảng bộ, chính quyền địa phương, sự
cố gắng của mỗi người dân và sức mạnh đoàn kết của nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện cho sự nghiệp chung, thể hiện sự đồng thuận, lòng yêu quê hương của nhân dân trước một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
Các công trình nghiên cứu trên đây, dưới nhiều góc độ khác nhau đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn; sự phát triển của nông thôn; mô hình xây dựng nông thôn mới… Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ có hệ thống về công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai (2007 - 2015)
Những công trình khoa học đã được công bố trên đây là một trong những nguồn tài liệu quan trọng giúp cho tác giả hoàn thành Luận văn này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
Trang 17
9
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về xây
dựng mô hình nông thôn mới
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công cuộc xây dựng nông
thôn mới ở huyện Bảo Thắng trong thời gian 2007 - 2015 Tuy nhiên, để làm
rõ vấn đề Luận văn đề cập tình hình huyện Bảo Thắng trước khi tiến hành công cuộc vận động xây dựng nông thôn mới
- Phạm vi không gian: Huyện Bảo Thắng với 15 xã, thị trấn
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát tình hình huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai trước khi thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới
- Làm rõ công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng, một trong những huyện trọng điểm về phát triển kinh tế công - nông nghiệp của tỉnh Lào Cai
- Đánh giá tác động của quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở huyện Bảo Thắng
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các văn kiện chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
- Các chỉ thị về xây dựng nông thôn mới của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Các quyết định, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng bộ, chính quyền huyện Bảo Thắng được lưu trữ ở Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Bảo Thắng
- Các tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả về nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Trang 1810
- Các tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung đề tài như sách, báo, tạp chí về nông thôn, NTM Việt Nam nói chung và Bảo Thắng nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch
sử kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu Bằng phương pháp lịch sử, tác giả tập hợp, xử lí các nguồn tư liệu có liên quan đến đề tài; nghiên cứu toàn
bộ các tài liệu đã thu thập để có ý niệm tổng quát về chúng, sau đó lập biểu mẫu sự kiện, sắp xếp tư liệu thành các vấn đề, sơ bộ tìm hiểu mối liên hệ giữa các tư liệu Trong quá trình thực hiện các thao tác đó, chúng tôi sẽ phát hiện những vấn đề còn nghi vấn, tập hợp lại để đối chiếu, xác minh, kiểm tra tư liệu Thông qua các nguồn tư liệu nhằm tái hiện, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện khách quan
Trên cơ sở phân tích các sự kiện lịch sử, tác giả rút ra nhận xét, đánh giá bản chất của vấn đề xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng giai đoạn 2007 - 2015 Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân nông thôn, thông qua đó, chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn
Ngoài ra, các phương pháp xã hội học, tổng hợp, so sánh, điền dã, thống kê cũng được vận dụng để làm rõ vấn đề
5 Những đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
- Kết quả nghiên cứu Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá tác động của quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới đối với sự phát triển kinh tế,
Trang 196 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
Luận văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai trước cuộc vận
động xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng (2007 - 2015)
Chương 3: Một số nhận xét quá trình thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Bảo Thắng
Trang 2012
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Bảo Thắng giai đoạn từ 1991 đến nay
Trang 2113
Chương 1
KHÁI QUÁT HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI
TRƯỚC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 1.1.1 Vị trí địa lí
Huyện Bảo Thắng nằm ở trung tâm của tỉnh Lào Cai; phía đông giáp
huyện Bắc Hà, phía tây giáp huyện Sa Pa và thành phố Lào Cai, phía nam
giáp huyện Bảo Yên và Văn Bàn, phía bắc giáp thành phố Lào Cai, huyện Mường Khương và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Huyện Bảo Thắng cách thành phố Lào Cai 30 km về phía nam, có Quốc lộ 70, Quốc lộ 4E và tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) chạy qua với chiều dài trên 26 km
Huyện Bảo Thắng gồm 15 đơn vị hành chính cấp xã Riêng khu vực nông thôn có 12 xã, 215 thôn bản Phía Hữu ngạn sông Hồng có 5 xã (Sơn
