MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Không phải ngẫu nhiên mà danh từ “Điện Biên Phủ” lại có tên trong từ điển bách khoa quân sự thế giới. Hơn 6 thập kỷ trước, với sức mạnh trí tuệ và bản lĩnh anh hùng, quân và dân ta đã “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” giành toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1954, trên đại ngàn Tây Bắc đất nước, quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạp bằng mọi khó khăn thử thách, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ thuộc vùng núi Tây Bắc Của Việt Nam được biết đến như một khúc tráng ca hào hùng của dân tộc, với chiến thắng lịch sử 56 ngày đêm lừng lẫy năm châu trấn động địa cầu vào ngày 751954. Để đến ngày hôm nay với chiến thắng vang dội ấy, chúng ta là những người con dân việt nam cùng chung niềm vui ấy, thế nên hàng năm đất nước ta luôn tổ chức lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một bản anh hùng ca bất hủ bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc của quân và dân ta. Chúng ta mãi mãi khắc ghi công ơn to lớn của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và quân dân cả nước đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng, liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước đã đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến trường kỳ vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử; là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội; của đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, biết đánh và biết thắng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là sức mạnh tinh thần, nguồn cổ vũ, động viên to lớn, đồng thời để lại nhiều bài học quý giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Không phải ngẫu nhiên mà danh từ “Điện Biên Phủ” lại có tên trong từđiển bách khoa quân sự thế giới Hơn 6 thập kỷ trước, với sức mạnh trí tuệ vàbản lĩnh anh hùng, quân và dân ta đã “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều”giành toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm trường kỳkháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Năm 1954, trên đại ngàn Tây Bắc đất nước, quân và dân Việt Namdưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạp bằngmọi khó khăn thử thách, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Điện Biên
Phủ thuộc vùng núi Tây Bắc Của Việt Nam được biết đến như một khúc tráng
ca hào hùng của dân tộc, với chiến thắng lịch sử 56 ngày đêm lừng lẫy nămchâu trấn động địa cầu vào ngày 7/5/1954 Để đến ngày hôm nay với chiếnthắng vang dội ấy, chúng ta là những người con dân việt nam cùng chungniềm vui ấy, thế nên hàng năm đất nước ta luôn tổ chức lễ kỷ niệm chiếnthắng Điện Biên Phủ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một bản anh hùng
ca bất hủ bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, từ sự lãnhđạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại,
từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyết tâm chiến đấu vìđộc lập, tự do của Tổ quốc của quân và dân ta Chúng ta mãi mãi khắc ghicông ơn to lớn của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong,dân công hỏa tuyến và quân dân cả nước đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, làmnên chiến thắng Điện Biên Phủ Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối vớicác đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anhhùng, liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ cảnước đã đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến trường kỳ vì độc lập, tự do của
Tổ quốc Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao làchiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
Trang 2bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìnnăm lịch sử; là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta,độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội; của đường lối kháng chiếntrường kỳ, toàn dân, toàn diện, biết đánh và biết thắng, phát huy sức mạnhđoàn kết toàn dân tộc, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng
hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thờiđại Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu,chấn động địa cầu mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử và niềm tựhào của dân tộc Việt Nam, là sức mạnh tinh thần, nguồn cổ vũ, động viên tolớn, đồng thời để lại nhiều bài học quý giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toànquân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác công tác cổ động cho ngày lễ kỉ niệm 66
năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh Lạng Sơn
Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong công côngtác cổ động cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnhLạng Sơn
Nghiên cứu nhằm mong muốn giúp cho nhân dân sinh sống trong địabàn tỉnh Lạng Sơn nhận thấy trách nhiệm của mình trong công tác công tác cổđộng cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh LạngSơn
