Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thanh Hoá trong mối quan hệ với cơ cấu cây trồng CCCTr theo hướng sản xuất hàng hoá...62 3.1.1.. Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ ĐỨC KÍNH
NGHIÊN CỨU CHYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI THÀNH PHỐ
THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2015
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ ĐỨC KÍNH
NGHIÊN CỨU CHYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI THÀNH PHỐ
THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
CHUYÊN NGÀNH : Khoa học cây trồng
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Thầy hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng
2 PGS.TS Trịnh Khắc Quang
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận án về đề tài “Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá”,
chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy hướng dẫn, sự giúp đõ
nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, Ban Đào tạo Sau Đại học, Trung tâm Chuyển giao
Công nghệ và Khuyến Nông, Viện KHNN Việt Nam; các Thầy, Cô giáo và bạn bè
đồng nghiệp
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến: PGS TS
Nguyễn Huy Hoàng, nguyên trưởng phòng Đào tạo Sau Đại học Viện KHKTNN
Việt Nam; PGS.TS Trịnh Khắc Quang, Giám đốc Viện KHNN Việt Nam Là hai
người thầy hướng dẫn khoa học giúp đỡ tôi từ những ý tưởng đầu tiên đến suốt quá
trình nghiên cứu và thực hiện Luận án Tiến sỹ nông nghiệp tại Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Viện khoa học Nông nghiêp Việt
Nam, Ban lãnh đạo Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông và các
Thầy, Cô, cán bộ Ban Đào tạo sau Đại học, Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và
Khuyến nông đã quan tâm giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Ủy Ban nhân dân Thành phố;
Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên & Môi trường; Chi cục thống kê Thành phố;
Trạm khuyến nông; Ủy ban nhân dân các phường, xã thực hiện thí nghiệm; Ban
giám đốc Công ty TNHH một thành viên Môi trường & CTĐT Thanh Hóa và các
phòng; đơn vị đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi để thực hiện và hoàn thành
luận án
Hoàn thành luận án còn có sự động viên, khuyến khích giúp đỡ của các bạn
đồng nghiệp và gia đình Tất cả những sự giúp đỡ và tình cảm quý báu này là
nguồn động lực lớn lao giúp tôi hoàn thành tốt bản luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Đức Kính
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng tất cả các kết quả nghiên cứu và thực nghiệm trong luận án này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tác giả luận án
VŨ ĐỨC KÍNH
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm một số yếu tố khí hậu tại TP Thanh Hoá ……… ………… 66
Bảng 3.2 Mùa vụ trồng trọt và loại cây trồng ở thành phố Thanh Hoá 67
Bảng 3.3 Tính chất lý hoá học của nhóm đất phù sa có tầng đốm rỉ glây nông 69
Bảng 3.4 Tính chất lý hóa học của đất thịt phù sa chua glây nông 69
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về phát triển KT 2011–2012 của TP Thanh Hoá……….73
Bảng 3.6 Cơ cấu cây trồng vụ Xuân và khả năng sản xuất hàng hóa ở
thành phố Thanh Hóa năm 2012……… …….78
Bảng 3.7 Cơ cấu cây trồng vụ Mùa và khả năng sản xuất hàng hóa 79
Bảng 3.8 Cơ cấu cây trồng vụ Đông và khả năng sản xuất hàng hóa 80
Bảng 3.9 Loại cây trồng vụ Xuân và hiệu quả kinh tế năm 2012……… 81
Bảng 3.10 Loại cây trồng vụ Mùa và hiệu quả kinh tế của chúng tại TP Thanh Hóa, năm 2012 (triệu đồng/ha)……… 82
Bảng 3.11 Loại cây trồng vụ Đông và hiệu quả kinh tế của chúng tại TP Thanh Hóa, năm 2012 (triệu đồng/ha) 82
Bảng 3.12 Cơ cấu giống lúa và hiệu quả kinh tế của chúng trong vụ Xuân 84
Bảng 3.13 Cơ cấu giống lúa và hiệu quả kinh tế trong vụ Mùa 85
Bảng 3.14 Cơ cấu giống ngô và hiệu quả kinh tế của chúng 86
Bảng 3.15 Cơ cấu giống lạc và hiệu quả kinh tế của chúng ……….…….87
Bảng 3.16 Giống khoai lang và hiệu quả kinh tế 87
Bảng 3.17 Hiện trạng sử dụng đất của TP Thanh Hóa năm 2012-2014……… …89
Bảng 3.18 Tổng hợp các nhóm đất theo địa hình và chế độ canh tác trong nông nghiệp ở thành phố Thanh Hoá, năm 2012 90
Bảng 3.19 Diện tích và cơ cấu của các công thức luân canh trên nhóm đất bãi của TP Thanh Hóa năm 2012 91
Bảng 3.20 Diện tích, cơ cấu của các công thức trồng trọt trên nhóm đất vàn cao ở trong đê của TP Thanh Hóa, năm 2012 91
Bảng 3.21 Diện tích và cơ cấu của các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất vàn ở trong đê của TP Thanh Hóa năm 2012 92
Bảng 3.22 Diện tích, cơ cấu của các công thức canh tác trên nhóm đất trũng ở trong đê của TP Thanh Hóa năm 2012……… ……93
Bảng 3.23 Các công thức trồng trọt trên nhóm đất bãi và hiệu quả kinh tế 94
Trang 6Bảng 3.24 Các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất bãi và hiệu quả xã hội… 95Bảng 3.25 Các công thức trồng trọt trên đất bãi và hiệu quả môi trường 95Bảng 3.26 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên nhóm đất cao trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013 ……….… 96Bảng 3.27 Hiệu quả xã hội của các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất cao trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013 97Bảng 3.28 Hiệu quả môi trường của các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất cao trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013……… …97Bảng 3.29 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất vàn trong đê của TP Thanh Hóa, năm 2013 98Bảng 3.30 Hiệu quả xã hội của các công thức trồng trọt trên loại/nhóm đất vàn trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013 99Bảng 3.31 Hiệu quả môi trường của loại sử dụng đất vàn trong đê 100Bảng 3.32 Hiệu quả kinh tế của các công thức canh tác trên nhóm đất trũng trong
đê của TP Thanh Hóa năm 2013……… … 100Bảng 3.33 Hiệu quả xã hội của các công thức trên nhóm đất trũng trong đê 101Bảng 3.34 Hiệu quả môi trường của loại sử dụng đất trũng trong đê 101Bảng 3.35 Lợi nhuận của cơ cấu cây trồng hiện trạng trên các loại/nhóm đất ở TP Thanh Hóa……… 102Bảng 3.36a Dự báo mức tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thanh Hóa giai đoạn 2015 – 2020 định hướng đến năm 2025 ………… 104Bảng 3.36b Dự báo mức tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp trên các địa bàn khác ngoài TP Thanh Hóa, giai đoạn 2015 – 2020 định hướng đến năm 2025……….105 Bảng 3.37 Đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2012, tại xã Quảng Thắng TP Thanh Hoá……… 108 Bảng 3.38a Đặc điểm nông học chính và khả năng sinh trưởng phát triển của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2012, tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hoá……….……….109 Bảng 3.38b Đặc điểm nông học chính và khả năng sinh trưởng phát triển của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2013, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 110
Trang 7Bảng 3.39a Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các giống trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2012, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 111
Bảng 3.39b Yếu tố cấu thành năng suất và NSLT của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Xuân và Mùa năm 2013, tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hoá 112
Bảng 3.40 Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2012 và 2013, tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hoá 114 Bảng 3.41 Phản ứng của các giống lúa với các đối tượng sâu, bệnh hại chính (điểm), tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hoá 116 Bảng 3.42 So sánh năng suất thực thu của các giống lúa trong mô hình vụ Mùa 2012-2013 và vụ Xuân 2013- 2014 tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 117
Bảng 3.43 So sánh chất lượng gạo của 2 giống lúa HT6 và BT7(đ/c)… 117
Bảng 3.44 Hiệu quả kinh tế của giống HT6 trong vụ Xuân và vụ Mùa, tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa ……….119
Bảng 3.45 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm tuyển chọn giống trong vụ Đông 2012, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá……… …… 120 Bảng 3.46 Các giai đoạn sinh trưởng và TGST của các giống đậu tương thí nghiệm
vụ Đông 2012 và 2013 tại xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hoá 121 Bảng 3.47 Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ Đông 2012 và 2013, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 121
Bảng 3.48a Các yếu tố tạo thành năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm tuyển chọn giống vụ Đông 2012, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 122 Bảng 3.48b Các yếu tố tạo thành năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm tuyển chọn giống vụ Đông 2013, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 123 Bảng 3.49a Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Đông 2012, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 124