Hà, Sơn Hải, Phú Nhuận, Xuân Giao, Gia Phú) và thị trấn Tằng Loỏng; phía
Tả ngạn sông Hồng có 7 xã (Phố Lu, Xuân Quang, Phong Niên, Bản Cầm, Trì Quang, Thái Niên, Bản Phiệt) và 2 thị trấn: Phố Lu, Nông trường Phong Hải Trong đó có 5 xã thuộc diện 135 (Phố Lu, Bản Cầm, Trì Quang, Thái Niên, Phong Niên) và 1 xã biên giới (Bản Phiệt) [2, tr.4] Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 68.219,31 ha, chiếm 10,69% diện tích toàn tỉnh; trong đó đất nông nghiệp 10.642,29 ha, đất lâm nghiệp 33.642,40 ha, đất chuyên dùng 1.270,43
ha, đất ở 650,72 ha, đất chưa sử dụng 16.920,79 ha [49, tr.1]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Bảo Thắng là một thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng Phía tây là dải núi thấp của dãy Phan Xi Păng - Pú Luông, phía đông là dải núi thấp của dãy thượng nguồn sông Chảy án ngữ Địa hình trũng thấp và đồi bát úp có độ
cao từ 80m đến 400m Huyện Bảo Thắng được chia làm 3 khu vực:
Trang 2214
Khu vực I: Gồm thị trấn Phố Lu có điều kiện phát triển kinh tế, xã
hội Ở vùng thấp, trung tâm của huyện, giao thông đi lại và các dịch vụ xã hội đều thuận lợi
Khu vực II: Gồm 7 xã (Phú Nhuận, Xuân Giao, Gia Phú, Sơn Hà, Sơn
Hải, Bản Phiệt, Xuân Quang) và 2 thị trấn: Tằng Loỏng, Nông trường Phong Hải có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Phần lớn các xã này giao thông đi lại tương đối thuận lợi; các dịch vụ xã hội cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Khu vực III: Gồm 5 xã (Phố Lu, Trì Quang, Thái Niên, Phong Niên,
Bản Cầm) có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, ở xa trung tâm huyện, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, các dịch vụ xã hội còn hạn chế Bảo Thắng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa lớn chiếm 80% lượng mưa cả năm, trong đó các tháng 6, 7, 8 có lượng mưa lớn nhất (> 300 mm/tháng)
bình hằng năm dao động trong khoảng 1.300 - 1.500 mm Mùa khô kéo dài từ
độ hạ xuống thấp tới 3-70C Nhiệt độ trung bình trong năm từ 230C đến
huyện Bảo Thắng trong một năm là 8.0000C, nhiệt độ thấp nhất dưới 200C,
trung bình 1-2m/s, vào mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng đông bắc Trong những tháng 3, 4, gió đông mạnh có khi gần tới 40m/s Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió tây nam khô và nóng xuất hiện vào các tháng 5, 6, 7
Do ảnh hưởng của địa hình, địa mạo trong khu vực đã gây nên một số hiện tượng đặc biệt, như mưa phùn chủ yếu vào tháng 12, 1, 2; sương mù chủ yếu vào tháng 11, 12 [2, tr 4-5]
Trang 2315
Nhìn chung điều kiện khí hậu của huyện Bảo Thắng thích hợp cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú Mùa đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau, màu ngắn ngày có giá trị kinh tế
Với hệ thống sông suối dày đặc, có con sông lớn chảy qua (sông Hồng)
và các suối, ngòi bắt nguồn từ núi cao chảy xuống, huyện Bảo Thắng có hệ thống thủy văn phân bố đều trên địa bàn, thuận lợi cho việc khai thác, đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân
1.1.3 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Do ảnh hưởng của yếu tố địa hình, địa chất, khí hậu thời tiết, thảm thực vật , huyện Bảo Thắng có nguồn đất đai phong phú và đa dạng Kết quả phân tích, nghiên cứu của ngành Nông hóa thổ nhưỡng cho thấy, toàn huyện có các loại đất sau:
Đất phù sa sông suối: Chủ yếu là đất phù sa Sông Hồng Đây là loại đất
phù sa trung tính, kiềm yếu, giàu chất dinh dưỡng, rất màu mỡ, độ phì nhiêu cao, thích hợp với trồng lúa, rau màu và các cây trồng cạn như đậu, vừng, mía Đất phù sa sông suối khác ít màu mỡ hơn và có kết cấu không bền chặt như đất phù
sa sông Hồng nhưng vẫn thích hợp cho trồng màu và cây trồng cạn
Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất: Loại đất này có thành phần cơ giới
nặng, phân tầng phát sinh rõ rệt khá tơi xốp và hơi chua, kết cấu viên nhỏ, mức độ suy giảm độ phì nhiêu chậm, thích hợp với trồng cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới, như chè, dứa, nhãn, cam, bưởi, chuối và các loại cây nguyên liệu làm
giấy, như mỡ, keo, bồ đề…, và một số cây hoa màu khác
Đất mùn vàng đỏ: Được hình thành ven các dải đồi núi thấp có địa
hình dốc chia cắt mạnh, thành phần cơ giới trung bình và nhẹ dần Đất mùn
Trang 2416
dày, chua, độ phì nhiêu cao, giàu đạm, kali nhưng nghèo lân nên thích hợp
với trồng cây lâm nghiệp
Đất đỏ vàng trên đá biến chất do trồng lúa: Hơi ẩm, mùn khá, thịt
trung bình tơi xốp, thích hợp với trồng lúa và cây màu Đất được hình thành
do Feralit hóa nhưng tính chất đất đã bị biến đổi do chịu ảnh hưởng của trồng lúa, làm cho nó khác hẳn với đất Feralit Đất bị rửa trôi mùn và các hạt sét ở tầng đất mặt, kết cấu đất bị phân tán xuất hiện ở tầng dưới Những nơi được trồng lúa lâu ngày thì tầng đất mặt đã trở nên bạc màu, đặc biệt đối với những
