1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự bộ luật dân sự năm 2015

32 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Kiện Có Hiệu Lực Của Giao Dịch Dân Sự Bộ Luật Dân Sự Năm 2015
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự là sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưudân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để cácchủ thể tham gia vào quan hệ pháp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giao dịch dân sự là một mảng quan hệ pháp luật vô cùng quan trọng, là mộttrong những chế định pháp lí cổ xưa nhất, xuất hiện sớm nhất trong nội dung luậtdân sự Giao dịch dân sự là sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưudân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để cácchủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình Từ những năm đầu của thời kì đổi mới một loạt các văn bản pháp luật điều

chỉnh quan hệ Giao dịch dân sự đã ra đời như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989);

Bộ luật dân sự 1995 ra đời và được sửa đổi, bổ sung tại Bộ luật dân sự 2005

Cho tới khi Bộ luật dân sự 2015 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015,

có hiệu lực ngày 01/01/2017, đã tạo ra một hành lang pháp lí quan trọng cho giaolưu dân sự, thể hiện một bước tiến cao hơn trong tư duy lập pháp, hành pháp và tưpháp của những nhà làm luật Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học hỏinhững quy định pháp luật từ thực tiễn cũng như luật pháp của các nước trên thếgiới, cân nhắc chúng cùng với hoàn cảnh thực tế tại Việt Nam để đưa ra một vănbản có tính chuẩn mực pháp lí cao trong hệ thống pháp luật dân sự Chế định hợpđồng dân sự chiếm tới khoảng 200 điều trong tổng số 689 điều của Bộ luật dân sự.Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêuđảm bảo công bằng xã hội Hơn nữa, Việt Nam đang trên đà hội nhập nền kinh tếtoàn cầu, quá trình hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức.Chừng nào pháp luật nói chung và những quy định về giao dịch dân sự nói riêngchưa trở thành công cụ cơ bản để điều chỉnh quan hệ xã hội thì chừng đó Việt Namvẫn còn đứng ngoài sự phát triển chung của thế giới Các tranh chấp về giao dịchdân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngày càng cao đòi hỏi pháp luật

về giao dịch dân sự phải hoàn thiện hơn để giải quyết một cách triệt để Khó khăntrong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự là do các bên

Trang 2

không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch Để giải quyết được cáctranh chấp đó một câu hỏi đặt ra: “Liệu có tồn tại giao dịch dân sự hay không?” và

“Giao dịch dân sự có hiệu lực hay không?” để từ đó xác định các bên có quyền vànghĩa vụ gì Vì vậy, những quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh những quan hệ giao lưu dân sự của xãhội Các quy định này không tồn tại độc lập mà có sự liên hệ chặt chẽ với các quyđịnh khác trong Bộ luật dân sự 2015 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựgóp phần nâng cao ý thức cuả các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, giải quyếtcác mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện giao dịchdân sự cũng như bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó, tạo nên

sự bình đẳng trong giao lưu dân sự Vì những lí do trên mà em đã lựa chọn đề tài:

“Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự” nhằm góp phần làm sáng

tỏ những quy định của Bộ luật dân sự 2015 về những điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự và đưa ra một số phân tích, bình luận về vấn đề này

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi của đề tài

Đề tài có các mục đích sau đây: Nghiên cứu các cơ sở lý luận, phân tích đánhgiá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật, từ đó đưa racác giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về giao dịch dânsự

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu giao dịch dân sự bao gồm cơ sở lýluận, đánh giá pháp luật thực định

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận quy định pháp luật vềgiao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản liên quan khác Đề tàinghiên cứu giữa các chủ thể trong nước, không có yếu tố nước ngoài

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi cả nước, trong thời gian từ năm 2017 đếnnăm 2020

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ

1 Khái niệm giao dịch dân sự và đặc điểm của giao dịch dân sự

Điều 121 Bộ luật dân sự 2015 xác định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặchành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự

Như quy đinh trên ta có thể nhận thấy, có 2 loại giao dịch dân sự:

- Hành vi pháp lý đơn phương: Là giao dịch thể hiện ý chí của một bên chủthể nhằm phát sinh quan hệ dân sự mà không cần ý chí của các chủ thể khác.Hành vi pháp lý đơn phương có thể do một hoặc nhiều chủ thể ở cùng một bên bày

tỏ ý chí Ví dụ: Lập di chúc chung Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơnphương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có điều kiện do chủ thể bày tỏ ý chí đặt

ra, phía bên kia phải đáp ứng mới làm phát sinh nghĩa vụ của bên bày tỏ ý chí đơnphương Ví dụ: phát sinh nghĩa vụ trả lương

- Hợp đồng dân sự: là giao dịch thể hiện sự thống nhất ý chí của hai haynhiều bên chủ thể ở hai phía của giao dịch, làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự Ví dụ: hợp đồng mua bán xe đạp

Quyền dân sự là khả năng xử sự theo ý chí tự do của chủ thể nhằm đạt đượcmục đích của mình Tuy nhiên, không phải xử sự nào cũng phù hợp với quy địnhcủa pháp luật, mà quyền dân sự được xác lập trên căn cứ được quy định tại Điều 8

Bộ luật Dân sự 2015

Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọichung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặcgiấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhấtđịnh vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)(Điều 274 Bộ luật dân sự 2015)

Từ quy định này ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việclàm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trongquan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí

Trang 4

đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp

lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luậtdân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhấtđịnh, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giaodịch, với những mục đích và động cơ nhất định

Trang 5

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ

Giao dịch dân sự là hoạt động phổ biến giữa người với người nhằm đạt đượcmục đích minh mong muốn trong nội dung cụ thể của giao dịch, những giao dịchnày thường mang trong mình tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Ngoài ra,Giao dịch dân sự còn phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật mới có thể phát sinhhiệu lực Đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Bộ luật dân sự ViệtNam 2015 quy định điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực bao gồm:

- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm củapháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự trong trường hợp pháp luật có quy định

Như vậy, theo Bộ luật dân sự Việt Nam điều kiện có hiệu lực của giao dịchdân sự bao gồm các điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch dân sự; mục đích, nộidung của giao dịch dân sự; điều kiện về sự tự nguyện và điều kiện về hình thức củagiao dịch dân sự

1 Điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch dân sự

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà cụ thể ở đây là quan hệ giao dịchdân sự là những tổ chức, cá nhân, … tham gia vào quan hệ đó Phạm vi chủ thểtham gia quan hệ giao dịch dân sự bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợptác Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực là “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự

có năng lực hành vi dân sự”

1.1 Chủ thể tham gia giao dịch dân sự là cá nhân

Pháp luật dân sự quy định chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải có năng lựchành vi Điều 19- Bộ luật dân sự 2015 quy định: “năng lực hành vi của cá nhân làkhả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụdân sự” Nếu như năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan

Trang 6

của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo racác quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ

Như đã phân tích, bản chất của giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí, sự bày

tỏ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Do vậy, chỉ cónhững người có năng lực hành vi mới có ý chí riêng và khả năng nhận thức đượchành vi của họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sựphát sinh từ giao dịch dân sự và tự mình chịu trách nhiệm trong giao dịch dân sự

Bộ luật dân sự Việt Nam cũng không quy định cá nhân tham gia giao dịch dân sựphải có năng lực hành vi dân sự đẩy đủ mà đối với cá nhân ở các độ tuổi khác nhau

sẽ có năng lực hành vi dân sự khác nhau và từ đó sẽ có khả năng tham gia xác lập,thực hiện giao dịch dân sự khác nhau

Đối với những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là những người đãthành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) trừ trường hợp bị Toà Án tuyên bố mất năng lựchành vi, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi thì được toàn quyền xác lập mọi giaodịch dân sự Như vậy, pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định

độ tuổi tối đa của người tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Họ có đủ tưcách chủ thể, toàn quyền tham gia xác lập giao dịch dân sự và tự mình chịu tráchnhiệm về những hành vi do họ thực hiện Tuy nhiên, theo quy định của Luật hônnhân và gia đình đối với nữ từ 18 tuổi (17 tuổi + 1 ngày) trở lên có quyền kết hônnhưng người phụ nữ dù đủ tuổi kết hôn vẫn chưa có đủ năng lực hành vi dân sự Vìvậy, khi họ tham gia vào quan hệ giao dịch dân sự phải được sự đồng ý của ngườiđại diện theo pháp luật nếu không giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu

Mặt khác, quy định có người năng lực hành vi là một trong những điều kiện

có hiệu lực của giao dịch dân sự không được hiểu theo nghĩa cứ có năng lực hành vidân sự đầy đủ thì có thể tham gia mọi giao dịch mà trên thực tế vẫn có những quyđịnh mang tính hạn chế người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tham gia vào một

số giao dịch nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người liên quan Đó

là các trường hợp được quy định tại Điều 141 - Bộ luật dân sự 2015 về người đạidiện không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người

Trang 7

thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó hay các giao dịch dân sự giữangười giám hộ và người được giám hộ đều vô hiệu chỉ trừ trường hợp giao dịchđược thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giámsát việc giám hộ Hay tại khoản 1, Điều 59 - Bộ luật dân sự 2015 quy định: “cácgiao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tàisản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện

vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giámhộ”

Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng cóthể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo quyđịnh của pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó phải tự mình thamgia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự đó

Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác lập, thựchiện quyền và nghĩa vụ trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định

Đó là những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Cá nhân từ đủ

6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực hành vi một phần Họ có thểbằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia giaodịch dân sự để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi Nhưngpháp luật lại không quy định rõ những giao dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầusinh hoạt hằng ngày và phù hợp với lứa tuổi” nhưng có thể hiểu rằng đó là các giaodịch mang các đặc điểm sau :

Trang 8

cũng như nội dung của giao dịch đó Thời điểm đồng ý không có ý nghĩa quyếtđịnh Nếu người được đại diện đã thực hiện giao dịch không có sự đồng ý của ngườiđại diện thì với tư cách là người đại diện, họ có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giaodịch vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 4 - Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừgiao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịchdân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.Quy định này xuất phát từ thực tế người từ đủ 15 tuổi có quyền giao kết giao dịchdân sự và có thu nhập riêng hợp pháp, tạo điều kiện cho họ thực sự trở thành chủthể độc lập trong đời sống kinh tế - xã hội

Nhưng cũng cần lưu ý pháp luật dân sự quy định một số giao dịch cụ thể chỉ

có thể do người đã thành niên xác lập mới có hiệu lực, đặc biệt là các giao dịch dân

sự pháp luật bắt buộc phải có công chứng Trong trường hợp đó người chưa thànhniên dù có tài sản riêng cũng không có năng lực hành vi dân sự để thực hiện giaodịch dân sự

Đối với người không có năng lực hành vi dân sự là người chưa đủ 6 tuổi Họkhông có quyền tham gia bất cứ một giao dịch nào Mọi giao dịch của những ngườinày phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Nguyên nhân là do họchưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành viđó

Đối với người bị mất năng lực hành vi theo Điều 22 - Bộ luật dân sự 2015 làngười “do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủđược hành vi của mình” Như vậy, người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lựchành vi khi có những điều kiện, với trình tự, thủ tục nhất định và trên cơ sở kết luậncủa tổ chức giám định có thẩm quyền, Toà án có thể tuyên bố một người bị mấtnăng lực hành vi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Vì vậy, vớinhững người bị mất năng lực hành vi khi tham gia xác lập, thực hiện giao dịch họđều phải thông qua người đại diện theo pháp luật

Trang 9

Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 24 Bộ luật dân

sự 2015 là người “nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tántài sản của gia đình” thì giao dịch dân sự liên qua đến tài sản của người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừgiao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày Người đại diện theo pháp luậtcủa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyếtđịnh

Đại diện theo pháp luật của cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần, cánhân không có năng lực hành vi dân sự, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự hay

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được xác lập theo quy định của pháp luật hoặctheo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thẩm quyền đại diện theopháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện trong quyết định cử đại diện của cơquan nhà nước có thẩm quyền Việc xác lập đại diện này thường không phụ thuộcvào ý chí cuả người được đại diện Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyềnxác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của người được đại diện trừ trường hợppháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết địnhkhác

