1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình

55 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Tác giả Cao Xuân Ninh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Bích Phượng
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Phân hữu cơ vi sinh (10)
    • 1.2. Nguồn gốc và phân bố cây Chè (10)
      • 1.2.1. Nguồn gốc cây Chè (10)
      • 1.2.2. Sự phân bố của cây Chè (11)
    • 1.3. Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất cây Chè (11)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới (11)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu ở Việt Nam (15)
  • CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1. Vị trí địa lý (19)
    • 2.2. Điều kiện tự nhiên (19)
      • 2.2.1. Tài nguyên nước (20)
      • 2.2.2. Tài nguyên rừng (20)
      • 2.2.3. Tài nguyên khoáng sản (21)
      • 2.2.4. Tài nguyên du lịch (21)
    • 2.3. Điều kiện Kinh tế - Xã hội (21)
  • CHƯƠNG III MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
    • 3.1.1. Mục tiêu chung (24)
    • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (24)
    • 3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (24)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (24)
      • 3.3.1. Lịch sử trồng, chăm sóc cây Chè ở các CTTN (24)
      • 3.3.2. Một số chỉ tiêu sinh trưởng cây chè ở các CTTN (24)
      • 3.3.3. Sự ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng cây Chè ở các giai đoạn nghiên cứu (24)
      • 3.3.4. Đề xuất công thức phân bón phù hợp nhất với cây Chè và đảm bảo sử dụng đất bền vững (24)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (24)
      • 3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (24)
      • 3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu (25)
      • 3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (27)
  • CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (28)
    • 4.1. Lịch sử trồng, chăm sóc cây Chè ở các CTTN (28)
    • 4.2. Một số chỉ tiêu sinh trưởng cây chè ở các CTTN (29)
    • 4.3. Sự ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng cây Chè ở các (31)
      • 4.3.1. Chỉ tiêu số lượng chồi trên cây Chè (31)
      • 4.3.1. Chỉ tiêu số lượng lá trên cây Chè (32)
      • 4.3.3. Chỉ tiêu tỷ lệ sâu bệnh hại lá trên cây (35)
    • 4.4. Đề xuất công thức phân bón phù hợp nhất với cây Chè và đảm bảo sử dụng đất bền vững (37)
      • 4.4.1. Đề xuất công thức bón phân phù hợp nhất với cây Chè tại KVNC (37)
      • 4.4.2. Đề xuất các biện pháp bón phân đảm bảo sử dụng đất bền vững (38)
  • CHƯƠNG V KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (39)
    • 5.1. Kết luận (39)
    • 5.2. Tồn tại (40)
    • 5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ và phân vi sinh là hai loại phân bón phổ biến trong nông nghiệp Gần đây, một loại phân mới đã được phát triển, kết hợp những ưu điểm của cả phân hữu cơ và phân vi sinh.

“PHÂN HỮU CƠ VI SINH” [5]

Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón được sản xuất từ việc pha trộn và xử lý nguyên liệu hữu cơ, sau đó được lên men Loại phân bón này chứa hơn 15% chất hữu cơ và có mặt nhiều vi sinh vật sống với mật độ tối thiểu từ ≥ 1×10^6 CFU/mg Công dụng của phân hữu cơ vi sinh không chỉ cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho đất mà còn giúp chống lại mầm bệnh, cải thiện độ phì nhiêu và tăng cường lượng mùn trong đất.

Phân hữu cơ vi sinh ngày càng được ưa chuộng trong sản xuất nông nghiệp nhờ khả năng tăng năng suất cây trồng và cải thiện chất lượng đất so với phân hóa học Loại phân này không chỉ cung cấp các nguyên tố vi lượng mà còn bổ sung các nguyên tố đa và trung lượng, mang lại nhiều lợi ích cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau.

Nguồn gốc và phân bố cây Chè

Cây chè có nguồn gốc phức tạp, đã được biết đến từ 4000 - 5000 năm trước và gắn bó với nhiều thế hệ của các dân tộc khác nhau.

Chè là chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho ngành nông, lâm nghiệp mà còn thể hiện giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc.

Cây chè không chỉ mang lại nhiều giá trị to lớn mà còn được coi là một căn cứ khoa học quan trọng để xác định nguồn gốc của cây trồng, phản ánh văn minh nhân loại.

1.2.2 Sự phân bố của cây Chè

Cây chè phân bố chủ yếu ở các vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt là ở Châu Á như Ấn Độ, Srilanca, Inđônêxia và Việt Nam, nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm Nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chọn giống và canh tác, cây chè đã được mở rộng trồng trọt trên toàn cầu, từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam.

Cây chè phân bố khác nhau theo độ cao so với mực nước biển, dẫn đến sự đa dạng về vùng chè, giống chè và chất lượng chè Các nhà khoa học trong và ngoài Việt Nam đều khẳng định rằng, những giống chè phát triển tốt ở độ cao lớn thường có chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chè tốt hơn so với những giống chè trồng ở vùng thấp.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất cây Chè

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Năng suất và chất lượng cây chè do nhiều yếu tố quyết định như: điều kiện ánh sáng, lượng mưa, độ cao, đất đai và dinh dưỡng

Điều kiện dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chè Do đó, bên cạnh việc tận dụng nguồn dinh dưỡng tự nhiên có trong đất, việc bón phân cho chè được xem là một phương pháp hiệu quả để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm.