nơi trồng cả 2 vụ lúa trong năm
Đất mùn đỏ nâu trên đá Macma bazơ: Loại đất này nằm trên địa
hình dốc chia cắt mạnh, thành phần cơ giới trung bình và nhẹ Đất nhiều mùn, chua, độ phì cao, giàu đạm kali nhưng nghèo lân nên thích hợp với
trồng cây lâm nghiệp
Đất dốc tụ biến đổi do trồng lúa: Hơi ẩm, mùn khá, thịt trung bình, tơi
xốp, thích hợp trồng lúa, cây màu và cây hằng năm
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010
STT Mục đích sử dụng đất Mã
Tổng diện tích các loại đất trong địa giới hành chính (ha)
Cơ cấu diện tích loại đất
so với tổng diện tích tự nhiên (%) Tổng diện tích tự nhiên 68219.31 100
Trang 253 Đất chưa sử dụng CSD 16920.79 24.80
(Nguồn:Số liệu tổng kiểm kê sử dụng đất năm 2010 [49])
Trang 2618
Nhìn chung đất đai của huyện khá đa dạng thích hợp trồng nhiều loại cây nông, lâm nghiệp khác nhau Những loại đất này là đối tượng sản xuất chính và đều được khai thác trong sản xuất nông - lâm nghiệp
- Tài nguyên nước: Huyện Bảo Thắng có 2 nguồn nước chính là nguồn
nước mặt và nước ngầm
Nước mặt: Chủ yếu khai thác sử dụng từ các sông, suối, kênh mương,
ao hồ trên địa bàn, trong đó sông Hồng là nguồn cung cấp nước chính Đoạn sông Hồng chảy qua huyện dài 42 km, chia huyện Bảo Thắng thành hai khu vực hữu ngạn và tả ngạn Khu Hữu ngạn có nhiều suối lớn, đều bắt nguồn từ dãy núi Phan Xi Păng, như ngòi Bo, ngòi Nhú, suối Nhớn, suối Chát, suối Lu, suối Bắc Ngầm, suối Bông Nhìn chung các dòng suối đều dốc, lưu lượng nước không đều, luồn lách và vòng vèo trên các triền núi, đồi Nhiều dòng nư-
ớc từ trong lòng núi đồi chảy ra liên tục, nhân dân đã tạo mương máng dẫn nước về sử dụng cho sinh hoạt phục vụ đời sống và trồng trọt Tuy nhiên, lượng nước này không ổn định và phân bố không đều, phụ thuộc chủ yếu vào địa hình, lớp phủ thực vật, chất lượng nước mặt không đảm bảo, nhiễm bẩn
do phân huỷ các chất hữu cơ, hoá chất, phân bón
Nước ngầm: Khảo sát ban đầu cho thấy nguồn nước ngầm trên địa
bàn huyện có trữ lượng dồi dào ở độ sâu khác nhau, chất lượng nước khác nhau, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Hiện nay, trên địa bàn huyện đã có các công trình cung cấp nước sạch đưa vào sử dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
- Tài nguyên rừng: Năm 2005 diện tích rừng của huyện hơn 32.000 ha,
trong đó diện tích rừng tự nhiên hơn 20.000 ha; ngoài ra còn có rừng phòng hộ,
rừng sản xuất Với mục tiêu vừa bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, vừa
trồng mới trên những khu vực đất trống đồi trọc, trong những năm 2005 -
2010, huyện Bảo Thắng đã thực hiện kế hoạch trồng rừng mới gần 13.000 ha,
Trang 27có nhiều nhà máy chế biến lâm sản Phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc ngày càng được nhân rộng, thu nhập của người lao động
từ sản phẩm lâm nghiệp được cải thiện rõ rệt
- Tài nguyên khoáng sản: Huyện Bảo Thắng có nhiều tài nguyên
khoáng sản quý Mỏ quặng Apatít với trữ lượng lớn, hàm lượng cao, chạy dài hàng chục kilômét bên hữu ngạn sông Hồng Apatít ở đây hầu như nguyên chất, trải rộng, không những là tài nguyên quý mà còn giàu độ phì cho đất, rất thuận tiện cho trồng trọt Bảo Thắng còn có các mỏ cao lanh, mi
ca, đất sét trắng, quặng sắt, đá, cát sỏi Đây là nguồn tài nguyên quý giá
mà thiên nhiên đã dành cho Bảo Thắng, tạo điều kiện thuận lợi cho huyện
phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Bảo Thắng
Nằm ở khu vực biên giới cửa ngõ tỉnh Lào Cai, Bảo Thắng là một trong những huyện có vị trí địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh Vị trí chiến lược đó cũng đã tạo điều kiện để Bảo Thắng trở thành đầu mối thông thương kinh tế, giao lưu văn hóa với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Trong những năm 2005 - 2010, mặc dù phải đối mặt trước những khó khăn, thách thức của cuộc khủng hoảng kinh tế, song với chủ trương, quan điểm, định hướng đúng đắn cùng với sự năng động, linh hoạt trong công tác chỉ đạo, điều hành, sự quyết tâm phấn đấu của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc,
kinh tế - xã hội của huyện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Trang 2820
1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Trong những năm 2005 - 2010, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, nền kinh tế huyện Bảo Thắng đã có những bước tăng trưởng nhanh và bền vững Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm thời kì này từ 15% đến 17%; thu nhập bình quân đầu người đạt 8,4 triệu đồng/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Năm 2010, tỉ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP chiếm 23,81%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 60,35%; dịch vụ và thương mại chiếm 15,84% Sản xuất lương thực liên tục được mùa, năm 2010 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 35.100 tấn [37, tr 24]