Bảng 3.49b Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ Đông 2013, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 124 Bảng 3.50 Tình hình sâu bệnh hại, tính tách vỏ quả và khả năng chống đổ của các giống đậu tương vụ Đông năm 2012, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 125 Bảng 3.51 Năng suất thực thu của các giống đậu tương mô hình vụ Đông năm 2013 trên đất ruộng cấy 2 vụ lúa, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá 126 Bảng 3.52 Hiệu quả kinh tế của các giống đậu tương thử nghiệm sản xuất trên đất 2
Trang 8vụ lúa, tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hóa vụ Đông 2013 126 Bảng 3.53 Ảnh hưởng của trồng đậu tương Đông lên hoá tính của đất 2 vụ lúa tại
xã Quảng Thắng, TP Thanh Hoá ……… 127 Bảng 3.54 Hiệu quả kinh tế của công thức lúa Xuân- lúa Mùa- đậu tương Đông trên đất vàn trong đê của TP Thanh Hóa, năm 2013……….……….128 Bảng 3.55 Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng hoa lily trên đất 2 vụ lúa tại xã Quảng Tâm, TP Thanh Hóa, vụ Đông năm 2013……….… 130 Bảng 3.56 Năng suất trung bình của các mô hình trên nhóm đất vàn cao trong đê năm 2012 – 2013 tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hóa……… …131Bảng 3.57 Hiệu quả kinh tế của các mô hình trên nhóm đất cao trong đê năm 2012 – 2013 tại xã Quảng Thắng, TP Thanh Hóa 131Bảng 3.58 Hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất rau an toàn theo nhóm …… 133Bảng 3.59 Năng suất của các thành phần NC trong HTCT trên đất trũng………134 Bảng 3.60 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác trên đất trũng……… 134 Bảng 3.61 Cơ cấu cây trồng đề xuất theo hướng sản xuất hàng hóa trên các chân /nhóm đất tại TP Thanh Hóa giai đoạn 2015- 2020 định hướng đến 2025…… 136
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng vụ Xuân 81
Hình 3.2 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng ở vụ Mùa 82
Hình 3.3 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng vụ Đông tại TP Thanh Hoá 83
Hình 3.4 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất bãi 94
Hình 3.5 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất cao trong đê 96
Hình 3.6 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất vàn trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013……… … 98
Hình 3.7 Hiệu quả kinh tế của các công thức canh tác trên chân/nhóm đất trũng trong đê của TP Thanh Hóa năm 2013 100
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN & PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UNESCO United Nation Educational, Scientific and
cultural Organization)- Tổ chức liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa
Trang 11
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỤC LỤC ix
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục đích và yêu cầu đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 4
5 Những đóng góp mới của luận án 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI .5 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Một số nhận thức và khái niệm chung 5
1.1.2 Những yếu tố chi phối sự hình thành cơ cấu cây trồng 7
1.1.3 Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 18
1.1.4 Phát triển nông nghiệp bền vững 20
1.1.5 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 24
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 28
1.2.1 Tình hình nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở ngoài nước 28
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở trong nước 32
1.3 Nông nghiệp ở thành phố Thanh Hóa và những vấn đề tồn tại 42
1.3.1 Bối cảnh chung 42
1.3.2 Nông nghiệp thành phố Thanh hóa lợi thế và tồn tại 45
1.4 Những nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu 47
Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
2.1 Nội dung nghiên cứu 49
2.2 Vật liệu nghiên cứu 49
Trang 122.3 Phương pháp nghiên cứu 50
2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp theo phương pháp kế thừa 50
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 50
2.3.3 Thu thập số liệu, thông tin từ nhóm KIP 51
2.3.4 Điều tra các công thức trồng trọt/canh tác trên các loại đất……… 53
2.3.5 Phương pháp thu thập, phân tích mẫu đất và nông sản 53
2.3.6 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng và xây dựng mô hình 53
2.3.7 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt/luân canh trên các loại /nhóm đất 60
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 61
2.4.1 Tính trung bình và độ lệch chuẩn của mẫu bằng phần mềm Excel 61
2.4.2 So sánh hai số trung bình bằng phần mềm Excel 61
2.4.3 Vẽ sơ đồ thiết kế thí nghiệm bằng phần mềm IRISTAT for Windows ver 5.0 Phân tích phương sai và tính sai số thí nghiệm bằng phần mềm thống kê chuyên dụng Statistix 8.2 61
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 62
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thanh Hoá trong mối quan hệ với cơ cấu cây trồng (CCCTr) theo hướng sản xuất hàng hoá 62
3.1.1 Vị trí địa lý và khả năng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá 62
3.1.2 Đặc điểm khí hậu và sự hình thành mùa vụ gieo trồng 66
3.1.3 Tài nguyên đất của thành phố Thanh Hoá 67
3.1.4 Đặc điểm thủy văn và tài nguyên nước ở thành phố Thanh Hoá 71
3.1.5 Điều kiện kinh tế - xã hội liên quan đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở TP Thanh Hoá 72
3.2 Đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp và hiện trạng cơ cấu cây trồng ngắn ngày ở vùng ngoại ô thành phố Thanh Hoá 76
3.2.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại thành phố Thanh Hoá 76
3.2.2 Đánh giá CCCTr ngắn ngày hiện tại của thành phố Thanh Hoá 77
3.2.3 Đánh giá các công thức trồng trọt/luân canh cây trồng trên các chân/nhóm đất chính của TP Thanh Hóa 87
Trang 133.3 Nghiên cứu và đề xuất CCCTr mới theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền
vững tại ngoại ô TP Thanh Hóa 103
3.3.1 Dự báo tình hình tiêu thụ nông sản trên địa bàn TP Thanh Hóa giai đoạn 2015 – 2020 và định hướng đến năm 2025 103
3.3.2 Các công thức trồng trọt/luân canh trên các loại/nhóm đất chính, các giống cây trồng được lựa chọn để chuyển đổi CCCTr theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững tại TP Thanh Hóa 104
3.3.3 Kết quả khảo nghiệm tuyển chọn giống và xây dựng mô hình chuyển đổi CCCTr theo hướng sản xuất hàng hoá tại TP Thanh Hoá 105
3.3.4 Đề xuất cơ cấu cây trồng mới theo hướng sản xuất hàng hoá bền vững giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến 2025 tại TP Thanh Hóa………134
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 138
1 Kết luận 138
2 Đề nghị 140
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 15MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Thanh Hoá là Trung tâm chính trị, Kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật của tỉnh Thanh Hoá, đầu mối giao thông, giao lưu hàng hóa của tỉnh và nối liền hai miền Nam Bắc Nằm gần giáp biển, ở vị trí trung độ kết nối khu vực Bắc Bộ và khu vực Bắc Trung Bộ đồng thời là đầu mối của nhiều tuyến giao thông quốc gia đi qua, Thành phố Thanh Hóa có lợi thế về giao lưu kinh tế, thương mại với nhiều vùng trong nước và bên ngoài Từ Bắc vào Nam, có tuyến đường sắt Thống Nhất, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 chạy theo ven biển, theo quy hoạch còn có tuyến cao tốc đường bộ Bắc Nam đi qua khu vực phía Tây Thành phố, tạo điều kiện rất thuận lợi cho giao lưu với các miền Bắc – Trung –Nam Từ Đông sang Tây, có các tuyến Quốc lộ 47, Quốc lộ 45 kết nối thành phố giao lưu với khu vực miền núi phía Tây của Tỉnh Thanh Hóa có các khu cửa khẩu biên giới Việt – Lào và vùng Tây Bắc tổ quốc; từ thành phố về phía Đông theo Quốc lộ 47 và tuyến đường thủy sông Mã còn kết nối giao lưu rất thuận lợi với thị xã Sầm Sơn và ra biển
Thực hiện Quyết định số 84/QĐ –TTg ngày 16/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 Thực hiện Nghị quyết số 05/2012/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính; đến nay thành phố Thanh Hóa có 37 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 20 phường và 17
xã, nâng tổng diện tích từ 58 km2 lên 146,77 km2, quy mô dân số gần 400 nghìn người Do đó Thành phố Thanh Hoá tăng lên cả diện tích, dân số, có sự thay đổi về nhiều mặt, quá trình mở rộng thành phố, đất nông nghiệp và phi nông nghiệp đều tăng lên Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa vừa phải đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho phát triển và tăng dân số trên địa bàn