Sản phẩm thu hoạch từ cây chè chỉ chiếm 8 - 13% tổng lượng chất khô mà cây tổng hợp được, bao gồm cả phần trên và dưới mặt đất Theo thông tin từ nhiều tác giả Ấn Độ, trong 100 kg chè thương phẩm có chứa khoảng 4 kg Nitơ (N), 1,15 kg Photpho (P2O5), 2,4 kg Kali (K2O), 0,42 kg Magie (MgO), 0,8 kg Canxi (CaO), 100g Nhôm (Al), 6g Clo (Cl) và 8g Natri (Na).

Cây chè không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho lá mà còn cho sự phát triển của thân, cành và rễ Để sản xuất 100 kg chè thương phẩm, cây cần hấp thụ tổng cộng 16,9 kg N, 5,68 kg P2O5, 8,8 kg K2O, 2,92 kg MgO, 6,7 kg CaO, 871g Al và 74g Na Ngoài ra, cây còn cần các nguyên tố vi lượng như 38g Zn, 26g B, 38g Cu, 241g Fe và 479g Mn Theo nghiên cứu của Eden (1958), trong búp chè non chứa 4,5% N, 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O, cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn.

Bảng 1.1 Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè ở một số nơi

Tại vùng chè Atxam (Ấn Độ), nghiên cứu cho thấy hiệu lực của đạm tăng dần theo thời gian, với hiệu suất 2 kg đạm trong các lần 1, 2, 3, và 4 lần lượt là 2.

Nghiên cứu tại Đông Phi cho thấy hiệu suất của 1 kg đạm là 4-8 kg chè khô Nếu hiệu suất dưới 4 kg chè khô cho mỗi kg đạm, có thể xuất hiện yếu tố khác như lân hoặc kali M.L Bziava (1973) chỉ ra rằng khi tăng liều lượng đạm, sản lượng búp sẽ tăng Để đạt năng suất 10 tấn/ha, cần bón 200 kg N/ha để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Nhiều nghiên cứu quốc tế từ Nhật Bản, Ấn Độ và Sri Lanka chỉ ra rằng việc bón đạm không hợp lý, như bón quá nhiều hoặc bón đơn độc, có thể làm giảm chất lượng chè, đặc biệt là nguyên liệu cho chè đen Các công trình nghiên cứu từ Liên Xô cũ cho thấy liều lượng đạm 300kg/ha giúp tăng hàm lượng tanin, cafein và chất hòa tan trong búp chè, từ đó cải thiện phẩm chất Tuy nhiên, nếu vượt quá liều lượng này, chất lượng chè sẽ bị suy giảm Việc bón quá nhiều đạm cũng dẫn đến tăng hàm lượng protein trong lá, làm giảm lượng tanin do protein kết hợp với tanin tạo thành các hợp chất không tan Đồng thời, hàm lượng ancaloit trong chè cũng tăng lên, gây ra vị đắng cho chè.

Các nghiên cứu của Viện Cây trồng Á nhiệt đới (Grudia) chỉ ra rằng để nâng cao sản lượng và chất lượng nguyên liệu chè, cần bón 300kg/ha đạm kết hợp với phospho, kali, magie và các nguyên tố vi lượng Việc tăng cường hàm lượng tanin, chất hòa tan và điểm thử nếm cảm quan sẽ đạt hiệu quả tối ưu, trong khi việc tăng lượng đạm vượt mức này sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế.

A J Nijarata đã giải thích ảnh hưởng xấu của lượng đạm dư đến phẩm chất của chè như sau: lượng đạm dư của cây chè làm tăng sự phát triển của mô gỗ trong cây kết quả là những phần non của cây chè chưa tích luỹ được những chất quí giá nhất cho cây chè [7]

Những kết quả chuẩn đoán dinh dưỡng trong lá chè của Liên Xô cho thấy: ở cây chè thiếu đạm, hàm lượng đạm trong lá là 2,2 - 2,4%, trong búp là

Cây chè cần đủ dinh dưỡng với hàm lượng đạm từ 2,9 - 3,4% và 4,7 - 5,0% Phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy, khi cây chè thiếu lân, hàm lượng P2O5 trong lá chỉ đạt 0,27 - 0,28% và trong búp là 0,5 - 0,75% Đối với cây chè đủ dinh dưỡng, hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% trong lá và 0,82 - 0,86% trong búp Nếu hàm lượng P2O5 trong đất chỉ đạt 30 - 32mg/100g, thì đất đó đang thiếu nhiều lân.

Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 126 - 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp

Việc bón phân N, K có thể mang lại hiệu quả tăng trưởng trung bình từ 21% đến 30% so với đối chứng Đặc biệt, ở Liên Xô cũ, trên đất đỏ, hiệu quả của phân lân thường cao hơn trong những năm sau so với năm trực tiếp bón.

Nghiên cứu của Curxanốp (1954) và J.C.Nigaloblis Vili (1966) tại Liên Xô (cũ) đã chỉ ra rằng việc bón phân lân kết hợp với N và K có tác động tích cực đến sự gia tăng hàm lượng Katechin trong búp chè, từ đó nâng cao chất lượng chè.

Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30-32 mg/100g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10-12 mg/100g đất thì thiếu lân

Trên nương chè mới trồng, phân kali (K2O) không phát huy hiệu quả do hàm lượng K2O trong đất đủ cho sự phát triển của cây, đặc biệt là ở những vùng thường xuyên bón N, P với liều lượng cao Tuy nhiên, khi đất trở nên thiếu kali, việc bón K2O sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt Theo nghiên cứu của G.S Goziaxivili (1949), bón K2O với liều lượng từ 80 - 320 kg/ha trên đất đỏ có thể tăng sản lượng từ 28 - 55% so với đối chứng chỉ bón N, P.

Phân vi lượng đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, nghiên cứu về việc sử dụng phân vi lượng cho cây chè vẫn còn hạn chế Tại Sri Lanka, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phun kẽm sunfat hoặc axit kẽm lên lá, cùng với bón borat kết hợp với N, P, K, có thể cải thiện cây chè ở những vùng thiếu kẽm và bo Kết quả từ nghiên cứu của Tranturia (1973) cho thấy việc bón N, P, K kết hợp với 5 kg Zn và 5 kg B cho mỗi hecta đã nâng cao chất lượng chè nguyên liệu.

Nghiên cứu của Godishvili G.C và Beridze A.F (1962) cho thấy việc sử dụng phân khoáng thường xuyên trên đất chè đã gây ra sự biến đổi hoá học của đất Trong điều kiện đất ẩm sau mưa, các chất dinh dưỡng được hoà tan mạnh hơn, đặc biệt là ở những vùng á nhiệt đới và đới ẩm, nơi mà các khoáng chất trong đất thường bị rửa trôi.

Sử dụng phân chua sinh lý trong điều kiện thâm canh cao làm tăng cường độ rửa trôi các ion bazơ trong đất, đặc biệt là Mg Khi bón NPK ở mức cao, độ chua của đất tăng lên, dẫn đến hàm lượng bazơ giảm xuống, với CaO chỉ còn 14,4 mg/100g đất và MgO giảm còn 1,8 mg/100g đất, trong khi đối chứng cho thấy CaO là 28,8 mg/100g đất và MgO là 5,8 mg/100g đất.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý

Lương Sơn, huyện cửa ngõ phía đông tỉnh Hòa Bình, giáp ranh với Thủ đô Hà Nội và khu vực Tây Bắc, gần khu Công nghệ cao Hòa Lạc, đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, và Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam Huyện có tọa độ địa lý từ 105025’14” đến 105041’25” kinh độ Đông và từ 20036’30” đến 20057’22” vĩ độ Bắc Phía tây giáp huyện Kỳ Sơn, phía nam giáp Kim Bôi và Lạc Thủy, phía đông giáp Mỹ Đức và Chương Mỹ, và phía bắc giáp huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội).

Huyện có tổng diện tích tự nhiên 36.488,85 ha, được chia thành 11 đơn vị hành chính, bao gồm 10 xã và 1 thị trấn Các xã gồm: Cao Sơn, Cư Yên, Lâm Sơn, Hòa Sơn, Nhuận Trạch, Tân Vinh, Liên Sơn, Cao Dương, Thanh Cao, Thanh Sơn, trong khi trung tâm huyện đặt tại thị trấn Lương Sơn.

Là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của huyện, địa điểm này nằm cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây và cách thành phố Hòa Bình khoảng 30 km về phía Đông Khu vực này có sự kết nối thuận lợi nhờ Quốc lộ 6A và đường Hồ Chí Minh, cùng với tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào.

Lương Sơn nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm giao lưu kinh tế và văn hóa xã hội giữa vùng núi Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng, bao gồm cả Thủ đô Hà Nội.

Điều kiện tự nhiên

Huyện Lương Sơn nằm ở vùng trung du, là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, với địa hình đa dạng Địa hình nơi đây chủ yếu là đồi núi thấp, có độ cao từ 200-400m, được hình thành từ đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, cùng với mạng lưới sông suối dày đặc.

Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,30c

Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường

Huyện Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố đồng đều, trong đó sông Bùi là con sông lớn nhất, dài 32 km, bắt nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn Sông Bùi chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sau đó đổi hướng quanh co từ Tây sang Đông khi đến xã Tân Vinh Với đặc điểm là một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng và độ dốc nhỏ, sông Bùi có khả năng tích nước tốt Ngoài sông Bùi, huyện còn có một số sông, suối nhỏ nội địa giúp tiêu thoát nước hiệu quả Hệ thống sông, suối này có ý nghĩa kinh tế quan trọng, thuận lợi cho việc xây dựng hồ chứa chống lũ và phục vụ tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp.

Lương Sơn được hưởng lợi từ điều kiện khí hậu và thủy văn thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, cũng như thâm canh tăng vụ Hệ thống sông, suối, hồ đập không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt mà còn điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện

Tài nguyên nước mặt, bao gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc của huyện, cùng với một số hồ đập nhỏ rải rác khắp huyện.

Tổng diện tích đất lâm nghiệp tại huyện là 18.733,19 ha, chiếm 49,68% diện tích tự nhiên Rừng tự nhiên ở đây rất đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý, tuy nhiên, do tác động của con người, diện tích rừng đã bị suy giảm đáng kể và được thay thế bằng rừng thứ sinh.