Với lợi thế là cửa ngõ của tỉnh Lào Cai, lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ được khai thác có hiệu quả, đã và đang tạo bước phát triển mạnh mẽ cho huyện Bảo Thắng
Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng năng suất và hiệu quả kinh
tế cao Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành Nông, Lâm nghiệp là 7% - 9%/năm Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn tiếp tục được quan tâm chỉ đạo Tính đến thời điểm thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới (năm 2010), trên địa bàn huyện đã hình thành vùng sản xuất lúa giống tại 2 xã Sơn Hải, Xuân Giao; thực hiện 300 ha lúa chất lượng cao bằng giống ĐS1 (vụ xuân 124,4 ha; vụ mùa 175,6 ha) và thành lập các tổ, nhóm sản xuất lúa chất lượng cao tại các xã: Phú Nhuận, Sơn Hải, Xuân Quang, Phong Niên, Thái Niên Huyện còn liên doanh với Công ti Hoa Lợi để bao tiêu sản phẩm lúa cho nông dân, phát triển vùng trồng chuối cấy mô ở Bản Phiệt 786 ha; Bản Cầm 150 ha; Thái Niên 614 ha; Sơn Hà 16 ha; cây cao su 207,13 ha; cây dứa 95 ha tại các xã Bản Phiệt, Bản Cầm, Thái Niên…[37, tr 3]
Trang 2921
Ngoài ra, huyện còn phát triển các mô hình chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại quy mô lớn mang tính công nghiệp và an toàn dịch bệnh, gắn với công tác bảo vệ môi trường Toàn huyện có 21 hợp tác xã (HTX), với tổng số 842 xã viên thường xuyên có việc làm ổn định Kinh tế trang trại phát triển, toàn huyện có 283 hộ gia đình sản xuất theo hướng trang trại Trong đó,
57 hộ gia đình có trang trại đạt tiêu chí mỗi năm thu nhập từ 40 triệu đồng trở lên, tập trung ở các xã: Gia Phú, Sơn Hải, Sơn Hà, Xuân Quang, Phú Nhuận, Thái Niên So với năm 2005, tính đến năm 2010, đàn trâu, bò 15.604 con, tăng 6%; đàn lợn 139.207 con, tăng 39,2%; đàn gia cầm 1.288.000 con, tăng 22,08% Tổng sản lượng thịt xuất chuồng là 8.643 tấn (trong đó trâu, bò 302 tấn; lợn 7.026 tấn; gia cầm 1.263 tấn) [37, tr 4]
Nhờ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa nên ngành chăn nuôi hằng năm thu 15 - 19 tỉ đồng Cơ sở vật chất kĩ thuật và kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng làm cho diện mạo vùng nông thôn của huyện đổi mới Một bộ phận nhân dân thích ứng nhanh với cơ chế mới vươn lên làm giàu chính đáng Toàn huyện có 3.000 hộ sản xuất giỏi Riêng khu vực nông nghiệp, nông thôn
có 1.178 hộ giàu [37, tr 4] Nhiều cá nhân và tập thể chăn nuôi giỏi, điển hình
là gia đình ông Lương Bá Hoành ở thôn 1, thị trấn Phong Hải, luôn duy trì nuôi 300 con lợn thịt, hàng chục con lợn nái và 2 con lợn đực phục vụ việc phối giống cho lợn nái; là Hợp tác xã Quý Hiền chăn nuôi lợn và gà theo quy trình công nghệ hiện đại với tổng vốn đầu tư lên đến hàng chục tỉ đồng Giống lợn nuôi tại các trại của hợp tác xã đều là giống lợn ngoại, quy mô từ 2.000 - 3.000 con [37, tr 4], được nuôi tại các trang trại của xã viên và được đóng bảo hiểm chăn nuôi khi gặp rủi ro Giống gà tại các trại của Hợp tác xã Quý Hiền là gà tam hoàng trắng và đỏ, quy mô 10 - 11 vạn con/lứa, doanh thu trên
400 triệu đồng Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các mô hình chăn nuôi gia súc (trâu, bò) đem lại hiệu quả kinh tế cao, như trang trại của hộ gia đình ông Trần Hồng Thanh xã Phú Nhuận, gia đình ông Nguyễn Anh Tuynh xã Xuân Giao, mỗi trang trại nuôi 200 con trâu, bò
Trang 3022
Phần lớn các mô hình đã áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới vào phát triển sản xuất và thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh có hiệu quả Cơ bản các trang trại đều được đầu
tư phát triển với quy mô tương đối lớn, từ vài trăm triệu đến vài tỉ đồng Các trang trại luôn đảm bảo có hệ thống xử lí chất thải bằng công nghệ biogas hoặc bể phân hủy sinh học hiện đại để tránh ô nhiễm môi trường và tận dụng khí gas để thắp sáng cũng như sưởi ấm cho vật nuôi
Huyện Bảo Thắng bước đầu khai thác có hiệu quả những ưu thế và tiềm năng mặt nước nuôi trồng Nhiều giống thuỷ sản mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao được đưa vào sản xuất, năm 2010 giá trị đạt trên 50 triệu đồng/ha, sản lượng xấp xỉ 1.500 tấn [38, tr 2]
Sản xuất lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, từ lâm nghiệp có
quản lí, đầu tư của Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội có sự tham gia tích
cực của các thành phần kinh tế Huyện đã hoàn thành các chỉ tiêu trong sản
xuất lâm nghiệp, trồng rừng tập trung, khoanh nuôi tái sinh, nhất là đổi mới việc giao khoán bảo vệ rừng bước đầu đạt kết quả Đến năm 2010, toàn huyện giao trên 10.000 ha rừng 5 tuổi đã hết hạn được Nhà nước đầu tư cho nhân dân quản lí
Nhờ tuyên truyền, khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, phát huy giá trị kinh tế từ mô hình kinh tế VACR (kết hợp mô hình kinh
tế vườn rừng với kinh tế VAC), nên kinh tế hộ gia đình có những bước phát
triển nhanh Công ti Cổ phần Lâm nghiệp và Dự án 661 được kiện toàn, thực