Song phần lớn các bộ phận sản xuất nông nghiệp vẫn là kinh tế hộ còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, tự cung tự cấp, hiệu quả kinh tế thấp.Việc ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp còn chậm và phân tán, quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất quy mô lớn Việc nghiên cứu chuyển đổi
cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở tỉnh Thanh Hoá nói chung và Thành phố Thanh Hoá nói riêng đã và đang là một đòi hỏi bức xúc để đáp ứng sự phát triển của xã hội
Trang 16Vấn đề đặt ra cho nền nông nghiệp của Thành phố Thanh Hoá hiện nay là từng bước đưa nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao sản xuất theo hướng hàng hoá có sức cạnh tranh hội nhập với khu vực cũng như thế giới tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái hội tụ các yếu tố đa dạng sinh học, phát triển bền vững nhằm cung cấp các sản phẩm nông nghiệp cho thị trường tại chỗ và các vùng lân cận, tiến tới xuất khẩu Quá trình ấy cần tiếp cận mấy vấn đề sau:
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu cây trồng từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá Khi cơ cấu cây trồng mới được hình thành phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế xã hội sẽ kéo theo sự phát triển của nền công nghiệp chế biến, dịch vụ, chăn nuôi và ngành nghề khác
- Để có chất lượng hàng hoá và giá thành hàng hoá phù hợp với thị trường phải nâng cao hàm lượng khoa học vào quá trình sản xuất với mục đích tăng năng suất cây trồng, giảm giá thành, nâng cao chất lượng nông sản phẩm trên thị trường tiêu thụ
- Để có một số lượng hàng hoá ổn định phải hình thành một nền nông nghiệp chung sống với thiên nhiên, đồng thời việc xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, thuỷ lợi, dịch vụ và các cơ sở chế biến
- Nâng cao dân trí để khả năng tiếp cận với công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến
- Việc điều tra nghiên cứu cơ cấu cây trồng, đánh giá hiệu quả và xác định cơ cấu cây trồng phù hợp vừa bảo vệ môi trường vừa phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá bền vững là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu trên việc nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại địa phương nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho
người nông dân tại Thành phố Thanh Hoá, cần thiết thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại Thành phố Thanh Hoá - tỉnh Thanh Hoá”
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào điều chỉnh cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại địa phương nhằm tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích góp phần hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phát triển hiệu quả và bền vững
ở địa phương
Trang 172.Mục đích và yêu cầu đề tài
2.2.3 Xây dựng được cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng đất và điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của từng tiểu vùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất theo hướng hàng hóa của thành phố và các vùng phụ cận, hướng tới xuất khẩu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
3.1.1 Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hoá xã - hội của TP Thanh Hoá;
3.1.2 Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, phân vùng sản xuất nông nghiệp hợp lý, đa dạng hoá cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của TP Thanh Hoá;
3.1.3 Kết quả nghiên cứu là tài liệu giúp cho các nhà quản lý, điều hành định hướng đúng sản xuất nông nghiệp ở TP Thanh Hoá
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
3.2.1 Hình thành được cơ cấu cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hoá, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân địa phương
3.2.2 Xác định được hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý, xây dựng được cơ cấu cây trồng thích hợp theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển nông nghiệp bền vững ở TP Thanh Hoá
3.2.3 Chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp, kém bền vững sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung, bền vững
Trang 184 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các cơ cấu cây trồng hiện có, giống cây trồng mới; Các yếu tố tự nhiên bao gồm: đất, nước, khí hậu, các yếu tố sinh vật trong đó có cây trồng, vật nuôi, các yếu tố kinh tế - xã hội bao gồm các cơ chế chính sách thị trường, giá cả dịch vụ, điều kiện cơ sở hạ tầng và nông hộ…có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ cấu cây trồng hàng năm hiện có, đề xuất loại cây trồng, giống cây trồng và cơ cấu cây trồng mới trong nông nghiệp trên địa bàn
TP Thanh Hoá, chú trọng theo hướng sản xuất hàng hoá phục vụ tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu Thời gian nghiên cứu từ năm 2012- 2014
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1.1 Đã đánh giá được điều kiện cơ bản (tự nhiên, kinh tế- xã hội) của TP Thanh Hóa, những thuận lợi, khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng (CCCTr) theo hướng hàng hóa bền vững;
5.2.2 Đã đánh giá được hiện trạng CCCTr, cơ cấu loại cây trồng và cơ cấu giống cây trồng trên 4 chân đất nông nghiệp chính của TP Thanh Hóa;
5.2.3 Đã tuyển chọn được giống lúa HT6 ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao để
bố trí vào cơ cấu 2 vụ lúa và giống đậu tương ĐT26 năng suất cao, ngắn ngày thích hợp gieo trồng trong vụ Đông phục vụ chuyển đổi CCCTr lên 3 vụ trên chân đất vàn trong đê của TP Thanh Hóa;
5.2.4 Đã đề xuất được cơ cấu cây trồng mới theo hướng sản xuất hàng hóa của TP Thanh Hóa giai đoạn 2015-2020, định hướng đến 2025 trên 4 chân đất cho hiệu quả kinh tế cao, lợi nhuận đạt 398.018,0 triệu đồng/năm, cao hơn lợi nhuận từ cơ cấu cây trồng cũ là 106.037,0 triệu đồng/năm Hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
ổn định; góp phần phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa hiệu quả và bền vững
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số nhận thức và khái niệm chung
Nghiên cứu cơ sở khoa học để chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại vùng ngoại ô TP Thanh Hóa được hiểu thông qua một số nhận thức sau:
Cơ cấu cây trồng có thể hiểu như “một cơ thể” được hình thành trong điều kiện môi trường (hiểu theo nghĩa rộng) nhất định Trong đó, các bộ phận của nó được lắp ráp phối hợp cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một kích cỡ và tỷ lệ thích ứng; vị trí, vai trò của từng bộ phận và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng trong tổng thể Một cơ cấu không thể bất biến mà nó được thay đổi để phù hợp với điều kiện khách quan, điều kiện lịch sử và xã hội nhất định Tính ổn định tương đối luôn luôn tác động lẫn nhau, vận động và biến đổi không ngừng theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn và sự vận động biến đổi ấy là một quá trình khách quan chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có tác động của con người Cơ cấu cây trồng lệ thuộc rất lớn, rất nghiêm ngặt vào điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kinh tế-xã hội Việc duy trì thay đổi cơ cấu không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện để đạt tăng trưởng và phát triển sản xuất Cơ cấu cây trồng còn là tiền đề bố trí chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi và cũng đặt ra cho kỹ thuật trồng trọt những đòi hỏi cần thiết [17], [43]
Cơ cấu cây trồng theo theo hướng sản xuất hàng hoá cần đạt được 2 yêu cầu: một là cơ cấu cây trồng phải đạt được hiệu quả kinh tế cao và hai là cơ cấu cây trồng phải hợp lý, ổn định và bền vững về mặt sinh thái Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí, thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội [41], [53]
Như vậy CCCTr hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế- xã hội của vùng CCCTr hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng làm cho sản xuất ngành trồng trọt phát triển
Trang 20toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh, gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao
CCCTr là một thực tế khách quan, được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể và vận động theo thời gian [41], [67], [72]
CCCTr hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng (HTCTr) mới trên cơ sở cải tiến CCCTr cũ hoặc phát triển HTCTr mới trên cơ sở tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng, giống cây trồng, nhằm đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao
và bảo vệ môi trường sinh thái [51], [64], [70]