Tuy nhiên, trường hợp đại diện người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cómột số nét đặc biệt riêng Thẩm quyền đại diện đối với người bị hạn chế năng lựchành vi khác thẩm quyền đại diện đối với người bị mất năng lực hành vi dân sựhoặc có năng lực hành vi dân sự một phần Người đại diện cho người bị hạn chếnăng lực hành vi không thể tự mình xác lập giao dịch thay cho người bị hạn chế màchỉ có quyền “đồng ý” hay “ không đồng ý” Chính người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao dịch dân sự nhưng với sự chấp thuận củangười đại diện Người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý

mà thôi Nếu giao dịch đó không làm ảnh hưởng đến lợi ích của chính người đạidiện của những người thân thích trong gia đình của người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật cho phép người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự được xác lập, thực hiện giao dịch

Trang 10

Tuy nhiên, một trường hợp đã được dự liệu trong pháp luật dân sự tại điều

128 là trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị hạn chế nănglực hành vi dân sự nhưng đã xác lập, thực hiện giao dịch vào đúng thời điểm khôngnhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì sẽ bị tuyên là vô hiệu Đây có thểđược coi là trường hợp ngoại lệ của trường họp người có năng lực hành vi dân sựđầy đủ không bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự song đã xác lập giao dịch trái với ý chí của họ nên họ có quyền yêu cầu Toà ántuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bởi khi đó đã

vi phạm tính tự nguyện khi tham gia giao dịch

Như vậy, nếu cá nhân tham gia giao dịch dân sự không có năng lực hành vi dân sự thì giao dịch dân sự sẽ vô hiệu Trong trường hợp này giao dịch dân sự vô

hiệu tương đối (vô hiệu bị tuyên) chỉ khi các bên hoặc những người đại diện của họyêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu thì Toà án mới xem xét và quyết định Bên yêu cầuphải có nghĩa vụ chứng minh trước Toà cơ sở của yêu cầu là do đã tham gia xác lập

giao dịch dân sự với người không có năng lực hành vi dân sự Điều 125- Bộ luật dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng

lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện sẽ

vô hiệu Theo Điều 132- Bộ luật dân sự 2015 thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố

giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp này là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch dân sự Về nguyên tắc, giao dịch dân sự dân sự vô hiệu không phát sinh quyền, nghĩa vụ nhưng không phải lúc nào các bên tham gia giao dịch dân sự cũng phát hiện ra các vi phạm là điều kiện dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu Thông thường chỉ có một bên có quyền lợi trong việc huỷ bỏ giao dịch dân sự vô hiệu nên việc giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu thường được thông qua con đường tố tụng tại

Toà án Do đó, việc quy định thời hiệu để các bên yêu cầu Toà án tuyên bố một giao

dịch dân sự vô hiệu có ý nghĩa lớn về lí luận và thực tiễn Cơ sở lí luận của việc xác định thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu dựa trên:

Thời gian có thể làm cho giao dịch dân sự vi phạm điều kiện mà pháp luật quy định trở thành giao dịch dân sự có hiệu lực được không;

Trang 11

Quyền tự định đoạt của các bên trong giao dịch dân sự sau một thời

gian nhất định;

Nhu cầu bảo vệ sự ổn định của giao dịch dân sự nhằm bảo đảm hài

hoà giữa lợi ích của nhà nước và công dân

Từ những cở sở đó, căn cứ vào quyền tự định đoạt của các bên tham gia giao

dịch dân sự thì thời hạn để những người này quyết định việc có yêu cầu Toà án bảo

vệ hay không là 2 năm Nếu họ không khởi kiện trong thời hạn này thì có nghĩa là

họ từ chối quyền yêu cầu được pháp luật bảo vệ Nhưng thời hiệu 2 năm lại được

tính từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập

1.2 Chủ thể tham gia giao dịch dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

Ta có thể hiểu pháp nhân thông qua các điều kiện thành lập pháp nhân tạiĐiều 74- Bộ luật dân sự theo đó pháp nhân là một thực thể độc lập thống nhất, đượcthành lập hợp pháp, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình,nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập Năng lựcpháp luật của pháp nhân được hiểu là khả năng của pháp nhân có các quyền vànghĩa vụ dân sự phù hợp mục đích hoạt động của mình Năng lực pháp luật củapháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thờiđiểm chấm dứt pháp nhân.1