hiện tốt chức năng quản lí nhà nước về lâm nghiệp Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân hằng năm 5,48% [37, tr.4] Cùng với việc thường xuyên tăng cường công tác bảo vệ rừng và nâng cao nhận thức của nhân dân
về thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng, huyện có kế hoạch làm giàu vốn rừng, khai thác có hiệu quả kinh tế vườn rừng Trong 5 năm (2005 - 2010),
Trang 3123
12.000 triệu đồng [38, tr.2]
Nhìn chung, trong những năm 2005 - 2010, kinh tế nông, lâm nghiệp
và thủy sản trên địa bàn huyện liên tục có bước phát triển Sản lượng lương thực, gia súc, gia cầm, thủy sản liên tục tăng Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
đã đạt được, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn tồn tại một số hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu thời vụ trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở một
số thôn, xã của huyện còn chậm Một bộ phận nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước nên việc chuyển giao, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất chưa cao Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm được đầu tư, chú trọng nhưng chưa kịp thời
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản được
đẩy mạnh và phát triển Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng, từng
bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Hoạt động chủ yếu là khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu xây dựng trong huyện và một số địa phương khác, tập trung ở các xã: Bản Cầm, Gia Phú, Xuân Giao Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và xây dựng cơ bản bình quân tăng 25,21%/năm; năm 2010 giá
trị sản xuất đạt 45 tỉ đồng Nhà máy chế biến chè Phong Hải hằng năm thu mua 2.000 tấn chè chế biến xuất khẩu, doanh thu đạt trên 9 tỉ đồng [37, tr.5]
Cùng với việc phát triển nhiều doanh nghiệp về gia công lắp ráp cơ khí,
sơ chế biến nông sản và một số ngành nghề thủ công truyền thống, huyện Bảo Thắng đã quy hoạch và công bố 4 cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung với tổng diện tích trên 20 ha, gồm thị trấn Phố Lu và các xã Gia Phú, Xuân Quang, Bản Phiệt [38, tr 3]
Công tác quy hoạch và xây dựng cơ bản được chú trọng Vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tăng bình quân 14,15%/năm, chủ yếu tập trung đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn Công tác quy hoạch phát
Trang 3224
triển đô thị thường xuyên được quan tâm Theo phương châm Nhà nước và
nhân dân cùng làm, đến năm 2010, huyện Bảo Thắng đã mở mới 99 tuyến
đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài 232 km, đảm bảo 15/15 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, 92,21% thôn bản có đường liên thôn đi lại thuận lợi; đưa vào sử dụng 128 phòng học kiên cố; hoàn thành 102,4 km kiên cố hoá kênh mương, nâng diện tích tưới tiêu đạt 76% tổng diện tích canh tác, 85% số hộ có điện lưới [37,tr.5]
Thương mại, dịch vụ: Các loại hình dịch vụ có bước phát triển mới
theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ
đời sống nhân dân Giá trị sản xuất của ngành Dịch vụ tăng bình quân mỗi
năm trong thời kì 2005 - 2010 là 13,02%, chiếm tỉ trọng 20,95% cơ cấu giá trị sản xuất ra các ngành kinh tế Tổng mức bán lẻ xã hội tăng bình quân hằng năm 17,73% [37, tr 5] Dịch vụ ngoài quốc doanh phát triển đa dạng tới các xã, thị trấn Huyện khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ, chợ nông thôn và hoạt động khai thác nông, lâm sản từ vườn rừng của nhân dân sang thị trường huyện Hà Khẩu (Trung Quốc); cung cấp nguyên, vật liệu trên địa bàn trong và ngoài tỉnh
Hoạt động dịch vụ khoa học kĩ thuật nông nghiệp ở nông thôn được tăng cường Hệ thống tổ chức khuyến nông ở 100% các xã, thị trấn; mỗi xã, thị trấn có 1 khuyến nông viên Công tác thú y, bảo vệ thực vật cũng được xây dựng từ huyện đến các xã, phối hợp với lực lượng khuyến nông cơ sở thực hiện công tác dự tính, dự báo, nắm chắc mọi diễn biến về dịch hại để tham mưu cho các cấp chính quyền có biện pháp bảo vệ sản xuất Việc cung ứng các mặt hàng vật tư nông nghiệp và giống do nhiều công ti và các tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu của sản xuất
Các dịch vụ tín dụng trong những năm 2005 - 2010 phát triển không ngừng Các hình thức cho vay vốn đa dạng, thông qua các nhóm, tổ tín dụng, tín chấp qua các tổ chức đoàn thể hoặc cho vay trực tiếp đến hộ Thủ tục vay
Trang 3325
vốn ngày càng được cải tiến nên hầu hết các hộ nông dân có nhu cầu đều được vay vốn để phát triển sản xuất, góp phần giải quyết việc làm, xoá đói giảm
nghèo, tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ trên địa bàn Doanh số cho vay tăng
trung bình 35%/năm Tổng nguồn vốn huy động bình quân tăng 12%/năm
Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá được nâng lên Giá trị vận tải hàng hoá hành khách tăng 27,74%, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của nhân dân trên địa bàn