Ở góc độ sinh thái học, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là lựa chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, nhằm đạt được năng suất sơ cấp cao nhất Xét về mặt hiệu quả kinh tế thì CCCTr hợp lý cần thoả mãn sự thay đổi các hệ thống canh tác theo các tiến bộ kỹ thuật đưa vào sao cho tiến bộ hơn và tiến tới hệ thống bền vững hơn [60], [35]
Như vậy, cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng bao gồm cây trồng, vị trí cây trồng và tỷ lệ diện tích từng loại cây trồng cùng với mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau, có tính chất xác định lẫn nhau trong cơ cấu để tạo thành hệ thống cây trồng cùng nhóm [70]
Cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý có vai trò quan trọng thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng giá trị tổng sản phẩm, tăng giá trị hàng hoá, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân [32]
Hệ thống cây trồng có nội hàm gồm loại cây trồng, giống cây trồng và công thức luân canh cây trồng [73]
Như vậy có thể thấy cơ cấu cây trồng là một khái niệm có đặc trưng về số lượng, tỷ lệ, cách sắp xếp cây trồng ở một điều kiện sinh thái của một vùng cụ thể [58], [66], [81]
Cơ cấu cây trồng hiện tại ở Việt Nam được hình thành từ nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa nhỏ lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất tự chủ với đặc điểm ruộng đất ít, lại phân tán làm nhiều mảnh, manh mún, có điều kiện tự nhiên khác nhau, các hộ nông dân thường là ít vốn, trình độ khoa học công nghệ lại rất khác
Trang 21nhau, làm nông nghiệp có tính tự phát cao và kết quả là giá thành sản xuất cao, chất lượng nông sản thấp và không đồng đều [59]
Cơ cấu cây trồng mới được xây dựng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung
có chất lượng cao nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao và phát triển bền vững [59]
Nông nghiệp thành phố được hình thành ở khu đô thị (vườn hoa, cây xanh)
và các khu ngoại thành Nông nghiệp ngoại thành có 2 bộ phận là nông nghiệp trong vườn nhà và nông nghiệp đồng ruộng [59]
1.1.2 Những yếu tố chi phối sự hình thành cơ cấu cây trồng
Theo Phạm Chí Thành và CS (1996) [57], người nông dân trồng trọt loại cây gì, diện tích bao nhiêu vào lúc nào, ở đâu, kỹ thuật áp dụng, luân canh cây trồng như thế nào là tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu ), điều kiện kinh tế (giao thông, thủy lợi nhu cầu thị trường) và điều kiện xã hội (chính sách của nhà nước, phong tục tập quán ) Các nhóm vếu tố này được xếp vào nhóm yếu tố bên ngoài chi phối các quyết định của người nông dân Nông nghiệp Việt Nam hiện tại còn ở mức sản xuất hàng hóa nhỏ do các hộ nông dân chủ động sản xuất trên diện tích canh tác của mình Vì vậy, việc lựa chọn cơ cấu cây trồng còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của nông hộ như: đất đai, lao động, vốn, kỹ năng, trình độ sản xuất…
1.1.2.1 Một số yếu tố tự nhiên
(1) Yếu tố khí hậu
Cây trồng có quan hệ qua lại và phức tạp với các điều kiện tự nhiên, trong đó
có yếu tố khí hậu Diễn biến khí hậu thường được thể hiện bởi thời tiết, chúng là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến cây trồng, được thể hiện qua năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt hay xấu) Vì vậy, nghiên cứu CCCTr, điều cần quan tâm đầu tiên là các yếu tố thời tiết cấu thành khí hậu Nói đến vai trò của khí hậu đối với sản xuất cây trồng, V I Vavilop cho rằng: "Biết được các yếu tố khí hậu, chúng ta sẽ xác định được năng suất, sản lượng mùa màng, chúng mạnh hơn cả kinh tế, mạnh hơn cả kỹ thuật" Những điều kiện khí hậu được xác định cho nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và chế độ nước Đó là những yếu tố không thể thiếu và thay thế được đối với sự sống của cây trồng Ngoài ra, cũng phải thấy "khí hậu nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố quyết định sự phân bố động,
Trang 22thực vật trên trái đất, ngay cả mạng lưới sông ngòi, độ màu mỡ của đất cũng là hệ quả của khí hậu [82], [83]
* Ánh sáng
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng họp chất hữu cơ của cây Ánh sáng là yếu tố biến động, ảnh hưởng đến năng suất, cần xác định yêu cầu của cây trồng về cường độ chiếu sáng và khả năng cung cấp ánh sáng từng thời kỳ trong năm để bố trí cây trồng hợp lý Mỗi cây trồng có yêu cầu ánh sáng khác nhau Theo
Lý Nhạc và cs (1987) [43], các loại cây quang hợp theo C4 và cây CAM là những cây ưa sáng, đồng thời cũng là cây ưa nóng Các cây C3 yêu cầu ánh sáng thấp hơn Khả năng cung cấp ánh sáng cho cây: Độ dài ngày dùng để xác định thời gian sinh trưởng của cây, muốn biết khả năng cung cấp ánh sáng cho cây, cần biết bức xạ và
số giờ nắng hàng tháng hoặc số giờ nắng bình quân ngày Khi xem xét vai trò của ánh sáng (độ dài ngày ngắn hay dài) đối với cây trồng phải xem xét độ dài ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng [35], [83] Để bố trí HTCTr phù hợp, đạt năng suất cao và ổn định cần phải căn cứ vào nhu cầu của cây về nhiệt độ và ánh sáng ở giai đoạn cuối của quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng và tình hình nhiệt
độ, ánh sáng từng tháng trong năm
* Nhiệt độ
Theo Nguyễn Văn Viết (2007) [83], diễn biến của nhiệt độ có ý nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được bảo đảm, vì theo Xelianinop G T thì "Cây trồng bắt đầu sinh trưởng ở nhiệt độ nào thì kết thúc sinh trưởng ở nhiệt độ đó" Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây phát triển thích hợp và chỉ an toàn trong khoảng nhiệt độ nhất định Theo Lý Nhạc và cs (1987) [43] cây ưa nóng là những cây trong 2 tháng cuối yêu cầu nhiệt độ trên 20°C, cây ưa lạnh là những cây trong 2 tháng cuối yêu cầu nhiệt độ dưới 20°C Nếu không có nhiệt độ phù hợp với đặc tính ưa nhiệt của cây dẫn đến năng suất giảm Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây: ưa nóng,
ưa lạnh hay ngày ngắn để bố trí HTCTr trong năm
* Lượng mưa
Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng Cây trồng đòi hỏi một lượng nước lớn gấp nhiều lần khối lượng chất khô của chúng Lượng nước mà cây
Trang 23tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là hệ số tiêu thụ nước) như ngô: 250-400 đơn vị nước cho 1 đơn vị chất khô, lúa: 500-800 đơn vị nước cho 1 đơn vị chất khô, tiếp đó bông: 300-600, rau: 300-500, cây gỗ: 400-500, [23] Hầu hết lượng nước được sử dụng cho nông nghiệp là nước mặt, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hàng năm Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước đối với một vùng cụ thể để xem xét lựa chọn hệ thống cây trồng và bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp
(2) Đất đai và CCCTr
Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất Bảo vệ, duy trì
và cải tiến nguồn tài nguyên này là tiêu chuẩn để tiếp tục duy trì chất lượng cuộc sống trên trái đất [97] Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính chất quyết định để bố trí cơ cấu và hệ thống cây trồng hợp lý Nó tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới đất để bố trí một hoặc một số cây trồng phù hợp Hiểu được mối quan hệ giữa cây trồng với đất sẽ dễ dàng xác định được HTCTr và CCCTr hợp lý ở một vùng cụ thể
Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, chế độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho trồng cây lấy củ Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho các cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương thường sinh trưởng tốt
và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ [50] Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp hữu hiệu điều khiển dinh dưỡng đất Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng ở vùng đất đồi núi nhờ nước trời ở Indonexia cho thấy hạn chế chủ yếu để cây trồng tăng trưởng và cho năng suất tốt là độ màu mỡ của đất thấp Phân bón, đặc biệt phân đạm và phân lân là yếu tố chính để giải quyết vấn đề này [104]
Nước ta có khoảng 22 triệu ha đất đồi núi, chiếm 2/3 tổng diện tích tự nhiên,
có độ dốc nhất định Gieo trồng cây ngắn ngày thường làm giảm hàm lượng hữu cơ
và dự trữ mùn, đạm Để phục hồi đất đồi núi, cần bổ sung vào đất một lượng chất hữu cơ mới (phân chuồng, phân xanh, tàn dư cây trồng ) khoảng 10-15 tấn/ha/năm Chuyển từ cơ cấu độc canh cây ngắn ngày sang đa canh sẽ tăng mạnh lượng hữu cơ
và nhịp độ tuần hoàn hữu cơ trong đất Điều đó góp phần đảm bảo cho sử dụng đất
Trang 24lâu bền [8]
(3) Cây trồng và cơ cấu cây trồng
Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp (hệ sinh thái đồng ruộng) Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý và phát triển bền vững là chọn loại cây trồng phù hợp, nhằm lợi dụng được tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai cũng như các nguồn lợi tự nhiên Nhiệm vụ của nông nghiệp là phải sử dụng nguồn lợi đó một cách hiệu quả nhất, nghĩa là dành cho chúng các điều kiện để có thể sinh trưởng, phát triển một cách thuận lợi nhất [43]
Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, còn với cây trồng con người có thể thay đổi trong một phạm vi nhất định, có thể lựa chọn, di thực chúng từ nơi này đến nơi khác Với trình độ phát triển của khoa học sinh học hiện đại, con người có khả năng làm thay đổi bản chất của chúng theo hướng mà mình mong muốn bằng các biện pháp như lai tạo, chọn lọc, gây đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể, [28], [29], [39]
Nguồn lợi của cây trồng là vô cùng phong phú và đa dạng Trên trái đất có hơn 500 nghìn loài cây trồng, khoảng 90 loài cho chúng ta lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp Nguồn lợi cây trồng không phải chỉ phong phú về số lượng loài mà cả về số dạng trong một loài Ví dụ như riêng lúa, ngô, lúa mì … trên thế giới cũng đã đến hàng vạn giống khác nhau
Để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý với một vùng nào đó cần phải nắm vững yêu cầu của loài, của các giống cây trồng, đối chiếu với các điều kiện ở vùng đó để đưa ra những quyết định đúng đắn
(4) Hệ sinh thái và cây trồng
Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) hiện diện như là một hướng có tính khoa học được sử dụng trong nghiên cứu, đối thoại và lựa chọn mục đích để quản lý giảm chi phí đầu vào của hệ sinh thái
Làm sáng tỏ những vấn đề tính bền vững trong nông nghiệp là mục tiêu chủ yếu của HSTNN [89] Xây dựng HTCTr là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là HSTNN mà trong đó, cây trồng là thành phần chủ yếu Do đó, cần duy trì yếu tố cần thiết của HTCTr như đất nông nghiệp, đất rừng và bảo tồn duy trì đa dạng gen [101] Trong HTCTr nếu thiếu sự phù hợp của cây trồng được xác định là yếu tố
Trang 25cản trở việc ứng dụng thực hiện HSTNN ở một chừng mực nhất định của vùng nhiệt đới [90]
Vì vậy, việc xác định chủng loại và từng giống cây trồng phù hợp trong hệ thống ở từng nơi là rất quan trọng Điều kiện để xác định, quyết định tính phù hợp của chúng tại một địa phương cụ thể là các yếu tố sinh thái Xây dựng CCCTr là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, hệ sinh thái nông nghiệp [43], [68] Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật, các động vật, các côn trùng và những sinh vật có ích khác Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp, tạo dựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế các mặt có hại, phát huy mặt có lợi đối với con người là vấn đề cần quan tâm trong HSTNN [12], [43], [68] Theo Lê Văn Khoa (1999) [31], việc bố trí CCCTr và HTCTr cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phân sinh vật trong HSTNN, dựa theo các nguyên tắc là: (i) Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng; (ii) khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống có hại đối với cây trồng cũng như với lợi ích của con người Các mối quan hệ giữa sinh vật với cây trồng trong hệ sinh thái được biểu hiện qua các mối quan hệ cạnh tranh, cộng sinh, ký sinh và ăn nhau theo nguyên tắc hình tháp số lượng trong dây chuyền dinh dưỡng Vì vậy khi cải tiến CCCTr cần chú ý:
- Xác định thành phần, tỷ lệ giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất
- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt nhất để tránh thời tiết bất thuận, tránh độc canh, theo tỷ lệ các giống nhiễm, giống kháng, giống chống chịu sâu bệnh hợp lý sẽ đảm bảo tăng năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng, hạn chế được tác hại của
cỏ dại, sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt gây ra
- Trồng xen nhiều loại cây trong cùng một ruộng một cách hợp lý nhằm giảm
sự gây hại của cỏ dại, sâu bệnh, đồng thời làm tăng năng suất trên một đơn vị đất đai Bố trí luân canh cây họ đậu trong cơ cấu cây trồng nhằm làm tăng vi khuẩn cố định đạm, làm giàu nguồn đạm cho đất Theo nhiều tác giả thì trồng cây họ đậu lượng đạm
do vi khuẩn cố định đạm mang lại từ 20-120 kg N/ha/năm [17], [35], [39]
Trang 261.1.2.2 Những yếu tố kinh tế chi phối sự hình thành cơ cấu cây trồng
(1) Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp
Theo Phạm Chí Thành (2012) [59] để cho cơ cấu cây trồng phát huy được tác dụng; trước hết đồng ruộng phải có nước, nguồn nước được giải quyết theo 2 cách
là dựa vào nước trời (canh tác nhờ mưa) và chủ động tưới nước nếu trên đồng ruộng thiếu nước, tiêu nước nếu đồng ruộng thừa nước, thừa nước hay thiếu nước còn phụ thuộc vào loại cây trồng (cây trồng ưa nước như lúa, cây trồng sống trên cạn như ngô, khoai…) vì vậy con người chọn loại cây trồng gì phụ thuộc hoàn toàn vào lượng nước tưới và hệ thống tưới tiêu nước được xây dựng Để đưa vật tư nông nghiệp tới đồng ruộng và đưa nông sản từ đồng ruộng đến nơi tiêu thụ cần có đường giao thông
(2) Thị trường tiêu thụ sản phẩm và CCCTr Thị trường và sự cải tiến CCCTr
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến CCCTr, song nó có mặt hạn chế là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường [58]
Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó người ta sản xuất
ra sản phẩm để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận Giá thành sản phẩm bị chi phối bởi các yếu tố như vốn, trình độ lao động, giá cả dịch vụ, phạm vi địa lý Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng cần phải xem xét một cách tống quát [36] Hiện nay, thị trường nông thôn đang phát triển với sự tham gia đắc lực của các doanh nghiệp tư nhân, kể cả các mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngày càng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt động của hợp tác xã chế biến và tiêu thụ nông sản Nếu các hợp tác xã nắm được khoảng 30% khối lượng hàng hoá thì tư thương sẽ mất độc quyền trong buôn bán [75]
Trên thực tế thị trường nông sản ở nước ta là một thị trường chưa hoàn hảo có nhiều cản trở cần được nghiên cứu tháo gỡ nhằm đưa sản phẩm hàng hoá theo đúng giá thị trường không bị ép cấp, ép giá, tránh độc quyền mua, làm cho giá hàng hoá nông sản
ở mức giá thấp hơn giá thịnh hành trong thị trường cạnh tranh
Trang 27Thị trường không phải chi do cạnh tranh điều khiển mà còn do sự hợp tác và tương trợ lẫn nhau, tiếp tục nghiên cứu về thị trường, các nhà xã hội học và chính trị học cho rằng thị trường còn do các điều kiện xã hội và chính trị quyết định mà kinh
tế học trước đó thường chưa đề cập [77] Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến CCCTr hợp lý Theo cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: Trồng cây gì, trồng như thế nào và sản phẩm của chúng cung cấp ở đâu, cho ai? Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụng định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thu được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng thay đổi giống cây trồng, mùa vụ cho phù hợp với thị trường Thị trường có tác dụng điều chỉnh CCCTr, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến CCCTr chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường
Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả hơn Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường, ở khu vực nông thôn thị trường cung cấp nông sản hàng hoá cho toàn xã hội, thị trường tiêu thụ sản phẩm cho ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành du lịch, dịch vụ và đó cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, giữa thị trường và chuyển đổi cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
(3) Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh tế Đây là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất cuộc sống của con người ngày một tăng Theo Nguyễn Thị Tân Lộc (1999) [40], do yêu cầu của công tác quản lý kinh
tế cần thiết phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của các hoạt động kinh
tế và do đó đã làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế Vận dụng vào việc phát triển bền vững hệ thống cây trồng cho thấy cần phải tận dụng triệt để điều kiện tự nhiên để
bố trí cơ cấu cây trồng, chủng loại cây trồng sao cho hợp lý trên một đơn vị diện tích
Cơ cấu cây trồng mới phải đạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Để
Trang 28phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng đầu tư thâm canh vấn đề tăng vụ chỉ có thể giải quyết được một phần phạm vi nhất định và chịu sự chi phối lớn của điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu cần bố trí những cây trồng bổ sung để tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên của vùng và cơ sở sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế [45]