Giúp cho các cán hộ làm công tác công tác cổ động cho ngày lễ kỉ niệm
66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh Lạng Sơn có cái nhìn tổng quát đểthực hiện công tác cổ động cho nhân dân một cách có hiệu quả nhất
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác công tác cổđộng cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh LạngSơn
Trang 3Phân tích thực trạng, khảo sát, đánh giá công tác cổ động cho ngày lễ kỉniệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh Lạng Sơn, những thành tựu
đã đạt được, hạn chế, nguyên nhân
Đề ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức vănhóa, văn nghệ trong công tác cổ động cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiếnthắng Điện Biên Phủ tại tỉnh Lạng Sơn, giúp cho người dân và các cán bộ làmcông tác tuyên truyền, cổ động nắm rõ và nâng cao ý thức tự giác, tráchnhiệm và nghĩa vụ của mình đối với dân tộc
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý luận
- Dự trên cơ sở của chủ nghĩa Mác Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Quan điểm chủ trương của đảng
- Chính sách pháp luật của nhà nước
3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: dựa trên nguyên tắc lý luận và phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: là phương pháp điều tra chủyếu được sử dựng với đối tượng là người dân sinh sống tại địa tỉnh Lạng Sơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp dựa trên gợi ý
- Vận dụng các phương pháp phân tích, nghiên cứu, so sánh, quy nạp,diễn dịch, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội một cách khoa học và logic
- Kế thừa có chọn lọc các thành quả nghiên cứu của các công trình đitrước
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng vai trò của các hình thức văn hóa, văn nghệ trong công tác
cổ động cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh LạngSơn
Trang 4
4.2 Khách thể nghiên cứu
Người dân sinh sống trong tỉnh Lạng Sơn
Cán bộ làm công tác truyên truyền cổ động tỉnh Lạng Sơn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: tỉnh Lạng Sơn
Thời gian: tháng 6/2020
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề ra được các phương pháp có hiệu quả thực tế trong công tác cổđộng cho ngày lễ kỉ niệm 66 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại tỉnh LạngSơn
- Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo, xây dựng kế hoạch trongcông tác tuyên truyền cổ động cho ngày lễ kỉ niệm Chiến thắng Điện BiênPhủ tại tỉnh Lạng Sơn cho các cán bộ làm công tác tuyên truyền cổ động saunày
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậnđược chia thành 3 chương:
Chương 1: CÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA, VĂN NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦACÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA, VĂN NGHỆ TRONG CÔNG TÁC CỔĐỘNG CHO CÁC NGÀY LỄ KỈ NIỆM LỚN
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA,VĂN NGHỆ TRONG CÔNG TÁC CỔ ĐỘNG CHO NGÀY LỄ KỈ NIỆM 66NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TẠI TỈNH LẠNG SƠN
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁCHÌNH THỨC VĂN HÓA, VĂN NGHỆ TRONG CÔNG TÁC CỔ ĐỘNGCHO NGÀY LỄ KỈ NIỆM 66 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TẠITỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA, VĂN NGHỆ VÀ VAI TRÒCỦA CÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA, VĂN NGHỆ TRONG CÔNG TÁC
CỔ ĐỘNG CHO CÁC NGÀY LỄ KỈ NIỆM LỚN
1.1 Khái quát chung về Các hình thức thức văn hóa văn nghệ
1.1.1 Khái niệm
- Văn hóa: có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO:
‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ vàtrong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một
hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặctính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sángtạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sửcủa mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tínhnhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắcriêng của từng dân tộc Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính kháiquát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểumột cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thuhẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật Thực tế quản lý văn hóakhông phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phápluật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằngngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo vàphát minh đó tức là văn hóa” Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng tahiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn Suy cho cùng, mọi hoạt động của conngười trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, nhữnghoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thànhnhững thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vậtchất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho
Trang 6tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sảnvăn hóa của toàn nhân loại.
Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giátrị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thựctiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân.Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người vàtruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Văn nghệ: là một thuật ngữ chỉ các hoạt động sáng tạo văn học, nghệthuật gồm các loại hình: văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc, hộihọa, điêu khắc và các loại hình ca múa nhạc
* Khái niệm văn hóa – văn nghệ
- Theo nghĩa rộng: là hình thái ý thức xã hội đặc biệt của con ngườiphản ánh tồn tại của mỗi giai đoạn sáng tạo văn hóa (vật thể, phi vật thể) cáchoạt động sáng tạo của lĩnh vực nghệ thuật
- Theo nghĩa hẹp: theo cách hiểu tương đối phổ biến khi đã tách khoahọc, giáo dục thành lĩnh vực riêng Văn hóa – văn nghệ chủ yếu của các hoạtđộng văn hóa như: bảo tồn, bảo tàng, thư viện, báo chí, xuất bản ,…
1.1.2 Đặc điểm của văn hóa, văn nghệ
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộcmột sắc thái riêng, cho nền văn hóa Việt Nam là một sự thống nhất trong đadạng Ngoài văn hóa Việt-Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm vănhóa đặc sắc khác như Tà-Nùng, Thái, Chàm, Hoa-Ngái, Môn-Khmer,H’Mông-Dao, nhất là văn hóa các dân tộc Tây Nguyên giữ được những nétvăn hóa truyền thống gắn bó với rừng núi tự nhiên Những đặc điểm cơ bảncủa nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc có thể khái quát như sau:
1 Triết học và tư tưởng Tư tưởng triết học Việt Nam chịu nhiều ảnhhưởng tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo được dung hợp và Việt hóa
đã góp phần vào sự phát triển của xã hội và văn hóa Việt Nam Đặc biệt các
Trang 7nhà Thiền học đời Trần đã suy nghĩ và kiến giải hầu hết các vấn đề triết học
mà Phật giáo đặt ra (Tâm-Phật, Không-Có, Sống-Chết ) một cách độc đáo,riêng biệt Tuy Nho học về sau thịnh vượng, nhiều danh nho Việt Nam cũngkhông nghiên cứu Khổng-Mạnh một cách câu nệ, máy móc mà họ tiếp nhận
cả tinh thần Phật giáo, Lão-Trang nên tư tưởng họ có phần thanh thoát, phóngkhoáng, gần gũi nhân dân và hòa với thiên nhiên hơn Qua các triều đại trị vìđất nước, tư tưởng phong kiến nặng nề đè nén nông dân và trói buộc phụ nữ,nhưng nếp dân chủ làng mạc, tính cộng đồng nguyên thuỷ vẫn tồn tại trên cơ
sở kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc Cắm rễ sâu trong xã hội nông nghiệpViệt Nam là tư tưởng nông dân có nhiều nét tích cực và tiêu biểu cho conngười Việt Nam truyền thống Họ là nòng cốt chống ngoại xâm qua các cuộckháng chiến và nổi dậy Họ sản sinh ra nhiều tướng lĩnh có tài, lãnh tụ nghĩaquân, mà đỉnh cao là người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ cuốithế kỷ 18 Tư tưởng Mác-Lênin được du nhập vào Việt Nam những năm 20-
30 kết hợp với chủ nghĩa yêu nước trở thành động lực biến đổi lịch sử đưa đấtnước tiến lên độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Tiêu biểu cho thời đại này
là Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng và danh nhân văn hóa đượcquốc tế thừa nhận Giai cấp tư sản dân tộc yếu ớt chỉ tiến hành được một sốcuộc cải cách bộ phận ở nửa đầu thế kỉ 20 Như vậy, Việt Nam không có một
hệ thống lý luận triết học và tư tưởng riêng, thiếu triết gia tầm cỡ quốc tế,nhưng không có nghĩa là không có những triết lý sống và những tư tưởng phùhợp với dân tộc mình Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồnglàng xã với nhiều tàn dư nguyên thủy kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù củacon người Việt Nam Đó là một lối tư duy thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn
là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễdung hợp, dễ thích nghi Đó là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bóvới họ hàng, làng nước Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyếtdung hoà, quân bình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thời cũng khôn khéogiỏi ứng biến đã từng nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnh
Trang 8trong lịch sử Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữNhân, kết hợp chặt chẽ Nhân với Nghĩa, Nhân với Đức, bất nhân bất nghĩađồng nghĩa với thất đức Chữ Phúc cũng đứng hàng đầu bảng giá trị đời sống,người ta khen nhà có phúc hơn là khen giầu, khen sang
2 Phong tục tập quán: các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hộicủa Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng làng xã Hôn nhân xưa không chỉ lànhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã,nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ,
ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thứcđược thừa nhận là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thểhiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do giađình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ Việt Nam là đất nước của lễhội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tết chính là tết Nguyênđán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tếtTrung thu, Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hộinông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúcđồng, rèn, pháo, đua ghe ) Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng
có công với nước, các lễ hội tôn giáo và văn hóa (hội chùa) Lễ hội có 2 phần,phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn và phần hội là sinh hoạt văn hóa cộngđồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian
3 Tín ngưỡng và tôn giáo Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đãbao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡngsùng bái con người Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì
và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực Ở Việt Nam, tínngưỡng đó tồn tại rất lâu dài Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vàonhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Ở Việt Nam,
đó là tín ngưỡng đa thần và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật.Người Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng Bàng
là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hóa một giống chim đẻ
Trang 9trứng, Rồng sự trừu tượng hóa từ rắn, cá sấu) Rồng sinh ra từ nước bay lêntrời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam Trong tínngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, gần như trởthành một thứ tôn giáo của người Việt Nam (trong Nam bộ gọi là Đạo ÔngBà) Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia cư, giữ gìn hoạ phúccho cả nhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho
cả làng (thường tôn vinh những ngươì có công khai phá lập nghiệp cho dânlàng, hoặc các anh hùng dân tộc đã sinh hay mất ở làng) Cả nước thờ vua tổ,
có ngày giỗ tổ chung (Hội đền Hùng) Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử là thờnhững giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên (chống lụt), Thánh Gióng(chống ngoại xâm), Chử Đồng Tử (nhà nghèo cùng vợ ngoan cường xây dựng
cơ nghiệp giầu có), bà Chúa Liễu Hạnh (công chúa con Trời từ bỏ Thiên đìnhxuống trần làm người phụ nữ khát khao hạnh phúc bình thường) Mặc dù cótrường hợp dẫn tới mê tín dị đoan, tín ngưỡng dân gian sống dẻo dai và hoàtrộn cả vào các tôn giáo chính thống Phật giáo (Tiểu thừa) có thể đã được dunhập trực tiếp từ ấn Độ qua đường biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ 2 sauCông nguyên Phật giáo Việt Nam không xuất thế mà nhập thế, gắn với phùchú, cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thóat tục Khi Phật giáo (Đạithừa) từ Trung Quốc vào nước ta, tăng lữ Việt Nam mới đi sâu hơn vào Phậthọc, nhưng dần hình thành những tôn phái riêng như Thiền Tông Trúc Lâm
đề cao Phật tại tâm Thời Lý-Trần, Phật giáo cực thịnh nhưng vẫn đón nhận
cả Nho giáo, Lão giáo, tạo nên bộ mặt văn hóa mang tính chất "Tam giáođồng nguyên" (cả ba tôn giáo cùng tồn tại) Qua nhiều bước thăng trầm, đạoPhật trở nên thân thiết với người Việt Nam, thống kê năm 1993 cho biết vẫn