1.2.2 Đặc điểm xã hội
Tổng dân số toàn huyện Bảo Thắng năm 2010 là 107.585 người thuộc
17 thành phần dân tộc cùng chung sống hòa thuận Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 68,9%, dân tộc Dao 12,45%, dân tộc Tày 8,2%, dân tộc Mông 7,13%, dân tộc Giáy 3,3%; dân tộc Nùng 2,92%, dân tộc Phù Lá 1,2%, dân tộc Mường 0,21%, còn lại các dân tộc khác chiếm 0,32% Các dân tộc Bảo Thắng đoàn kết, cần cù lao động, có ý chí tự lập, tự cường khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, đấu tranh cải tạo tự nhiên và phát triển nền kinh tế - xã hội, đưa huyện Bảo Thắng phát triển trong tương lai
Sự nghiệp giáo dục phát triển tương đối toàn diện, quy mô giáo dục tăng nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại các trường mầm non và chất lượng giáo dục của các ngành học, bậc học phổ thông được nâng lên Số học sinh khá giỏi hằng năm chiếm tỉ lệ cao: Tiểu học 51%, Trung học cơ sở: 29,48%, Trung học phổ thông: 24,5%; tỉ lệ tốt nghiệp hằng năm đạt từ 86% trở lên Số giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn chiếm 83,89% Công tác phổ cập giáo dục tiểu học được duy trì và củng cố; chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở hoàn thành đúng tiến độ, tỉ lệ huy động trẻ ra lớp đạt 99,33% Toàn huyện có 15 trường đạt chuẩn Quốc gia (trong đó có 4 trường đạt chuẩn mức
độ 2) Chất lượng giáo dục phổ thông từng bước được nâng lên Cơ sở vật
Trang 3426
chất các trường học được đầu tư, không còn lớp học ba ca, cơ bản xoá bỏ phòng học tạm Công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được mở rộng, phát triển mô hình các lớp bán trú dân nuôi ở Phong Hải, Thái Niên, Tằng Loỏng, lớp 10 phổ thông trung học tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Hội Khuyến học từ huyện đến các cơ quan, các xã, thị trấn được thành lập, hoạt động có hiệu quả
Văn hóa thông tin được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việc tuyên
truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa Phong trào xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được triển khai tích cực, nhân dân đoàn kết xây dựng nếp sống văn hoá mới Số hộ gia đình, tổ, thôn, làng bản văn hoá ngày càng tăng Đến năm
2010, toàn huyện có 78% gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hoá, 50% làng đạt tiêu chuẩn Làng văn hoá; xây dựng được 52 nhà văn hoá thôn bản Việc tổ
chức thí điểm mô hình trung tâm học tập cộng đồng xã Phú Nhuận đạt kết quả tốt, được nhân dân ủng hộ Trên địa bàn huyện, 8/15 xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng
Công tác phát thanh, truyền hình được quan tâm phát triển, thực hiện tốt việc chuyển tải các thông tin, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước đến với nhân dân Thời lượng tiếp sóng, phát sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam; thời lượng phát thanh, truyền hình địa phương và thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc liên tục gia tăng qua các năm Đến hết năm 2010, tỉ lệ số hộ được xem truyền hình chiếm 75%, tăng 8% so năm 2005; tỉ lệ số hộ nghe đài chiếm 95%, tăng 8% so năm
2005 [37, tr 6] Chất lượng dịch vụ bưu chính, viễn thông ngày càng tốt hơn, đảm bảo thông tin liên lạc, phát hành báo chí Đến năm 2010, 15/15 xã, thị trấn có điện thoại, phủ sóng di động Tổng số máy điện thoại toàn huyện có 3.431 chiếc, đạt tỉ lệ 3,31 máy/100 dân; 12/15 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã; 15/15 xã, thị trấn có báo đọc trong ngày [37, tr 6]
Trang 35mẫu, các xã theo trình tự đó tiến hành Với bề dày truyền thống, ngày nay
trong quá trình CNH, HĐH đất nước, nhân dân toàn huyện đoàn kết một lòng hăng hái lao động xây dựng quê hương giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, mạnh
về quốc phòng
Hoạt động thể thao diễn ra sôi động, tỉ lệ số người thường xuyên tham gia luyện tập thể dục, thể thao năm 2010 chiếm 21% dân số toàn huyện, tăng 4,5% so với năm 2005; 15/15 xã, thị trấn có đội văn nghệ, thể dục thể thao
Cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động thể dục thể thao từng bước được đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của phong trào
Công tác y tế được chú trọng, đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp Toàn huyện có 3 phòng khám
đa khoa khu vực, 15/15 xã, thị trấn có trạm y tế và y sĩ sản, nhi; 8 cơ sở có bác
sĩ, 99% thôn bản có cán bộ y tế hoạt động; đảm bảo có 2,1 cán bộ y tế/1.000 dân Hết năm 2010, có 10/12 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, 92,6% số thôn bản
có nhân viên y tế hoạt động Công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo và trẻ
em dưới 6 tuổi được thực hiện tốt Đồng bào dân tộc, các hộ chính sách được Nhà nước quan tâm cấp bảo hiểm y tế miễn phí; do đó tỉ lệ số dân được hưởng bảo hiểm y tế cơ bản đạt yêu cầu theo tiêu chí Quốc gia Công tác tiêm chủng