Theo Phạm Chí Thành (1998) [58] CCCTr cần thỏa mãn các điều kiện: (i) Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao; (ii) đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên; (iii) đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế; (iv) đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hoá cao hơn CCCTr cũ; (v) khi đánh giá hiệu quả kinh tế của CCCTr có thể dựa vào một số chỉ tiêu: năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lãi của các sản phẩm hàng hoá Việc đánh giá này rất phức tạp do giá cả sản phẩm luôn biến động theo thị trường
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng, cũng cần phải chú ý đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như vốn, vị trí địa lý, trình độ lao động, giá cả các loại dịch vụ (dẫn theo [60])
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng người ta thường sử dụng
tỷ suất chi phí lợi nhuận cận biên (Marginal Benefit Cost Ratio – MBCR) (CIMMYT, 1988) (dẫn theo [26]):
Tổng thu nhập CCCTr mới - Tổng thu nhập CCCTr cũ
MBCR =
Tổng chi phí CCCTr mới - Tổng chi phí CCCTr cũ
Tiêu chí đánh giá: MBCR <1,5: lợi nhuận thấp, không nên áp dụng; MBCR
từ 1,5 - 2,0: lợi nhuận trung bình, có thể chấp nhận được; MBCR > 2,0: lợi nhuận cao (có hiệu quả kinh tế), chấp nhận cho phát triển
1.1.2.3 Nhóm yếu tố xã hội
(1) Nông nghiệp Việt Nam những năm gần đây đã trải qua các thời kỳ từ hợp
tác xã chuyển sang khoán 10, khoán 100 ruộng đất đã về tay các hộ nông dân với hộ nông dân sản xuất tự chủ
Trang 29Theo Đặng Kim Sơn (2006) [54], ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, các chính sách mới một lần nữa xác lập vị trí số một của kinh tế hộ nông dân ở nông thôn Trong nông thôn có 3 nhóm hộ chính là: (i) Nhóm hộ sản xuất hàng hoá (chiếm khoảng 30%); (ii) nhóm hộ bước đầu đi vào sản xuất hàng hoá nhưng còn ít, quy
mô nhỏ (chiếm gần 55%); (iii) nhóm hộ nghèo (chiếm dưới 15%) Theo Đào Thế Tuấn (1997a) [75], thì nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đã góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tất cả những hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Hoàng Văn Đức (1992) và Nguyễn Đức (2003) (dẫn theo [62]), khi nghiên cứu về kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn trong thời
kỳ đổi mới cho rằng, nông dân ở đồng bằng sông Hồng được hình thành trên một diện tích đất nông nghiệp nhất định Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi CCCTr thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân
Vì vậy, nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học NN & PTNT
Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ để phân biệt các kiểu hộ nông dân: (i) Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp, trong điều kiện này người nông dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư; (ii) kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có bán một phần nông sản đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư); (iii) kiểu hộ bán phần lớn nông sản, có phản ứng nhiều với thị trường; (iv) kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục tiêu kiếm lợi nhuận như là một xí nghiệp tư bản chủ nghĩa
Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh,
cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường Quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một hay một vài cây lương thực chính, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ, rủi ro lớn Do sợ rủi ro nên việc tiếp thu kỹ thuật bị hạn chế và thị trường nông thôn là thị trường chưa hoàn chỉnh Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Lúc mới
Trang 30chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu trồng thêm các cây hàng hoá, đa canh để giảm bớt rủi ro Nhờ có thêm thu nhập nên có thể đầu tư để cải tiến kỹ thuật
và thâm canh, nếu lao động thừa nhiều có thể phát triển ngành nghề phi nông nghiệp [75] Theo đó, nông hộ chuyển dần sang hình thức canh tác kiểu trang trại đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường Ở những nước công nghiệp phát triển như nước Anh thì hình thức sản xuất có lợi nhất của các nông hộ không phải là hình thành các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà các nông hộ canh tác kiểu trang trại gia đình dùng lao động làm thuê Theo Nguyễn Phượng Vỹ (1999) [86], trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nông dân nhưng mang tính sản xuất hàng hoá
Đào Thế Tuấn (1997, 1997a) [74], [75], cho rằng: quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và còn tuỳ vào từng vùng, nhưng yếu tố khó khăn về vốn mang tính quyết định nhất Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên thì mới tập trung vào một số ngành nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao Hộ nông dân phát triển từ tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau và quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng gắn với thị trường được thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn Theo Hoàng Việt (1998) [84], kinh tế hộ nông thôn ở nước ta trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng còn những tồn tại không nhỏ, đó là: (i) Tỷ lệ hộ nông nghiệp còn cao; (ii) bình quân ruộng đất nông nghiệp một hộ rất thấp; (iii) trang bị kỹ thuật còn ở mức thấp; (iv) thu nhập của nông hộ chưa ở mức cao; (v) trình độ dân trí vẫn còn ở mức thấp, nhiều nơi còn rất lạc hậu, tỷ lệ người mù chữ vùng cao, vùng sâu ở mức cao (hơn 50%) Những tồn tại trên của nông hộ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển CCCTr, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, khắc phục những tồn tại trên nhằm mục tiêu hướng tới phát triển CCCTr theo hướng bền vững
Vấn đề chuyển giao kỹ thuật cho hộ nông dân, làm thế nào để đạt hiệu quả hơn đấy là vấn đề hiện nay đang được nhiều người quan tâm cả trong nước và quốc tế
Sự phân hoá của hộ nông dân và trình độ sản xuất của các kiểu hộ có ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu hộ nông dân khác nhau có trình độ tiếp thu và áp dụng kỹ thuật ở các mức độ khác nhau Kỹ thuật là yếu tố
Trang 31quan trọng trong sự cải tiến cơ cấu cây trồng của các hộ nông dân Ở giai đoạn đầu sản xuất hàng hoá, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một xu thế cần cho sự phát triển Tuy nhiên, do trồng lúa đòi hỏi đầu
tư ít hơn so với các cây trồng khác, nên kỹ thuật trồng lúa dễ được nông dân tiếp thu
(2) Chính sách
Nhà kinh tế học người Anh Franks Ellis cho rằng không có một định nghĩa
“duy nhất’' về thuật ngữ chính sách Các nhà kinh tế thường nghĩ chính sách là mục tiêu và phương pháp mà Chính phủ đưa ra nhằm tác động vào mức độ của biến động kinh tế như giá, thu nhập, thu nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái và từ đó ông cho rằng chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó [15]
Muốn quá trình chuyển đổi CCCTr có hiệu quả phải thúc đẩy tất cả các kiểu
hộ nông dân phát triển một cách đồng bộ chứ không thể chỉ thúc đẩy các hộ sản xuất giỏi Quá trình phát triển kinh tế sẽ phân hoá giàu nghèo, có sự chênh lệnh về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cần thiết phải rút lao động ra khỏi nông nghiệp bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn và thâm canh tăng vụ để sản xuất hàng hoá
Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và cải tiến CCCTr là do thiếu thị trường cho nông sản Để giải quyết vấn đề thị trường, Nhà nước cần tạo môi trường lành mạnh cho thị trường phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng như: giao thông, thủy lợi, thông tin
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi CCCTr có căn cứ và kịp thời, theo Đặng
Vũ Bình và Nguyễn Xuân Trạch (2002) [1]; Phạm Chí Thành và cs (1993) [56] thì Nhà nước cần có chính sách về khoa học - công nghệ thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cây trồng có hiệu quả và chuyến giao kỹ thuật thích ứng cho nông dân
(3) Khoa học và công nghệ
Tiến bộ kỹ thuật: Bao gồm các quy trình, công nghệ, biện pháp kỹ thuật cụ thể và quản lý sử dụng đất, sản xuất, chăm sóc, thu hoạch, bảo vệ các loại sản phẩm
Trang 32nông nghiệp Tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt là các kỹ thuật mang lại hiệu quả cụ thể trong việc chọn tạo giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân, cải tạo và sử dụng đất, bảo vệ thực vật [59]
Các yếu tố: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng có khác nhau với yêu cầu giống cây khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương
có ảnh hưởng trực tiếp đến CCCTr Thí dụ vùng có trình độ kỹ thuật canh tác cao, như hệ thống cây trồng hoa, rau cao cấp như vùng Tây Tựu huyện Từ Liêm, Vân Nội huyện Đông Anh – TP Hà Nội, TP Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng,…[58]
- Các tiến bộ khoa học và công nghệ: Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như đất đai, sinh vật, khí hậu, máy móc, lao động và kinh tế kết hợp với nhau