Diện tích rừng phân bố rộng rãi tại tất cả các xã trong huyện, nhờ vào việc phát triển kinh tế đồi rừng và kinh tế trang trại rừng Điều này không chỉ mang lại thu nhập cao cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn và cải thiện cảnh quan khu vực.

Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim

Huyện Lương Sơn, với vị trí gần Thủ đô Hà Nội và địa hình đa dạng gồm núi đồi, thung lũng rộng, cùng hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên và nhân tạo, kết hợp với rừng, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và sân golf.

Huyện sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh và di chỉ khảo cổ học, bao gồm hệ thống hang động như hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, và hang Trổ, cùng với động Đá Bạc và động Long Tiên Những điểm đến này tạo ra tiềm năng lớn cho việc phát triển các tour du lịch kết hợp tham quan và nghỉ dưỡng.

Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể.

Điều kiện Kinh tế - Xã hội

Huyện có tổng dân số 98.856 người với ba dân tộc chính là Mường, Dao, và Kinh, trong đó người Mường chiếm khoảng 70% Lực lượng lao động đông đảo, với 66% lao động được đào tạo, cho thấy huyện có tiềm năng nguồn nhân lực mạnh mẽ Từ năm 2016 đến 2020, kinh tế huyện phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,86% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm 63,1%, thương mại - dịch vụ 24,8%, và nông lâm nghiệp - thủy sản 12,1% Quy mô kinh tế tăng gần gấp 2,2 lần so với năm 2015, với thu ngân sách Nhà nước năm 2020 ước đạt 372 tỷ đồng, tăng 242 tỷ đồng so với năm 2015 GRDP bình quân đầu người đạt 81,9 triệu đồng, tăng 1,36 lần so với năm 2015 Tỷ lệ đô thị hóa đạt 42% và 100% xã đạt chuẩn Nông thôn mới, với huyện Lương Sơn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2019, sớm hơn một năm so với kế hoạch.

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng của huyện đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 24,8%, với giá trị sản xuất toàn ngành năm 2020 dự kiến đạt 12.870 tỷ đồng, tăng 7.898 tỷ đồng so với năm 2015 Hiện có 148 dự án sản xuất công nghiệp, trong đó 136 dự án đã đi vào hoạt động Khu Công nghiệp Lương Sơn đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật với tỷ lệ lấp đầy 100%, trong khi Khu Công nghiệp Nam Lương Sơn đạt 61% Khu Công nghiệp Nhuận Trạch đang trong quá trình xúc tiến đầu tư hạ tầng kỹ thuật Ngoài ra, huyện cũng đã thành lập mới 3 cụm công nghiệp, bao gồm Cụm công nghiệp xóm Rụt, xã Tân Vinh (74,5ha), Cụm Công nghiệp xã Thanh Cao (46ha) và Cụm Công nghiệp và dịch vụ tại thôn Bùi Trám, thôn Tân Sơn (75ha), đã được Bộ Công thương đồng ý bổ sung vào quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Hòa Bình.

Ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển với giá trị sản xuất năm 2020 ước đạt trên 1.906 tỷ đồng và tốc độ tăng bình quân khoảng 3,6%/năm Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, cải tạo vườn tạp và ưu tiên phát triển cây ăn quả có múi, rau an toàn đã hình thành vùng sản xuất tập trung Nhiều sản phẩm nông nghiệp đạt chất lượng cao, với 5 sản phẩm được đánh giá OCOP cấp huyện và 3 sản phẩm đạt 3 sao cấp tỉnh Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chất lượng, trong đó dự án phát triển đàn bò sữa mang lại thu nhập cao cho nông dân, với tổng đàn bò sữa đạt 200 con và sản lượng sữa 554 tấn/năm, giá trị kinh tế khoảng 8 tỷ đồng.

Hoạt động thương mại và dịch vụ tại huyện phát triển đa dạng với 1.382 doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể Ngành dịch vụ ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,4% Tổng mức luân chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ hàng năm tăng 436 tỷ đồng, ước đạt 5.340 tỷ đồng vào năm 2020, gấp 2,0 lần so với năm 2015 Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 480 triệu USD vào năm 2020, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2015.

Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa kết hợp trải nghiệm và du lịch thể thao giải trí đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong 5 năm qua, ngành du lịch đã đón 622.000 lượt khách, trong đó có 269.920 lượt khách quốc tế, với tổng doanh thu đạt 1.241 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 11,4%.

Hoạt động tài chính- ngân hàng ổn định Tổng thu ngân sách Nhà nước

Từ năm 2016 đến 2020, huyện Lương Sơn đạt tổng thu ngân sách 1.205,6 tỷ đồng, tăng 2,35 lần so với giai đoạn 2011-2015, với ước tính năm 2020 đạt 372 tỷ đồng Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện ước đạt 1.036 tỷ đồng, chiếm 20,7% tổng thu ngân sách toàn tỉnh Đồng thời, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước đạt 4.252,2 tỷ đồng, tăng 3.585 tỷ đồng so với cuối năm 2015.

Xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, sở hữu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển nông-lâm nghiệp, đặc biệt là cây chè Để đảm bảo sự phát triển bền vững, khu vực này cần tập trung vào việc thúc đẩy nền nông nghiệp bền vững trong tương lai.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Tìm công thức phân bón hữu cơ vi sinh tốt nhất cho sinh trưởng và năng suất cây Chè tại xã Tân Vinh huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.