mở rộng đạt tỉ lệ bình quân 98%/năm Tỉ lệ người mắc và chết do các dịch, bệnh giảm rõ rệt qua các năm Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đạt kết quả khá Đến năm 2010, tỉ lệ trẻ em dưới
5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn 26%; tỉ lệ sinh hằng năm giảm 0,41%; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 14,16% [37, tr 8] Hệ thống
Trang 3628
cung cấp các dịch vụ y tế được mở rộng đến các thôn bản, công tác xã hội hoá
về y tế từng bước được đẩy mạnh, các cơ sở y tế tư nhân từng bước phát triển
Các vấn đề xã hội khác được quan tâm giải quyết Trong 5 năm (2005 - 2010), huyện đã tạo thêm việc làm mới cho 7.619 lao động Bình quân mỗi năm huyện hỗ trợ giải quyết việc làm cho 2.030 người trong độ tuổi lao động, đạt 107% [37, tr 8] Thực hiện Quyết định 134/CP của Chính phủ, huyện đã
ổn định và sắp xếp chỗ ở cho 321 hộ dân cư, trong đó có 58 hộ dân cư ra sinh sống ở xã biên giới
Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo
cơ hội và điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao trình độ dân trí, thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Tỉ lệ hộ nghèo
hằng năm giảm từ 4% đến 5% Công tác chăm sóc người có công được các
cấp uỷ đảng, chính quyền tập trung chỉ đạo và thực hiện đồng bộ Huyện Bảo Thắng quản lí 4.232 người thuộc diện đối tượng người có công theo Nghị định số 54 của Chính phủ, trong đó có trên 1.200 người thuộc đối tượng được hưởng chế độ chi trả hằng tháng Phong trào đền ơn đáp nghĩa, làm việc từ thiện, cứu trợ nhân đạo được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng
Khoa học và công nghệ có bước chuyển biến, hướng vào phục vụ sản xuất
và đời sống nhằm nâng cao khối lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá, đóng góp tích cực vào xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông từng bước được hoàn thiện
Bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng Nhận thức và hành động
về bảo vệ môi trường trong cộng đồng xã hội được nâng lên, bước đầu hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm Việc thu gom, xử lí chất thải rắn, chất thải y tế, nước thải được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện Các xã trong toàn huyện
đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo các thôn, bản duy trì chế độ tổng vệ sinh hằng tháng; hướng dẫn các hộ gia đình chủ động xây dựng mỗi hộ 1 công trình chứa chất thải để xử lí theo hướng đảm bảo vệ sinh môi trường Các thôn, bản
Trang 3729
thường xuyên tổ chức vệ sinh, phát quang đường làng, ngõ xóm, đào hố rác
hộ gia đình, điểm dân cư, xây dựng nhà vệ sinh
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, huyện Bảo Thắng còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đó là:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế vẫn còn thiếu đồng bộ, nhất là khu vực nông thôn, vùng cao, vùng xa
- Do tác động suy thoái kinh tế, nên nhiều công trình, dự án đầu tư khó khăn, phải chững lại, đặc biệt là công trình xây dựng các khu tiểu thủ công nghiệp, các dự án thu hút đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, du lịch, công nghiệp
- Hệ thống trường lớp học, nhà ở giáo viên và học sinh bán trú, trạm y
tế xã, trụ sở cơ quan hành chính cấp xã còn nhiều khó khăn
- Mạng lưới y tế cơ sở, nhất là thôn bản còn khó khăn, thiếu những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực y tế
- Bảo Thắng hiện còn 5 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, nguồn lao động tại chỗ chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, thiếu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật
Tiểu kết chương 1
Bảo Thắng là một huyện vùng thấp của tỉnh Lào Cai có vị trí địa lí và tiềm năng thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc xây dựng
nông thôn mới nói riêng Tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện trong
những năm trước khi tiến hành cuộc vận động xây dựng nông thôn mới đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, nhất là
ở các xã vùng sâu, vùng xa Đối chiếu với 19 tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới, huyện Bảo Thắng mới có 1 xã (Phú Nhuận) đạt được 6 tiêu chí, còn lại đại bộ phận các xã chỉ đạt được 4 đến 5 tiêu chí, đặc biệt
có 2 xã (Phong Niên, Trì Quang) chỉ mới đạt 2 và 3 tiêu chí Vì vậy, từ khi có
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xác định nhiệm vụ thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
các dân tộc huyện Bảo Thắng nhiệt tình hưởng ứng tham gia
Trang 3830
Chương 2
CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN BẢO THẮNG (2007 - 2015)
2.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Quan niệm về nông thôn và nông thôn mới
Nông thôn là nơi ở, nơi cư trú của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu
là nông dân chuyên sản xuất nông nghiệp Nói cách khác, nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lí bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã [11, tr 1]
Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã khẳng định, trong toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, không được tách rời nông nghiệp với công nghiệp Trong giai đoạn hiện nay phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa “Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về
nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng
đầu của nông nghiệp” [23, tr.48]
Trên cơ sở ngày càng nhận thức đúng đắn hơn vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân đối với sự nghiệp cách mạng, Đại hội lần
thứ VII của Đảng tiếp tục bổ sung, khẳng định và làm rõ tầm quan trọng
của vấn đề này Nét nổi bật của Đại hội VII là nhấn mạnh vị trí, vai trò của nông nghiệp và kinh tế nông thôn; coi phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước, có ý nghĩa quyết định đối với ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Đại hội lần thứ IX của Đảng và nhất là Nghị
quyết Trung ương 5 về Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn thời kì 2001-2010 đã làm rõ hơn những nội dung tổng
quát và quan điểm của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đó là
Trang 3931
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm dần
tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân ở nông thôn [26, tr.198]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò,
vị trí của nông nghiệp, nông thôn: “Phát triển nông nghiệp, nông thôn là sự lựa
chọn bước đi đúng đắn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [27,tr.29] Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội lần thứ X, Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 26 về Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, tiếp tục khẳng định những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
Như vậy, trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn thời kì đầu quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước phát triển và hoàn thiện tư duy về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn Đảng đã sớm khẳng định: Muốn tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải bắt đầu từ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, phải tập trung nguồn lực đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo ra nguồn tích lũy ban đầu cho công nghiệp hóa Trong quá trình phát triển nhận thức của Đảng, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là những vấn đề mang tầm chiến lược của cách mạng Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 4032
Về khái niệm nông thôn mới, hiện nay có nhiều quan niệm, cách hiểu
khác nhau Một số người cho rằng, “mới” của nông thôn là mới về các tiêu chí
đánh giá sự phát triển nông thôn và mới ở xuất phát điểm từ xã Việc đánh giá nông thôn mới theo một hệ thống các tiêu chí về kinh tế, chính trị, xã hội, tổ
chức là khá toàn diện và được coi là mới Như vậy, cái “mới” trong Chương
trình xây dựng nông thôn mới là nhìn nhận sự phát triển nông thôn mang tính tổng hợp, đa ngành mà xã phải đạt được Đây là cách nhìn nhận toàn diện và phù hợp Tiếp cận đa ngành và tổng hợp trong phát triển nông thôn đã được nhiều quốc gia áp dụng từ những năm 70 và 80 của thế kỉ XX Các nước châu
Á, nhất là Đông Á như Hàn Quốc, Trung Quốc cũng có nhiều kinh nghiệm khác nhau trong việc chọn điểm xuất phát cho phát triển nông thôn
Việt Nam khởi đầu cho phát triển nông thôn từ cấp xã, Hàn Quốc bắt đầu từ làng, còn Trung Quốc lại đi từ hương trấn Hàn Quốc thực hiện mô hình phát triển làng mới - Saemaul Undong từ những năm 70 của thế kỉ XX Đến cuối thập kỉ 70, thu nhập của cư dân nông thôn cao gần bằng thành thị Trung
Quốc cũng tiến hành chương trình nông thôn mới từ hương trấn Hàm ý “mới”
trong chương trình nông thôn mới của Hàn Quốc và Trung Quốc không phải là
tiêu chí đánh giá như Việt Nam, mà là “mới” về cách làm và cách tiếp cận Cái
“mới” trong chương trình nông thôn mới Hàn Quốc là ở chỗ Chính phủ tập
trung nỗ lực cho phát triển làng, như đầu tư hạ tầng, thu hút đầu tư trong nước vào nông nghiệp và nông thôn để cung cấp đầu vào, chế biến và tiêu thụ đầu ra, tạo việc làm, tạo cơ hội để nông dân tự mình đứng lên Nông dân là người chủ
đích thực của sự phát triển [8, tr.18-19] Hàm ý “mới” trong phát triển nông
thôn ở Trung Quốc thể hiện ở các điểm sau: Nông thôn đang được phát triển trong bối cảnh mới, giai đoạn mới chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang giai đoạn phát triển hàng hóa, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm [32,tr.17] Chiến lược
phát triển kinh tế, xã hội Trung Quốc là “lấy công nghiệp bổ trợ nông nghiệp,
lấy thành thị dẫn dắt nông thôn, thành thị và nông thôn phát triển hài hòa”[43,