1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình kế toán chính trị (nghề kế toán doanh nghiệp trình độ cao đẳng) trường cao đẳng nghề cần thơ

110 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kế Toán Chính Trị (Nghề Kế Toán Doanh Nghiệp Trình Độ Cao Đẳng)
Tác giả Ths. Trần Thị Hồng Châu, TS. Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Cao Đẳng Nghề Cần Thơ
Chuyên ngành Kế Toán Doanh Nghiệp
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. (11)
    • 1. NHỮNG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CHỦ YẾU TRONG THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG CỔ - CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC (11)
      • 1.1 Tư tưởng kinh tế thời cổ đại (11)
      • 1.2 Tư tưởng kinh tế thời trung cổ (Thời kỳ phong kiến) (15)
    • 2. SỰ PHÁT SINH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƢ SẢN CỔ ĐIỂN . 7 (17)
      • 2.1 Chủ nghĩa trọng thương - Tiền thân của Khoa kinh tế chính trị (17)
      • 2.2 Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Pháp (Chủ nghĩa trọng nông) (0)
      • 2.3 Kinh tế chính trị cổ điển Anh (21)
    • 3. NHỮNG KHUYNH HƯỚNG VÀ HỌC THUYẾT KINH TẾ PHÊ PHÁN CÓ KẾ THỪA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƢ SẢN CỔ ĐIỂN (27)
      • 3.1 Những khuynh hướng, học thuyết phê phán và sự kế thừa thiếu triệt để (27)
    • 4. MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƯ SẢN HIỆN ĐẠI (33)
      • 4.1 Trường phái “Tân cổ điển” (33)
      • 4.2 Học thuyết kinh tế của J.Kênxơ (35)
      • 4.3 Trường phái chủ nghĩa tự do mới (36)
  • CHƯƠNG 2. (38)
    • 1. SẢN XUẤT HÀNG HOÁ VÀ ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA NÓ (38)
      • 1.1 Sản xuất tự cấp, tự túc và sản xuất hàng hoá (38)
      • 1.2 Hai điều kiện ra đời của nền kinh tế hàng hoá (39)
      • 1.3 Ưu thế của kinh tế hàng hoá so với kinh tế tự nhiên (39)
    • 2. HÀNG HOÁ (40)
      • 2.1 Hàng hoá và hai thuộc tính của nó (40)
      • 2.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá (41)
      • 2.3 Lượng giá trị của hàng hoá (0)
    • 3. TIỀN TỆ (44)
      • 3.1 Nguồn gốc (lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ) (44)
      • 3.2 Chức năng của tiền tệ (47)
      • 3.3 Quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát (48)
    • 4. THỊ TRƯỜNG VÀ QUY LUẬT CUNG CẦU (49)
      • 4.1 Thị trường (49)
      • 4.2 Quy luật cung - cầu (50)
    • 5. QUY LUẬT CẠNH TRANH (51)
      • 5.1 Khái niệm cạnh tranh (51)
      • 5.2 Các hình thức và biện pháp cạnh tranh (52)
      • 5.3 Nội dung và yêu cầu (52)
    • 6. QUY LUẬT GIÁ TRỊ (52)
      • 6.1 Nội dung qui luật giá trị (52)
      • 6.2 Tác dụng của quy luật giá trị (53)
  • CHƯƠNG 3. TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI (55)
    • 1. CÁC PHẠM TRÙ CỦA TÁI SẢN XUẤT (55)
      • 1.1 Khái niệm tái sản xuất (55)
      • 1.2 Các khâu của quá trình tái sản xuất (55)
      • 1.3 Những nội dung chủ yếu của tái sản xuất (56)
    • 2. CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI (57)
      • 2.1 Quy luật thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất xã hội (57)
      • 2.2 Quy luật về tiến bộ khoa học kỹ thuật (59)
      • 2.3 Quy luật về phân phối trong tái sản xuất xã hội (59)
      • 2.4 Quy luật tích luỹ (60)
    • 3. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (60)
      • 3.1 Khái niệm (60)
      • 3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (62)
      • 3.3 Phát triển kinh tế (63)
      • 3.4 Tiến bộ xã hội (64)
  • CHƯƠNG 4. (65)
    • 1. Tuần hoàn và chu chuyển vốn (65)
      • 1.1 Vốn trong doanh nghiệp (65)
      • 1.2 Tuần hoàn vốn (65)
      • 1.3 Chu chuyển vốn (67)
    • 2. Giá thành sản phẩm (68)
    • 3. Tiền lương (54)
      • 3.1 Bản chất của tiền lương (69)
      • 3.2 Các hình thức cơ bản của tiền lương (69)
      • 3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương (71)
    • 4. Lợi nhuận, các hình thái vốn và các thu nhập (71)
      • 4.1 Lợi nhuận (71)
      • 4.2 Các hình thái vốn và thu nhập của nó (72)
  • CHƯƠNG 5. (73)
    • 1. THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÕ CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY (73)