có tới 3 triệu tín đồ xuất gia và khoảng 10 triệu người thường xuyên vãn cảnhchùa và lễ Phật Thế kỉ 15, do nhu cầu xây dựng đất nước thống nhất, chínhquyền tập trung, xã hội trật tự, Nho giáo thay chân Phật giáo trở thành quốcgiáo dưới triều Lê Nho giáo đã bám chắc vào cơ chế chính trị-xã hội, vào chế
độ học hành khoa cử, vào tầng lớp nho sĩ, dần chiếm lĩnh đời sống tinh thần
Trang 10xã hội Nhưng Nho giáo cũng chỉ được tiếp thụ ở Việt Nam từng yếu tố riêng
lẻ - nhất là về chính trị-đạo đức, chứ không bê nguyên xi cả hệ thống Đạogiáo cũng thâm nhập vào Việt Nam nhưng từ lâu Đạo giáo như một tôn giáokhông tồn tại nữa, chỉ còn để lại di sản trong tin ngưỡng dân gian Kitô giáođến Việt Nam vào lúc chế độ phong kiến khủng hoảng, Phật giáo suy đồi,Nho giáo bế tắc, để trở thành chỗ an ủi tinh thần cho một bộ phận dân chúngnhưng trong một thời gian dài không hoà đồng được với văn hóa Việt Nam.Chỉ khi hoà Phúc âm trong dân tộc, nó mới đứng được ở Việt Nam Năm
1993 có khoảng 5 triệu tín đồ công giáo và gần nửa triệu tín đố Tin Lành Cáctôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam không làm mất đi tín ngưỡng dângian bản địa mà hoà quyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biếnthái nhất định Đây chính là những nét riêng của tín ngưỡng Việt Nam
4 Ngôn ngữ Về nguồn gốc tiếng Việt, có nhiều giả thuyết Giả thuyếtgiàu sức thuyết phục hơn cả: tiếng Việt thuộc dòng Môn-Khmer của ngữ hệĐông Nam Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt-Mường (hay tiếng Việt cổ)rồi tách ra Trong tiếng Việt hiện đại, có nhiều từ được chứng minh có gốcMôn-Khmer và tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa khi so sánh với tiếngMường Trải qua nghìn năm Bắc thuộc, và dưới các triều đại phong kiến,ngôn ngữ chính thống là chữ Hán, nhưng cũng là thời gian tiếng Việt tỏ rõsức sống đấu tranh tự bảo tồn và phát triển Chữ Hán được đọc theo cách củangười Việt, gọi là cách đọc Hán-Việt và được Việt hóa bằng nhiều cách tạo ranhiều từ Việt thông dụng Tiếng Việt phát triển phong phú đi đến ra đời hệthống chữ viết ghi lại tiếng Việt trên cơ sở văn tự Hán vào thế kỉ 13 là chữNôm Thời kỳ thuộc Pháp, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thế bằng tiếng Phápdùng trong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao Chữ quốc ngữ là sảnphẩm của một số giáo sĩ phương Tây trong đó có Alexandre de Rhodes hợptác với một số người Việt Nam dựa vào bộ chữ cái Latinh để ghi âm tiếngViệt dùng trong việc truyền giáo vào thế kỉ 17 Chữ quốc ngữ dần được hoànthiện, phổ cập, trở thành công cụ văn hóa quan trọng Cuối thế kỉ 19, đã có
Trang 11sách báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ Với sự ra đời chữ Quốc ngữ, có lợi thếđơn giản về hình thể kết cấu, cách viết, cách đọc, văn xuôi tiếng Việt hiện đạithực sự hình thành, tiếp nhận thuận lợi các ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữvăn hóa phương Tây Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt và chữquốc ngữ giành được địa vị độc tôn, phát triển dồi dào, là ngôn ngữ đa năngdùng trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp học, phản ánh mọi hiện thực cuộc sống.Tuy vậy, bên cạnh tiếng Việt phổ thông, một số dân tộc thiểu số ở Việt Namcũng có chữ viết riêng
5 Văn học Văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần làvăn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng ởViệt Nam, có công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâmhồn nhân dân Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích,truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ở ViệtNam Có thể nói ở Việt Nam, hầu như cả dân tộc đều yêu thơ và hay làm thơ
Từ vua quan, tướng lĩnh, sư sãi, sĩ phu đến những người nông dân lam lũ vất