Với quy định “chủ thể tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự”

chúng ta có thể hiểu năng lực hành vi của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và tổchức khác không có tư cách pháp nhân được xem xét thông qua vai trò của người

đại diện Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân,

hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân sẽ làm phát sinhquyền, nghĩa vụ cho pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tưcách pháp nhân

Người đại diện cho các chủ thể này có thể thực hiện thông qua 2 cơ chế đạidiện Đó là:

1 Khoản 1,2 - Điều 86 - Bộ luật dân sự 2015

Trang 12

- Đại diện theo pháp luật: Trường hợp người đại diện cho pháp nhân là ngườiđứng đầu pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyếtđịnh thành lập pháp nhân; trường hợp người đại diện cho hộ gia đình là chủ hộtrong đó cha hoặc mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ Đốivới người đại diện cho tổ hợp tác đại diện theo pháp luật là tổ trưởng do các tổ viên

cử ra Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được đại diện là pháp nhân, hộ giađình, tổ hợp tác trừ trường hợp ngươi đại diện cho pháp nhân, họ gia đình, tổ hợptác đó đồng ý

- Đại diện theo uỷ quyền: đối với hình thức này người đại diện có thể là bất

cứ ai và phải dựa trên hợp đồng uỷ quyền Trường hợp này, người đại diện chỉ đượcxác lập, thực hiện những giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Nếu người đạidiện theo uỷ quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện nhữnggiao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện hoặc không nằm trong phạm vi đại diệnkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đối vớiphần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện hoặc không nằm trongphạm vi đại diện Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phươngchấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đạidiện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trong trường hợp này, nếu người đại diện cho pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợptác tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi tham gia xác lập giao dịch dân sựkhông có năng lực hành vi dân sự thì giao dịch dân sự bị vô hiệu tương đối và thờihiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu cũng là 2 năm kể từ ngày xác lậpgiao dịch dân sự

2 Điều kiện về mục đích, nội dung của giao dịch dân sự

Bộ luật dân sự quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “mụcđích, nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hội”

Trang 13

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốnđạt được khi xác lập giao dịch đó (mục đích thực tế) Nội dung của giao dịch dân sự

là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận trong giao dịch.Những điều khoản này xác định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch.Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự có quan hệ chặt chẽ với nhau Chủ thểxác lập, thực hiện giao dịch dân sự luôn nhằm đạt được mục đích nhất định Muốnđạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về nội dung và ngược lại nhữngcam kết, thoả thuận về nội dung của chủ thể là để đạt được mục đích của giao dịch.Không thể có hành vi mang tính ý chí khi các chủ thể tham gia vào việc xác lập,thực hiện giao dịch dân sự lại không nhằm vào một mục đích nhất định Mục đíchcủa giao dịch dân sự là yếu tố không thể thiếu trong giao dịch dân sự, là cơ sở xácđịnh việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự đó có hiệu lực pháp lí hay không

Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán tài sản, mục đích mà các bên hướng tới làquyền sở hữu tài sản Để đạt được mục đích này chủ thể phải thoả thuận được vềnội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều khoản như đối tượng (vật bán),giá cả, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng

Sự thoả thuận về các điều khoản đó lại nhằm đạt được mục đích là quyền sởhữu tài sản Đây là mục đích của giao dịch mà các bên hướng tới Tuy nhiên trongthực tiễn không phải bao giờ các chủ thể cũng có cùng mục đích Mục đích của giaodịch dân sự khác với động cơ xác lập giao dịch dân sự Động cơ của giao dịch dân

sự là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia giao dịch dân sự không được coi làyếu tố đương nhiên phải có trong giao dịch dân sự Nếu động cơ không đạt đượckhông làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch dân sự nhưng giao dịch dân sựkhông có mục đích hoặc mục đích không đạt được sẽ làm giao dịch dân sự vô hiệu.Mục đích luôn luôn được xác định cụ thể còn động cơ có thể được xác định hoặckhông Ví dụ như trong hợp đồng mua bán nhà mục đích của hợp đồng là mua nhà