      • 1.1 Thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (73)
      • 1.2 Vai trò của kinh tế thị trường và sự cần thiết hình thành, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta (75)
      • 2.1 Nền kinh tế thị trường dựa trên cơ sở nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo (78)
      • 2.2 Nền kinh tế thị trường nước ta thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu (79)
      • 2.3 Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở cửa” với bên ngoài (81)
      • 2.4 Nền kinh tế thị trường nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa được bảo đảm bằng vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước và vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước 72 3. ĐIỀU KIỆN, KHẢ NĂNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA (82)
      • 3.1 Điều kiện và khả năng phát triển kinh tế thị trường ở nước ta (83)
      • 3.2 Những giải pháp phát triển kinh tế thị trường ở nước ta (85)
  • CHƯƠNG 6. CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG (87)
    • 1. CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (87)
      • 1.1 Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ (0)
      • 1.2 Cơ sở khách quan và lợi ích kinh tế của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta (88)
      • 1.3 Các thành phần kinh tế và việc sử dụng chúng ở nước ta (89)
      • 1.4 Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế (90)
    • 2. XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT - XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ (91)
      • 2.1 Khái niệm và nội dung xã hội hoá sản xuất trên thực tế (91)
      • 2.2 Xã hội hoá sản xuất và xu hướng vận động cơ bản của sự phát triên kinh tế trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta (92)
      • 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá sự đúng đắn của quá trình xã hội hoá sản xuất (93)
  • CHƯƠNG 7. XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT - KỸ THUẬT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (94)
    • 1. CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT - KỸ THUẬT CHO CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (95)
      • 1.1 Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất (95)
      • 1.2 Con đường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (95)
    • 2. NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ (96)
      • 2.1 Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật để trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền (96)
      • 2.2 Xây dựng cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động xã hội (97)
      • 2.3 Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta (98)
    • 3. NHỮNG TIỀN ĐỀ CẦN CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT - KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA (99)
      • 3.1 Tạo nguồn tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá (99)
      • 3.2 Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ (100)
      • 3.3 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước (101)
      • 3.4 Đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật, khoa học quản lý và công nhân lành nghề cho công nghiệp hoá (102)
      • 3.5 Có chính sách kinh tế đối ngoại đúng đắn (0)
  • CHƯƠNG 8. CƠ CHẾ KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊNCHỦ NGHĨA XÃ HỘI (104)
    • 1. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ KINH TẾ (104)
    • 2. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI CHUYỂN SANG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA (104)
    • 3. CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC (105)
      • 3.1 Cơ chế thị trường (105)
      • 3.2 Sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường (105)
    • 4. VAI TRÕ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA (106)
      • 4.1 Những điểm chung và khác biệt cơ bản giữa vai trò kinh tế của Nhà nước Việt Nam và vai trò kinh tế của Nhà nước tư sản trong quản lý nền kinh tế thị trường (106)
      • 4.2 Chức năng của Nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (106)
      • 4.3 Các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (107)