đế tạo ra sản phẩm nông nghiệp Trong thực tế sản xuất, những hộ tiếp cận với tiến
bộ khoa học, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường sẽ ảnh hưởng tới CCCTr Vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có CCCTr chuyên sản xuất sản phẩm hàng hóa, sản xuất điều khiển theo thị hiếu của thị trường, kinh tế giảm dần tác động của yếu tố tự nhiên
Tóm lại cơ cấu cây trồng chịu tác động của nhiều yếu tố (tự nhiên, kinh tế-xã hội) Các yếu tố đó không tác động riêng lẻ, biệt lập mà luôn có sự đan xen phức tạp với cây trồng, phát hiện ra những vấn đề trở ngại để có những giải pháp phù hợp
dự báo phương hướng phát triển làm cơ sở khoa học của đề tài
1.1.3 Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
Theo Viện Nghiên cứu và Phổ biến kiến thức bách khoa (1998), hàng hoá là sản phẩm của lao động Bản chất của sản xuất hàng hoá (SXHH) là kiểu tổ chức sản xuất, trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà là nhu cầu của xã hội thông qua trao đổi mua bán Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công ấy càng cao thì SXHH càng phát triển, đời sống người dân ngày càng tăng lên, làm cho quá trình trao đổi hàng hoá diễn ra mạnh mẽ hơn, SXHH phát triển ngày càng đa dạng hơn (Viện Nghiên cứu và Phổ biến kiến thức Bách khoa, 1998) (dẫn theo [15], [65])
Sự ra đời và tồn tại của SXHH cần có 2 điều kiện là phải có sự phân công lao
Trang 33động xã hội và hình thành chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất Đây là hai điều kiện cần và đủ của SXHH Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có SXHH So với sản xuất tự cung tự cấp thì SXHH có những ưu thế hơn hẳn Số lượng hàng hoá được sản xuất ra phụ thuộc và các yếu tố: (i) Kỹ thuật, công nghệ; (ii) giá cả các yếu
tố sản xuất đầu vào; (iii) các chính sách của Chính phủ: thuế, giá cả (iv) số lượng người sản xuất
Theo Nguyễn Đình Hợi (1995) (dẫn theo [15]), nền SXHH có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, văn hoá của người lao động cao Sản xuất nông nghiệp hàng hoá (NNHH) là nền sản xuất nông nghiệp
có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất hợp lý, thế mạnh SXNN từng vùng Vì thế, nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều, với chủng loại phong phú và có chất lượng cao Việc đưa nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hoá chuyên nghiệp là quá trình lâu dài và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh; phải gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hóa sản xuất, ứng dụng các công nghệ tiến bộ mới vào sản xuất
Trần Danh Thìn và Nguyễn Huy Trí (2008) [61] cho rằng, số lượng hàng hoá được thị trường yêu cầu phụ thuộc và các yếu tố sau: (i) Thu nhập của người tiêu dùng; (ii) giá cả hàng hoá; (iii) giá cả các loại hàng hoá có liên quan Ví dụ nếu tăng giá loại hàng hoá này sẽ dẫn đến làm tăng số lượng cầu của loại hàng hoá khác; (iv) thị hiếu người tiêu dùng và (v) dân số
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [64], nền nông nghiệp SXHH là quá trình chuyển nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại Hiện nay, nếu nông hộ không chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh, không thay đổi cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ, phương thức sản xuất hoặc nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý thì kết quả sản xuất sẽ thấp, không có (hoặc ít) sản phẩm để bán ra thị trường hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích luỹ để phòng ngừa rủi ro
Kinh tế học vi mô đã khẳng định: khi tồn tại nền kinh tế thị trường thì cũng tồn tại nền SXHH Vậy sản xuất hàng hoá là gì? " Đó là việc sản xuất ra những sản
Trang 34phẩm của lao động với mục đích đem bán để thu về giá trị của nó và có giá trị thặng
dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô” Đối với nông hộ, những sản phẩm được đưa
ra bán ở bên ngoài thì gọi là sản phẩm hàng hoá Đối với hệ thống trồng trọt, nếu hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá (sản xuất theo hướng hàng hóa)
Sự phát triển SXHH mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất, mà cả đời sống tinh thần cũng được nâng cao, phong phú và đa dạng hơn Sản xuất nông nghiệp hàng hoá là hướng đi đúng đắn giúp người nông dân vừa có thu nhập ngày càng cao, vừa khai thác hợp lý các lợi thế sẵn có của vùng
1.1.4 Phát triển nông nghiệp bền vững
Trước những năm 1970 của thế kỷ trước, trong nông nghiệp người ta nói nhiều đến giống mới năng suất cao và kỹ thuật thâm canh cao Từ sau năm 1970 một khái niệm mới xuất hiện và ngày càng có tính thuyết phục là khái niệm về tính bền vững và nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm truyền thống mà phải phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai Điều trở nên thông thường đối với những người nông dân, bền vững là sử dụng những công nghệ và thiết bị vừa mới được phát kiến, những mô hình canh tác tổng hợp mới nhất để giảm giá thành Đó là những công nghệ mới vận dụng những kiến thức sinh thái học để quản
Theo FAO (1976) [94], phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính
là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật không bị suy thoái, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội Phát triển bền vững là
sự quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi về nông nghiệp và
Trang 35tổ chức sao cho đạt tới và thỏa mãn nhu cầu của con người ở hiện tại cũng như tương lai Sự phát triển bền vững đó là bảo vệ đất, nước, bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường [95].
Phạm Chí Thành và cs (1993) [56], cho rằng, điều kiện để tạo ra nền nông nghiệp bền vững là công nghệ bảo tồn tài nguyên có sự tham gia của những tổ chức
từ bên ngoài và những tổ chức từ địa phương Trong sản xuất nông nghiệp bền vững, vấn đề chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra, nghiên cứu để hiểu biết thiên nhiên
Từ những khái niệm trên FAO (dẫn theo [58]) đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể trong nông nghiệp bền vững là: (i) Thoả mãn nhu cầu lương thực cơ bản của các thế
hệ hiện tại và tương lai về số lượng và chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác; (ii) cung cấp lâu dài việc làm, thu nhập và điều kiện sống, điều kiện làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp; (iii) duy trì, tăng cường khả năng sản xuất của tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường; (iv) giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân
Theo Smyth và Dumanski (1993) (dẫn theo [58]) thì sử dụng đất bền vững phải tuân theo 5 nguyên tắc: năng suất, an toàn, bảo vệ, tính khả thi và sự chấp nhận; đó là: (i) Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất); (ii) giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn); (iii) bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại sự thoái hoá với chất lượng đất và nước (bảo vệ); (iv) khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi) và (v) được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận) Năm nguyên tắc trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì bền vững chỉ mang tính bộ phận
Võ Tòng Xuân (2005) [87] cho rằng, để phát triển bền vững cần: (i) Bảo tồn đất, nguồn nước và đa dạng sinh học; (ii) không làm thoái hoá môi trường; (iii) kỹ thuật phải thích hợp; (iv) có giá trị kinh tế và (v) chấp nhận được về mặt xã hội
Mọi hoạt động sản xuất được gọi là bền vững khi đạt được tất cả các mục
Trang 36đích sẽ có thể bền vững mãi mãi Nội dung của phát triển bền vững gồm: (i) Đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người; (ii) san bằng được khoảng cách giữa giàu, nghèo trong toàn xã hội; (iii) bảo vệ được các tài nguyên thiên nhiên [46]
Theo lý thuyết phát triển hướng đến bền vững của Ismail (1993) [100] và Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (2006) (dẫn theo [59]) thì phát triển bền vững là phát triển những nhu cầu cần thiết để cùng gặp nhau ở hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ trong tương lai; để các nhu cầu cần thiết đó cùng đáp ứng được cho chính họ Theo đó, nông nghiệp có vai trò quan trọng như là chìa khoá để mở những vấn đề cấp thiết của xã hội: giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và tính bền vững của môi trường
Gần đây xuất hiện khuynh hướng “nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùng máy
cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, cây phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh Việc sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững
Nền nông nghiệp bền vững còn đòi hỏi sự quản lý thành công các nguồn tài nguyên nông nghiệp, để thỏa mãn nhu cầu đang thay đổi của con người trong khi vẫn duy trì hay tăng cường cơ sở tài nguyên thiên nhiên và tránh được sự suy thoái môi trường [24]