vả đều ít nhất thuộc dăm câu lục bát, một bài vè Về nội dung, chủ lưu là dòngvăn chương yêu nước bất khuất chống ngoại xâm ở mọi thời kỳ và dòng vănchương phản phong kiến Phê phán các thói hư tật xấu của xã hội cũng làmảng đề tài quan trọng Các thi hào dân tộc lớn đều là những nhà nhân đạochủ nghĩa lớn Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều(Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Quốc âm thi tập (NguyễnTrãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây bút nữ độc đáo: HồXuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan Văn xuôi hiện đại cónhững tác giả không thể nói là thua kém thế giới: Nguyễn Công Hoan, VũTrọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao Bêncạnh đó là những nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Tố Hữu
6 Nghệ thuật Việt Nam có khoảng 50 nhạc cụ dân tộc, trong đó bộ gõ
là phổ biến nhất, đa dạng nhất và có nguồn gốc lâu đời nhất (trống đồng, cồng
Trang 12chiêng, đàn đá, đàn tơ rưng ) Bộ hơi phổ biến là sáo, khèn, còn bộ dây độcđáo nhất có đàn bầu và đàn đáy Thể loại và làn điệu dân ca Việt Nam rấtphong phú khắp Trung, Nam, Bắc: từ ngâm thơ, hát ru, hò đến hát quan họ,trống quân, xoan, đúm, ví giặm, ca Huế, bài chòi, lý, ngoài ra còn có hát xẩm,chầu văn, ca trù Nghệ thuật sân khấu cổ truyền có chèo, tuồng Rối nướccũng là một loại hình sân khấu truyền thống đặc sắc có từ thời Lý Đầu thế kỉ
20, xuất hiện cải lương ở Nam bộ với các điệu vọng cổ Ở Việt Nam, nghệthuật chạm khắc đá, đồng, gốm đất nung ra đời rất sớm Sau này gốm trángmen, tượng gỗ, khảm trai, sơn mài, tranh lụa, tranh giấy phát triển đến trình
độ nghệ thuật cao Đã có hàng nghìn di tích văn hóa, lịch sử được Nhà nướcxếp hạng Kiến trúc cổ còn lại chủ yếu là một số chùa-tháp đời Lý-Trần; cungđiện-bia đời Lê, đình làng thế kỉ 18, thành quách-lăng tẩm đời Nguyễn vànhững ngọn tháp Chàm Thế kỉ 20, tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nhất làsau khi nước nhà độc lập, các loại hình nghệ thuật mới như kịch nói, nhiếpảnh, điện ảnh, ca múa nhạc và mỹ thuật hiện đại ra đời và phát triển mạnh, thuđược những thành tựu to lớn với nội dung phản ánh hiện thực đời sống vàcách mạng Hiện nay, Việt Nam có 9 di sản văn hóa vật thể và phi vật thểđược tổ chức UNESCO công nhận là di sản thế giới Những nét văn hóa dântộc cổ truyền hiện đang có nguy cơ bị mai một theo thời gian.Vì thế vấn đềbảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề cấp thiết và lâu dài,đòi hỏi sự quan tâm của các ngành, các cấp và toàn thể quần chúng nhân dân,nhất là trong giai đoạn hiện nay
1.2 Vai trò của các hình thức văn hóa, văn nghệ trong công tác cổ động cho các ngày lễ kỉ niệm
Cổ động bằng các hình thức văn hóa - văn nghệ là sử dụng những hìnhthức văn hóa - văn nghệ nghệ nhỏ nhẹ mang tính quần chúng rộng rãi kịp thờituyên truyền cổ động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, cácbiện pháp chủ trương hoạt động của địa phương, cơ sở
Trang 13Cổ động bằng các hình thức văn hóa - văn nghệ chủ yếu là sử dụng một
số thủ pháp sân khấu để chuyển tải thông tin kịp thời làm sáng tỏ quan điểm,đường lối của Đảng để cho quần chúng kịp thời nhận thức, kịp thời hiểu - tin
và kịp thời hành động thực hiện những nhiệm vụ chính trị trước mắt Nhưvậy, văn hóa - văn nghệ cổ động cùng với các hình thức nghe - nhìn và tin tứctạo thành một hệ thống khép kín, thường xuyên bổ sung, hỗ trợ và tác độnglẫn nhau trong một quá trình thông tin cổ động làm cho hoạt động cổ động đạthiệu quả cao Tuy nhiên mỗi hình thức lại có vai trò, vị trí riêng, không thểthay thế cho nhau được
Văn hóa - văn nghệ cổ động phải là những thể loại sáng tác nhanh, dàndựng nhanh, số người thực hiện ít và trình diễn phải gọn nhẹ Truyền đạtthông tin là chủ yếu, nghệ thuật biểu diễn là phụ Sử dụng bất cứ thể loại vănnghệ nào để cổ động cũng phải đảm bảo yếu tố ĐÚNG và HAY, nếu chưaHAY được thì phải đảm bảo đúng Lấy yếu tố ĐÚNG là chính Văn hóa - vănnghệ cổ động trực tiếp phản ánh một tình hình, một hiện tượng, một điển hìnhcần biểu dương hoặc phê phán Trực tiếp minh hoạ cho đường lối, chính sáchcủa Đảng và chủ trương biện pháp của địa phương cơ sở Đồng thời tham gia
hỗ trợ làm nổi rõ hơn nội dung chủ đề cổ động, làm phong phú hơn phongcách thể hiện của các hình thức thông tin cổ động khác
*Các thể loại văn hóa - văn nghệ cổ động thường dùng là:
- Độc tấu: Đây là hình thức kể chuyện bằng lời, có kết hợp với diễnxuất của diễn viên Cách diễn đạt dí dỏm, nội dung thể hiện phong phú, dễlồng vào đó nội dung của thông tin cổ động
- Ca dao, hò, vè: Đây là hình thức sử dụng các yếu tố của văn học dângian, dễ gây được cảm xúc cho nhân dân, dễ được nhân dân hưởng ứng, vì nộidung ngắn gọn, chủ đề rõ ràng, ý tứ hàm xúc, có điệu có vần, dễ vận dụng đểlồng ghép nội dung cần thông tin cổ động
- Các ca khúc dân gian: Đây là các ca khúc, các làn điệu dân ca ở cácvùng, các miền, các dân tộc khác nhau Thể loại này có sẵn điệu vần, tuy
Trang 14nhiên cần đặt lời mới cho phù hợp, tránh gượng ép Sử dụng các làn điệu dân
ca trong cổ động dễ được quần chúng chấp nhận
- Câu chuyện thông tin: Đây là hình thức đối thoại của vài ba ngườitrình bày một vấn đề, một câu chuyện ít tình tiết, ít kịch tính Dễ đưa nộidung thông tin vào lời thoại của các nhân vật để cổ vũ động viên quần chúng
đi đến hành động.- Câu chuyện thông tin: Đây là thể loại được diễn đạt lại,trên cơ sở những tình tiết có thật ở địa phương cơ sở Nội dung thông tin cổđộng được lý giải, trình bày sinh động thông qua hình thức thông tin mộtcách hài hoà hợp lý Tuy nhiên khi sáng tác dàn dựng không được hư cấu,thời gian trình diễn không nên kéo dài quá 40 phút Nhưng hình thức này chỉphù hợp với những chủ đề cổ động mang tính lâu dài, giải quyết trọn vẹnmột vấn đề và kinh phí dàn dựng tốn kém, đồng thời phải có đội ngũ thôngtin giỏi tay nghề và nghiệp vụ
Công tác thông tin tuyên truyền cỗ động sử dụng hình thức này nhằmtruyền đạt nội dung thật sinh động, hắp dẫn, đem lại sự tiếp thu nhẹ nhàng,thoải mái cho nhân dân Tuy nhiên hình thức này yêu cầu:
- Hiểu biết sâu sắc và vận dụng về nghệ thuật truyền thông dân gian,về
ca múa nhạc hiện đại
- Vận dụng thành thạo các hình thức văn nghệ trong công tác thông tintuyên truyền cổ động thích hợp với nội dung cần truyền tải
- Huy động được các lực lượng yêu thích, có năng khiếu tham gia sinhhoạt văn nghệ Tổ chức phục vụ tốt các yêu cầu của nhiệm vụ chính trị
- Vận dụng sáng tạo Kĩ thuật ước lệ trong kĩ thuật truyền thống để tạohiệu quả truyền đạt cao, tiết kiệm chi phí biểu hiện
- Không lệ thuộc vào hình thức nghệ thuật mà xa rời nội dung thông tintuyên truyền cần phải truyền đạt tới dân
Trang 15CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÁC HÌNH THỨC VĂN HÓA,VĂN NGHỆ TRONG CÔNG TÁC CỔ ĐỘNG CHO NGÀY LỄ KỈ NIỆM 66NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TẠI TỈNH LẠNG SƠN.
2.1 Khái quát chung về tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, đất đai
- Vị trí địa lý: Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùngĐông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2 Lạng Sơn nằm ở vị trí đườngquốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnhphía Tây là Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh,phía Nam là Bắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang,Quảng Tây, Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ HữuNghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửakhẩu phụ
Địa hình phức tạp, chủ yếu là núi thấp và đồi chiếm hơn 80%, độ caotrung bình 252m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất là 20 và nơi cao nhất
là núi Mẫu Sơn 1.541m Khu du lịch Mẫu Sơn được quy hoạch là khu du lịchQuốc gia, cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía Đông
Khí hậu tỉnh Lạng Sơn tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng cónét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới, nền nhiệt không quá cao, có mùa đôngtương đối dài và khá lạnh, chủ yếu là núi đá chưa có rừng
- Tài nguyên khoáng sản: tài nguyên khoáng sản không nhiều, trữlượng các mỏ nhỏ, chủ yếu là mỏ đá vôi với khoảng 40 mỏ đang khai thác đểlàm vật liệu xây dựng
- Dân số: đến tháng 4/2019 là 782.666 người, chủ yếu sinh sống ở khuvực nông thôn (chiếm 79,55%) Người trong độ tuổi lao động là 514,3 nghìnngười, chiếm 66,1% dân số
Tỉnh Lạng Sơn có 7 dân tộc chủ yếu là: Nùng chiếm 42,8%, Tày35,4%, Kinh 17,11%, Dao 3,5%, Sán chay 0,6%, Hoa 0,3%, Mông 0,17%,các dân tộc khác chiếm 0,12%