Mục tiêu cụ thể

Công thức phân bón hữu cơ - vi sinh vật tối ưu cho sự phát triển của cây chè không chỉ giúp tăng cường năng suất mà còn bảo vệ môi trường đất Việc sử dụng phân bón này sẽ cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây, đồng thời cải thiện chất lượng đất và duy trì sự cân bằng sinh thái.

+ Thử nghiệm, kết luận sự ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phân bón hữu cơ vi sinh tới cây Chè.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cây chè 40 năm tuổi, được trồng từ năm 1980 tại xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, với độ cao 132m so với mực nước biển Phương thức trồng chủ yếu là lên luống, gieo hạt đều và chăm sóc cẩn thận.

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, khóa luận nghiên cứu một số nội dung sau:

3.3.1 Lịch sử trồng, chăm sóc cây Chè ở các CTTN

3.3.2 Một số chỉ tiêu sinh trưởng cây chè ở các CTTN

3.3.3 Sự ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng cây Chè ở các giai đoạn nghiên cứu

3.3.4 Đề xuất công thức phân bón phù hợp nhất với cây Chè và đảm bảo sử dụng đất bền vững

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình dân sinh và kinh tế - xã hội, cũng như lịch sử rừng trồng chè đã được thu thập và lưu giữ tại phòng Tài nguyên và Môi trường xã Tân Vinh.

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2.1 Lập các OTC nghiên cứu

Mỗi công thức thí nghiệm sẽ lập một OTC ngẫu nhiên điển hình tại khu vực có độ dốc trung bình

Phương pháp lập OTC bao gồm việc sử dụng thước dây, cột đóng và địa bàn cầm tay Theo định lý Pythagore, OTC được thiết lập với chiều dài 3m song song với đường đồng mức, trong khi chiều rộng sẽ vuông góc với đường đồng mức.

Diện tích OTC là 4,5m 2 với chiều rộng và chiều dài là: 1.5m x 3m

3.4.2.2 Bố trí các công thức thí nghiệm (CTTN)

Tất cả các công thức thực nghiệm được sắp xếp trong cùng một không gian thời gian với nhiệt độ trung bình 12°C, ánh sáng tự nhiên và không có vật liệu che chắn Diện tích bố trí là 1,5x3m với trung bình 31 gốc chè cho mỗi công thức.

Bảng 3.1: Các công thức thí nghiệm phân bón hữu cơ vi sinh áp dụng bón cho Chè tại KVNC

Thứ tự Tỷ lệ phân bón Số lượng cây

Chè thí nghiệm Công thức 1

13.5g urê: 13,5g K2O/ trên diện tích là rộng 1,5m x dài 3m 31

Công thức 2 500ml dung dịch phân hữu cơ sinh học

10ml Trichoderma Bacillus + 500ml dung dịch phân hữu cơ sinh học MIG22

30ml Trichoderma Bacillus + 500ml dung dịch phân hữu cơ sinh học MIG22

50ml Trichoderma Bacillus + 500ml dung dịch phân hữu cơ sinh học MIG22

3.4.2.3 Thời gian thu thập số liệu sinh trưởng cây Chè ở các CTTN

Giai đoạn 1 của CTTN diễn ra từ ngày 7/1/2020 đến 27/1/2020 Các công thức sẽ được thực hiện vào lúc 16h ngày 7/1 và số liệu sẽ được thu thập vào buổi chiều ngày 27/1, tức là vào ngày thứ 20 của giai đoạn này.

Giai đoạn 2 diễn ra từ ngày 27/1 đến 17/2/2021, với thời gian thu thập số liệu và đo đếm các công thức được thực hiện vào lúc 4 giờ chiều ngày 17/2.

Giai đoạn 3 diễn ra từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 8 tháng 3 năm 2021, với việc thu thập số liệu các chỉ tiêu theo các công thức vào lúc 4 giờ chiều ngày 8 tháng 3 năm 2021.

3.4.2.4 Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng cây Chè ở các CTTN

Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè được thực hiện theo các phương pháp được trình bày ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Phương pháp điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng cây Chè

TT Chỉ tiêu điều tra Phương pháp Ghi chú

1 Tuổi cây Chè Phỏng vấn hộ gia đình

2 Số lượng chồi/cây Trực quan, đếm

3 Số lượng lá/cây Đo bằng thước dây

4 Kích thước lá Trực quan, mô tả

5 Tỷ lệ sâu bệnh hại Trực quan, đếm

6 Màu sắc lá Trực quan, mô tả

Số liệu điều tra của công thức đối chứng và các công thức bón phân hữu cơ vi sinh được tổng hợp vào bảng 3.3

Bảng 3.3: Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè ở CTTN…

Nhiệt độ:……… Độ ẩm:……… Độ dốc……… Người điều tra……… Ngày điều tra………

Tỷ lệ sâu bệnh hại Màu sắc lá Ghi chú

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm thống kê Excel và SPSS phiên bản 20 để xử lý dữ liệu thu thập, các chỉ tiêu thống kê phân tích bao gồm số lượng búp, tỷ lệ sống chết của mầm, và số lượng lá non trên 1m² Phần mềm SPSS được ứng dụng để kiểm tra sự khác biệt giữa các chỉ tiêu này.