để có quyền sở hữu nhà nhưng động cơ có thể để ở, cho thuê hay bán lại cho ngườikhác Động cơ của giao dịch dân sự có thể được các bên thoả thuận trở thành mộtđiều khoản của giao dịch dân sự, một bộ phận cấu thành của giao dịch dân sự

Trang 14

Có những trường hợp người mua muốn được sở hữu tài sản nhưng người bánkhông có mục đích đó mà vì một mục đích khác, đó là họ bán tài sản để trốn tránhviệc kê biên tài sản, người bị kê biên tài sản bán hết tài sản của mình, trường hợpnày người bán không phải muốn chuyển quyền sở hữu cho bên mua Mục đích này

là trái luật

Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giaodịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội cónghĩa là mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không được xâm phạm đến lợiích của Nhà nuớc, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của nguời khác đã đượckhẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự

Chỉ những tài sản được phép giao dịch, những công việc được phép thựchiện không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượngcủa giao dịch dân sự Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc tráiđạo đức xã hội là những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung không hợp pháp,không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch dân sự đó

So với Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015

đã có sự sửa đổi cho chính xác hơn khi sử dụng cụm từ “điều cấm của pháp luật”thay cho cụm từ “ không trái pháp luật”- một cụm từ mang tính chung chung Điềucấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thựchiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chunggiữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.Đạo đức xã hội có phạm vi rộng, có vai trò chi phối hành vi và ý thức của conngười, góp phần làm hài hoà lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội Đạo đức xã hội

là một dạng của quy phạm xã hội, cùng với quy phạm pháp luật -mang tính bắt buộcchung, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước thì đạo đức xã hội gópphần điều chỉnh hành vi của con người theo đúng chuẩn mực xã hội

Như vậy, để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dungcủa giao dịch không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xãhội Nội dung của giao dịch dân sự, các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân

Trang 15

sự phải hợp pháp, có thể thực hiện được và không được phép xác lập, thực hiệnnhững giao dịch dân sự mà pháp luật cấm hoặc trái đạo đức xã hội (mua bán matúy, vũ khí, súng đạn ) Nếu pháp luật không quy định cụ thể thì các bên có quyềnxác lập, thực hiện những giao dịch dân sự không trái với những nguyên tắc cơ bảncủa luật dân sự Các giao dịch dân sự có mục đích, nội dung không hợp pháp sẽkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự Nói cách khác giao dịch dân sự đó bịcoi là vô hiệu

Trong trường hợp giao dịch dân sự đã xác lập vi phạm điều cấm của phápluật, trái đạo đức xã hội sẽ dẫn đến hậu quả pháp lí giao dịch dân sự vô hiệu tuyếtđối (vô hiệu đương nhiên) Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực từthời điểm giao kết và mặc nhiên bị coi là vô hiệu Đối với trường hợp này, các bêntham gia giao dịch dân sự, những người có quyền, lợi ích liên quan đều có quyềnyêu cầu Toà án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích cộngđồng Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tuyết đối (vôhiệu đương nhiên) không bị hạn chế

Tuy vậy quy định giao dịch dân sự vô hiệu có thời hiệu yêu cầu tuyên vôhiệu là không xác định trên thực tế rất khó áp dụng mặc dù để bảo vệ lợi ích cộngđồng nhưng có thể dẫn đến tình trạng mất ổn định xã hội, việc bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của các bên khó khăn và việc tìm chứng cứ chứng minh cũng là cả mộtvấn đề Do vậy, việc quy định một thời hiệu nhất định cho giao dịch dân sự vô hiệutuyệt đối mà trong trường hợp này là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật,trái đạo đức xã hội là rất cần thiết

3 Điều kiện về sự tự nguyện trong giao dịch dân sự

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, chonên “tự nguyện” bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không

có tự do ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố nàykhông có hoặc không thống nhất cũng không thể có tự nguyện Sự tự nguyện củamột bên (hành vi pháp lí đơn phương) hoặc sự tự nguyện của các bên trong mộtquan hệ dân sự (hợp đồng) là một trong các nguyên tắc được quy định tại Khoản 2

Trang 16

Điều 3 Bộ luật dân sự: Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận Vi phạm sự tự nguyệncủa chủ thể là vi phạm pháp luật.

Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện có nghĩa là tự do ýchí và sự thể hiện ý chí của các bên Ý chí “là khả năng tự xác định mục đích chohành động và hướng hành động của mình, khắc phục khó khăn nhằm đạt mục đíchđó” nhưng nó vẫn chỉ là điều mong muốn, là nguyên nhân thúc đẩy chủ thể hướngtới việc xác lập giao dịch dân sự Ý muốn và lựa chọn biện pháp để đạt được ýmuốn đó thuộc ý chí chủ quan của chủ thể Tự do ý chí ở đây được thể hiện là việc

tự do lựa chọn phương thức để đạt được ý muốn của mình Tuy nhiên, việc lựa chọnphương thức nào lại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, chủ quan như khảnăng tài chính, sở thích, vv … Trên cơ sở đó chủ thể lựa chọn phương thức để đạtđược ý muốn đó

Tuy nhiên ý chí vẫn thuộc chủ quan của chủ thể, là động lực bên trong thúcđẩy chủ thể xác lập giao dịch dân sự do đó thể hiện ý chí là biểu lộ cái bên trong đó

ra bên ngoài, làm cho thấy rõ nội dung của ý chí dưới hình thức cụ thể Ý chí và tự

do ý chí là hai mặt của tự nguyện Để có tự do ý chí phải có độc lập về ý chí và chỉkhi có đủ lí trí mới có sự độc lập về ý chí Do vậy, chừng nào chủ thể chưa có khảnăng, mất khả năng hoặc tạm thời không có khả năng nhận thức và điều khiển hành

vi của mình thì không có tự do ý chí Vì thế chỉ có người có năng lực hành vi dân sựmới độc lập về ý chí và đủ lí trí để xác lập giao dịch dân sự

Điều kiện về tính tự nguyện của giao dịch dân sự có liên quan chặt chẽ đếnđiều kiện thứ nhất - điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch dân sự Người có nănglực hành vi là người có lí trí, họ nhận thức được hành vi và hậu quả của hành viđồng thời có khả năng điều khiển hành vi của họ Họ có khả năng chịu trách nhiệm

về giao dịch dân sự đã xác lập và hậu quả do việc xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự Nhưng ý chí của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ dân sựnói riêng mà cụ thể là quan hệ giao dịch dân sự phải phù hợp với ý chí của Nhànước Vì vậy, ý chí đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạođức xã hội Trong giới hạn bởi hành lang pháp lí các bên tham gia vào giao dịch dân

Ngày đăng: 10/10/2023, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) 2. Bộ luật dân sự Việt Nam (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
1. TS.Phạm Kim Anh; Th.S.Chế Mỹ Phương Đài, (2017); “Giáo trình những quy định chung về luật dân sự” - Nhà Xuất Bản Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhữngquy định chung về luật dân sự
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Hồng Đức - Hội Luật GiaViệt Nam
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Phương,(2018); “Giáo trình luật tố tụng dân sự việt nam: Tái bản có sửa đổi, bổ sung”, Nhà Xuất Bản Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sựviệt nam: Tái bản có sửa đổi, bổ sung
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Hồng Đức - Hội LuậtGia Việt Nam
3. PGS.TS. Phan Trung Hiền (2019), “Giáo trình luật dân sự Việt Nam”, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Phan Trung Hiền
Nhà XB: NhàXuất Bản Chính Trị Quốc Gia Sự Thật
Năm: 2019
4. PGS.TS. Đinh Văn Thanh & TS. Nguyễn Minh Tuấn (2019); “Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 1, 2” – NXB Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luậtdân sự Việt Nam tập 1, 2
Nhà XB: NXB Đại học Luật Hà Nội
5. Tưởng Duy Lượng, (2018 ) “Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng điều 129 bộ luật dân sự năm 2015” – Tạp chí Thông tin pháp luật dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng điều 129bộ luật dân sự năm 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w