Đào Thế Tuấn (1986; 1989) [71], [73] cho rằng, nhiệm vụ của ngành trồng trọt Việt Nam là phải tìm ra mọi biện pháp để tăng năng suất cây trồng Có hai khả năng để đẩy mạnh sản xuất trồng trọt là: (i) Thâm canh ở những vùng sinh thái khó khăn, chú trọng vấn đề giống và chế độ bón phân thích hợp; (ii) tăng vụ ở những vùng sinh thái thuận lợi như trồng cây vụ Đông và thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhất như bố trí cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, chế độ nước nhằm phát triển nông nghiệp bền vững
Các nhà khoa học đã khẳng định, khi trồng trọt đã làm tiêu hao độ phì của đất, nhưng cũng qua trồng trọt cây sẽ hoàn trả lại cho đất một số chất hữu cơ làm tăng độ phì của đất Nếu bố trí hệ thống luân canh phù hợp ta vừa kết hợp giữa sử dụng đất hiệu quả và bồi dưỡng đất [78]
Trang 37Theo Edwards et al (1990); Singh et al (1990) (dẫn theo [30]), phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng, nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và xuất bản Có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vững tuỳ theo tình hình cụ thể:
Theo định nghĩa của Croson (1993) (dẫn theo [30], [96]) thì một hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc, có hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng cần đưa vào định nghĩa vì sản lượng nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỷ tới Phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên toàn thế giới còn rất thấp
Có nhiều cách biểu thị các định nghĩa khác nhau, Phạm Văn Phê và Nguyễn Thị Lan (2001) [46], đã khái quát nội dung nông nghiệp bền vững gồm 3 phần cơ bản sau: (i) Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở HTNN phù hợp với điều kiện sinh thái và không tổn hại tới môi trường; (ii) bền vững về tổ chức quản lý, HTNN phù hợp với các mối quan hệ của con người, kể cả với các thế
hệ mai sau và (iii) bền vững thể hiện tính cộng đồng trong HTNN
Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là phải biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện tài nguyên môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế
hệ và hạn chế rủi ro
Nông nghiệp bền vững đạt được là nhờ 4 yếu tố: quản lý đất bền vững, công nghệ được cải tiến, cải thiện tài nguyên môi trường và hiệu suất kinh tế được nâng cao, ổn định Quản lý đất bền vững chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong nông nghiệp bền vững Mục tiêu của quản lý đất bền vững là “Điều hoà các mục tiêu và tạo cơ hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế và xã hội vì lợi ích của không chỉ thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ trong tương lai” trong khi vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất
Thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa hệ sinh thái tự nhiên và HSTNN, phân biệt giữa chúng là sự can thiệp của con người [46] Chính vì thế, mọi hoạt
Trang 38động trong SXNN đều ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ sinh thái Trên cơ sở đó các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp cũng phải tuân thủ qui luật khách quan của tự nhiên, vừa bảo vệ môi trường, vừa thoả mãn nhu cầu thiết yếu của con người [69]
1.1.5 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Spedding (1975) [103], đã đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu HTCT: (i) Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đã có sẵn, dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” hay chỗ “ thắt lại” của hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần tác động cải tiến, sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn; (ii) Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: phương pháp này đòi hỏi phải có đầu tư, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng, cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí, trong các mối quan hệ giữa các phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất
Mai Văn Quyền (1996) [51] đã đúc kết các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu hệ thống canh tác bao gồm: (i) Tiếp cận từ dưới lên trên (bottom-up) là dùng phương pháp quan sát phân tích tìm điểm ách tắc của hệ thống để xác định phương pháp can thiệp thích hợp và có hiệu quả Trước đây, thường dùng phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này tỏ ra không hiệu quả vì nhà nghiên cứu không thấy được hết các điều kiện của nông dân, do đó giải pháp đề xuất
Trang 39thường không phù hợp và được thay thế bằng phương pháp đánh giá nông thôn có
sự tham gia của nông dân (PRA); (ii) tiếp cận hệ thống (System approach): Đây là phương pháp nghiên cứu dùng để xem xét các vấn đề trên quan điểm hệ thống, nó giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật và hiện tượng; (iii) tiếp cận theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp lên cao: phương pháp này coi trọng phân tích động thái của sự phát triển CCCTr và HTCTr trong lịch sử
Vì qua đó, sẽ xác định được sự phát triển của hệ thống trong tương lai, đồng thời giúp cho việc giải quyết các trở ngại phù họp với hướng phát triển đó
Mạng lưới Hệ thống Cây trồng châu Á khi đưa ra hướng dẫn quá trình thiết
kế và thử nghiệm hệ thống cây trồng cũng chỉ ra rằng “Nghiên cứu HTCTr cải tiến cho một vùng bao gồm cả thâm canh, thay thế cây trồng năng suất thấp và đưa vào những kỹ thuật thâm canh cải tiến Ở những nơi kỹ thuật thâm canh còn hạn chế hoặc chưa có sẵn, các nhà nghiên cứu HTCTr sẽ thực hiện các thử nghiệm đơn giản trên ruộng của nông dân” [91]
Theo Đào Thế Tuấn (1997b, 2003) [76]; [77], nội dung bao hàm của tiếp cận
hệ thống gồm: (i) Kiến thức phải xây dựng từ thực tế và tác động vào nó; (ii) chú ý đến các đối kháng, mâu thuẫn không chắc chắn; (iii) quá trình là quan trọng; (iv) các yếu tố có quan hệ với nhau và hợp thành tổng thế; (v) chuyên gia tìm hiểu và học hỏi ở sự việc và con người; (vi) nghĩ đến nhiều giải pháp có thế thoả thuận; (vii) xây dựng một mô hình có tính đơn giản, ưu tiên cho yếu tố về chất; (viii) lấy
sự thay đổi thực tế là hữu hiệu; (ix) tính liên ngành, tính đa hợp lý và quyết định đa tiêu chuẩn; (x) mục đích và phương tiện tác dụng ngược lại; (xi) để hiểu một hệ thống phức tạp phải mô hình hoá để hiểu biết; (xii) con người là một kiến trúc sư tự
do
Phương pháp nghiên cứu hệ thống cây trồng về sau được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong Mạng lưới Hệ thống Cây trồng châu Á sử dụng và phát triển Quá trình nghiên cứu liên quan đến một loạt các hoạt động trong nông trại, tổ chức thực hiện theo các bước sau [98]:
(i) Chọn điểm: địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân
Trang 40sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn
(ii) Mô tả điểm nghiên cứu: điểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ được mô tả về đặc điểm tự nhiên (khí hậu, đất đai ), kinh tế - xã hội, hiện trạng hệ thống cây trồng cần phải được đánh giá
(iii) Thiết kế hệ thống cây trồng mới: các mô hình cây trồng được thiết kế trên những đặc điểm của điểm nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao,
ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái
(iv) Thử nghiệm hệ thống cây trồng mới: cây trồng được thử nghiệm trên ruộng nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (lao động, vật tư và hiệu quả kinh tế)
(v) Đánh giá sản xuất thử: Những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó đưa vào sản xuất thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở quy mô lớn hơn
(vi) Chương trình sản xuất đại trà: Sau khi xác định những hệ thống canh tác thích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến nông với sự giúp đỡ của tố chức chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất
1.1.5.2 Phát triển nông nghiệp trên quan điểm hệ thống
Khi nghiên cứu phát triển HTNN phải coi nông nghiệp là một hệ thống để có thể tác động một cách đồng bộ Xác định và phân tích hệ thống canh tác là một nội dung chính của nghiên cứu hệ thống canh tác, Phạm Chí Thành và cs (1993) [56] cho rằng: Hiện đang tồn tại hai quan điểm về phát triển nông nghiệp: (i) Phát triển nông nghiệp theo quan điểm sinh thái, có nghĩa là đặt cây trồng, vật nuôi vào đúng
vị trí của nó trong môi trường đã xác định sao cho có năng suất cao, ổn định và bảo
vệ môi trường; (ii) phát triển nông nghiệp theo quan điểm kinh tế thị trường, nghĩa
là tự do kinh doanh, lấy lợi ích kinh tế làm mục tiêu chính, nông dân chỉ sản xuất những gì mà khách hàng cần, họ cạnh tranh trong sản xuất và tiền tệ hoá quá trình sản xuất Cả hai xu hướng phát triển trên đều có ưu và khuyết điểm riêng Hợp lý