Sinh trưởng cây Chè giữa các công thức thí nghiệm bón phân hữu cơ vi sinh ở cùng một giai đoạn nghiên cứu

Sinh trưởng cây Chè giữa các giai đoạn nghiên cứu ở cùng một công thức thí nghiệm bón phân hữu cơ vi sinh

Vẽ biểu đồ cột thể hiện sự khác biệt về các chỉ tiêu sinh trưởng ở các

CTTN và các giai đoạn nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Lịch sử trồng, chăm sóc cây Chè ở các CTTN

Huyện Lương Sơn, thuộc tỉnh Hòa Bình, nổi bật với số lượng người trồng chè đông đảo Sau gần 40 năm phát triển, sản lượng chè ở đây đã đạt mức cao, mang lại thu nhập ổn định cho người dân Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin về lịch sử trồng và chăm sóc các cây chè trong khu vực.

+ Ở các CTTN, cây Chè bắt đầu được trồng từ năm 1980 Số năm cây Chè sinh trưởng đến thời điểm nghiên cứu là 40 năm

+ Chu kỳ đốn gốc là 7 năm/lần và mỗi năm sau sẽ có 1 chu kỳ hái búp chè từ tháng 2 đầu năm đến tháng 7 trong năm

Bón phân cho cây chè diễn ra trong 2 chu kỳ hàng năm: chu kỳ I từ tháng 1 đến tháng 3 và chu kỳ II từ tháng 9 đến tháng 11 Cuối năm, thời điểm này cũng là lúc cần thực hiện việc đốn tỉa toàn bộ lá chè để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh cho cây.

Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của cây chè trong các cơ sở trồng chè nông nghiệp bao gồm: số lượng chồi (búp), số lượng lá non, kích thước và màu sắc của lá non, cùng với tỷ lệ sâu bệnh.

Hình 4.1 Hình ảnh cây Chè ở các CTTN

Một số chỉ tiêu sinh trưởng cây chè ở các CTTN

Đánh giá sinh trưởng cây chè có thể dựa vào một số chỉ tiêu quan trọng như số lượng chồi (búp), số lượng lá non, kích thước và màu sắc lá non, cũng như tỷ lệ sâu bệnh Số lượng chồi và lá non cùng với kích thước lá lớn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sinh trưởng Công thức nào giúp lá non có màu xanh tươi, tránh màu xám hay đỏ gạch sẽ được coi là hiệu quả Hơn nữa, công thức có tỷ lệ sâu bệnh thấp nhất sẽ mang lại hiệu quả cao nhất cho cây chè.

Bảng 4.1: Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè ở các CTTN bón phân hữu cơ vi sinh

Số lượng chồi non/cây

Số lượng lá non/cây

Kích thước lá non (cm)

Màu sắc lá Tỷ lệ sâu bệnh/cây (%)

1 4,06 4,1 0,06 xanh đậm xám bạc trên bề mặt lá

2 5,74 5,13 0,12 xanh đậm xám bạc trên bề mặt lá xuất hiện đốm đỏ gạch

3 8,45 7,29 0,2 xanh thẫm và xuất hiện đốm đỏ gạch trên bề mặt lá

1 7,65 6,90 0,09 xanh nõn chuối, xanh lá mạ

1 4,94 5,94 0,08 màu xanh non lá chuối 0,006

2 8,97 12 0,2 xanh đậm + xanh lá chuối 0,15

3 11,35 14,48 0,32 mặt trên lá xanh đậm + mặt dưới xanh lá chuối

Công thức đối chứng không sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh cho thấy sự sinh trưởng của cây chè thấp nhất trong năm công thức thử nghiệm Điều này chứng tỏ rằng phân bón hữu cơ vi sinh có tác động tích cực đến sự phát triển của cây chè, và sự ảnh hưởng này được phân tích chi tiết trong mục 4.3.

Sự ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng cây Chè ở các

ở các giai đoạn nghiên cứu

4.3.1 Chỉ tiêu số lượng chồi trên cây Chè

Số lượng chồi trên cây Chè là chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng để đánh giá năng suất Nghiên cứu cho thấy rằng số lượng chồi ở tất cả các công thức thí nghiệm đều có xu hướng tăng dần qua các giai đoạn phát triển.

1, giai đoạn 2 và nhiều nhất ở giai đoạn 3

Bảng 4.2: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của số lượng chồi trên cây ở các CTTN và các giai đoạn NC CTTN

Giai đoạn NC 1 Giai đoạn NC 2 Giai đoạn NC 3

Trong cùng một chế độ tưới nước (CTTN), số lượng búp chè trên cây ở các giai đoạn khác nhau có sự khác biệt rõ rệt với giá trị Sig < 0,005 Đồng thời, ở mỗi giai đoạn nghiên cứu, tất cả các CTTN đều cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng chồi (búp) trên cây với giá trị Sig < 0,005.

Bảng 4.2 cho thấy rằng CTTN bón phân hữu cơ MIG-22 đạt số lượng búp chè cao nhất trong các CTTN, với giá trị trung bình lần lượt là 7,6; 13,4 và 16,8 ở các giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 Các phương pháp tiếp theo là CT MIG22 + 50ml Bacellus, CT MIG22 + 10ml Bacellus, CT MIG22 + 30ml Bacellus, và cuối cùng là CT đối chứng.

Hình 4.2: Sự khác nhau về chỉ tiêu số lượng búp chè trên cây của các

CTTN ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau

4.3.1 Chỉ tiêu số lượng lá trên cây Chè

Nghiên cứu cho thấy số lượng lá non trên cây Chè tăng dần qua các giai đoạn thí nghiệm, với giai đoạn 3 đạt số lượng cao nhất.

Bảng 4.3: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của số lượng lá non trên cây ở các CTTN và các giai đoạn NC CTTN

Giai đoạn NC 1 Giai đoạn NC 2 Giai đoạn NC 3

Trong cùng một chu trình tăng trưởng, số lượng lá chè trên cây có sự khác biệt rõ rệt ở các giai đoạn khác nhau với giá trị Sig < 0,005 Đồng thời, ở mỗi giai đoạn nghiên cứu, tất cả các chu trình tăng trưởng đều cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng lá non trên cây với giá trị Sig < 0,005.

Bảng 4.3 cho thấy rằng bón phân hữu cơ MIG22 mang lại số lượng lá non cao nhất trên cây chè, với giá trị trung bình lần lượt là 6,9; 11,58 và 14,81 ở các giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 Các phương pháp tiếp theo là CT MIG22 kết hợp với 50ml, 30ml và 10ml Bacellus, trong khi CT đối chứng có hiệu quả thấp nhất.

Hình 4.3: Sự khác nhau về chỉ tiêu số lượng lá non chè trên cây của các

CTTN ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau

4.3.2 Chỉ tiêu kích thước lá

Nghiên cứu cho thấy kích thước lá của cây Chè tăng dần qua các giai đoạn thí nghiệm, với sự gia tăng rõ rệt nhất ở giai đoạn 3.

Bảng 4.4: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của kích thước lá trên cây

Chè ở các CTTN và các giai đoạn NC CTTN

Giai đoạn NC 1 Giai đoạn NC 2 Giai đoạn NC 3

Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy kích thước lá chè trên cây thay đổi rõ rệt ở các giai đoạn khác nhau trong cùng một CTTN, với giá trị Sig < 0,005 (bảng phụ lục 2.6) Ngoài ra, trong cùng một giai đoạn nghiên cứu, tất cả các CTTN đều có sự khác biệt đáng kể về kích thước lá non trên cây, cũng với giá trị Sig < 0,005 (bảng phụ lục 2.6).

Bảng 4.4 cho thấy rằng CTTN bón phân hữu cơ MIG-22 đạt số lượng búp chè cao nhất trong các CTTN, với giá trị trung bình lần lượt là 3,01; 5,16 và 11,68 trong các giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 Các phương pháp tiếp theo là CT MIG22 + 50ml Bacellus, CT MIG22 + 30ml Bacellus, CT MIG22 + 10ml Bacellus, và cuối cùng là CT đối chứng.

Hình 4.4: Sự khác nhau về chỉ tiêu kích thước lá chè trên cây của các

CTTN ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau

4.3.3 Chỉ tiêu tỷ lệ sâu bệnh hại lá trên cây

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu bệnh hại lá trên cây chè tăng dần qua các giai đoạn thí nghiệm, với mức cao nhất được ghi nhận ở giai đoạn 3.

Bảng 4.5: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của tỷ lệ sâu bệnh hại lá trên cây Chè ở các CTTN và các giai đoạn NC CTTN

Giai đoạn NC 1 Giai đoạn NC 2 Giai đoạn NC 3

Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy rằng trong cùng một cây chè, tỷ lệ sâu bệnh trên lá có sự khác biệt rõ rệt ở các giai đoạn khác nhau với giá trị Sig < 0,005 (xem bảng phụ lục 2.8) Hơn nữa, trong cùng một giai đoạn nghiên cứu, tất cả các cây chè đều cho thấy sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sâu bệnh lá với giá trị Sig < 0,005 (xem bảng phụ lục 2.8).

Bảng 4.5 cho thấy rằng CTTN bón phân hữu cơ MIG-22 có tỷ lệ sâu bệnh hại thấp nhất trong các CTTN, với giá trị trung bình lần lượt là 0; 1.81 và 1.58 ở các giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 Các phương pháp tiếp theo là CT MIG22 + 10ml Bacellus, CT đối chứng, CT MIG22 + 50ml Bacellus và cuối cùng là CT MIG22 + 30ml Bacellus.

Tỷ lệ sâu bệnh ở CTTN MIG22 gần như không có, cho thấy đây là một kết quả khả quan cho việc áp dụng loại phân bón này rộng rãi tại huyện.

Hình 4.5: Sự khác nhau về tỷ lệ sâu bệnh hại lá chè trên cây của các

CTTN ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong sinh trưởng của cây Chè giữa các công thức thí nghiệm và các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Việc bón phân hữu cơ vi sinh có tác động tích cực đến sự phát triển và năng suất của cây Chè, thể hiện qua số lượng búp và lá Chè.

Đề xuất công thức phân bón phù hợp nhất với cây Chè và đảm bảo sử dụng đất bền vững

sử dụng đất bền vững

4.4.1 Đề xuất công thức bón phân phù hợp nhất với cây Chè tại KVNC

Các thử nghiệm với phân bón hữu cơ vi sinh cho thấy công thức MIG22 và công thức 50ml bacillus + 3000ml nước + 500ml phân hữu cơ MIG22 mang lại hiệu quả tốt nhất cho cây chè, cải thiện số lượng và kích thước lá non cũng như chồi non Hai công thức này cũng giúp giảm thiểu sâu bệnh trên lá, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của cây chè, tái tạo gốc cây già cỗi và gia tăng vi sinh vật trong đất.

Công thức phân bón hữu cơ vi sinh MIG22 (CTTN2) đã được nghiên cứu và chỉ ra là hiệu quả nhất trong việc cải thiện các chỉ tiêu như chồi và lá non cho cây Chè.

4.4.2 Đề xuất các biện pháp bón phân đảm bảo sử dụng đất bền vững Để đạt được chất lượng và năng suất cây Chè cao mà vẫn đảm bảo được việc sử dụng đất bền vững, đề tài đề xuất một số biện pháp kỹ thuật như sau:

Biện pháp 1: Trước khi bón phân chung ta nên đào rãnh xung quanh cây, để cây dễ dàng hấp thụ hơn và phân dễ dàng hòa tan hơn (7)

Để cây hấp thụ phân bón hiệu quả, chúng ta nên hòa tan phân bón với nước trước khi phun cho cây Cách này giúp cây dễ dàng hấp thụ dinh dưỡng, đồng thời tránh tình trạng phân bón không tiêu, gây chai đất.

Để đạt được năng suất cao nhất cho cây trồng và tránh tồn dư phân bón trong đất, cần bón đúng lúc, đúng đối tượng và đúng lượng Ngoài ra, lựa chọn phân hữu cơ, phân xanh và phân vi sinh để bón theo thời vụ và thời tiết sẽ giúp tăng cường khả năng hấp thụ của cây, đồng thời bổ sung vi sinh vật và các chất cần thiết cho đất.

Để canh tác chè hiệu quả trên đất Feralit có độ pH từ 4,5 đến 5,5, cần thực hiện biện pháp khử chua đất bằng thạch cao hoặc vôi bột trước khi trồng.

Ngày đăng: 11/10/2023, 00:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè ở một số nơi - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 1.1. Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè ở một số nơi (Trang 12)
Bảng 3.1: Các công thức thí nghiệm phân bón hữu cơ vi sinh áp dụng bón - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.1 Các công thức thí nghiệm phân bón hữu cơ vi sinh áp dụng bón (Trang 25)
Bảng 3.3: Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè ở CTTN…. - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè ở CTTN… (Trang 27)
Hình 4.1. Hình ảnh cây Chè ở các CTTN - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Hình 4.1. Hình ảnh cây Chè ở các CTTN (Trang 29)
Bảng  4.2  cho  thấy:  CTTN  bón  phân  hữu  cơ  MIG-22  cho  số  lượng  búp  chè  cao  nhất  trong  các  CTTN  với  giá  trị  trung  bình  lần  lượt  là  7,6;  13,4  và  16,8 tương ứng với giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
ng 4.2 cho thấy: CTTN bón phân hữu cơ MIG-22 cho số lượng búp chè cao nhất trong các CTTN với giá trị trung bình lần lượt là 7,6; 13,4 và 16,8 tương ứng với giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 (Trang 32)
Bảng 4.3: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của số lượng lá non trên - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 4.3 Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của số lượng lá non trên (Trang 33)
Hình 4.3: Sự khác nhau về chỉ tiêu số lượng lá non chè trên cây của các - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Hình 4.3 Sự khác nhau về chỉ tiêu số lượng lá non chè trên cây của các (Trang 34)
Bảng  4.4  cho  thấy:  CTTN  bón  phân  hữu  cơ  MIG-22  cho  số  lượng  búp  chè cao nhất trong các CTTN với giá trị trung bình lần lượt là 3,01; 5,16 và  11,68 tương ứng với giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
ng 4.4 cho thấy: CTTN bón phân hữu cơ MIG-22 cho số lượng búp chè cao nhất trong các CTTN với giá trị trung bình lần lượt là 3,01; 5,16 và 11,68 tương ứng với giai đoạn nghiên cứu 1, 2 và 3 (Trang 35)
Bảng 4.5: Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của tỷ lệ sâu bệnh hại lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 4.5 Giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn của tỷ lệ sâu bệnh hại lá (Trang 36)
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa các GĐNC trong 1 CTTN ở chỉ tiêu số - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa các GĐNC trong 1 CTTN ở chỉ tiêu số (Trang 43)
Bảng 1.5. Sự khác nhau giữa các GĐNC trong 1 CTTN ở chỉ tiêu kích - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 1.5. Sự khác nhau giữa các GĐNC trong 1 CTTN ở chỉ tiêu kích (Trang 45)
Bảng 1.6. Giá trị Sig giữa các GĐNC trong 1 CTTN về kích thước lá chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 1.6. Giá trị Sig giữa các GĐNC trong 1 CTTN về kích thước lá chè (Trang 46)
Bảng 2.2. Giá trị Sig  giữa các CTTN trong 1 GĐNC về SL chồi (búp) chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây chè (camellia siensis) tại xã tân vinh, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 2.2. Giá trị Sig giữa các CTTN trong 1 GĐNC về SL chồi (búp) chè (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w