Nội dung

NHỮNG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CHỦ YẾU TRONG THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG CỔ - CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

1.1 Tư tưởng kinh tế thời cổ đại

Thời cổ đại đánh dấu sự chuyển mình từ chế độ cộng sản nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ, dẫn đến sự hình thành của nhà nước và kéo dài cho đến khi chế độ phong kiến xuất hiện vào thế kỷ V Ở phương Đông, giai đoạn này bắt đầu từ cuối thế kỷ IV đến thế kỷ III trước công nguyên, trong khi ở phương Tây, thời cổ đại khởi đầu từ cuối thế kỷ III đến cuối thế kỷ II trước công nguyên.

Trong lịch sử loài người, bên cạnh các sáng kiến và phát minh phục vụ cuộc sống, những tư tưởng về tôn giáo, triết học và văn học, sự phát triển các hoạt động kinh tế đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các tư tưởng kinh tế.

1.1.1 Tư tưởng kinh tế thời cổ đại ở phương Tây

1.1.1.1 Tư tưởng kinh tế Hy Lạp cổ đại a Đặc điểm tư tưởng kinh tế thời

Xã hội cổ đại đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu nô lệ, đặt ra cho các nhà tư tưởng chủ nô nhiệm vụ giảm mâu thuẫn xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp này Họ cần xác định phương hướng phát triển kinh tế, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của chế độ nô lệ như một điều hợp lý và duy nhất Platon xem xã hội chiếm hữu nô lệ là một "xã hội lý tưởng", trong khi Aristote cho rằng chế độ nô lệ là sản phẩm tự nhiên.

Tư tưởng coi khinh lao động chân tay được thể hiện qua quan điểm của Platon, người cho rằng lao động chân tay là nhục nhã và làm hư hỏng con người, khiến người lao động không thể trở thành bạn tốt hay chiến sĩ tốt Trong khi đó, Aristote cũng đồng tình khi cho rằng công dân chỉ nên tham gia vào chiến trận và quản lý nhà nước, còn những nghề thủ công, buôn bán và cày ruộng thì bị xem là trái với lòng từ thiện.

Platon lên án hoạt động thương nghiệp và cho vay nặng lãi, coi đây là những hành vi nhục nhã và xấu xa, vì chúng thúc đẩy sự giả dối và lừa gạt trong xã hội Aristote cũng đồng tình, cho rằng cho vay nặng lãi không khác gì kinh doanh nhà chứa, và thậm chí còn cho rằng cướp bóc trực tiếp là hành động vinh dự hơn so với việc cho vay nặng lãi.

Platon lên án sự tồn tại của tầng lớp quý tộc và tài chính, mơ ước về một xã hội lý tưởng không có chế độ tư hữu, nơi mọi công dân đều tự do, mặc dù vẫn tồn tại nô lệ Ngược lại, Aristote phê phán sự phân hóa giàu nghèo và tình trạng bần cùng trong xã hội, nhưng ông không phản đối chế độ tư hữu.

Trong lý luận kinh tế của các nhà Hy Lạp cổ đại, đã xuất hiện các yếu tố phân tích kinh tế quan trọng như phân công lao động, giá trị, giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Họ cũng nhận thức được một số chức năng của tiền tệ và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Bên cạnh đó, ảnh hưởng của cung - cầu đến giá cả hàng hóa cũng được đề cập, cho thấy sự phát triển tư tưởng kinh tế trong thời kỳ này.

* Tư tưởng kinh tế của Xénophon

Tư tưởng về phân công lao động của ông nhấn mạnh rằng việc này không chỉ thúc đẩy lưu thông hàng hóa mà còn tạo ra mối quan hệ chặt chẽ với thị trường.

- Hai là, quan niệm về giá trị: Ông nói: “cây sáo không có giá trị đối với người không biết thổi, nhưng đem bán nó vẫn có giá trị”

Xénophon đã phát triển khái niệm tiền tệ, nhấn mạnh tính quy định đặc thù của nó trong hình thái sử dụng như tiền tệ và tiền tích trữ Ông cho rằng bạc là loại tiền tệ có nhu cầu vô hạn, thể hiện vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa và cung-cầu là rất quan trọng Ông khuyên rằng việc mua nô lệ nên được thực hiện theo từng toán nhỏ để tránh tình trạng nhu cầu lớn làm tăng giá cả.

* Tư tưởng kinh tế của Platon

Sự tồn tại của giai cấp trong xã hội là điều không thể tránh khỏi, với ông cho rằng phân chia giai cấp là trạng thái tự nhiên Từ giai cấp, nhà nước được hình thành, và ông luôn nhấn mạnh tư tưởng "cha truyền, con nối" trong nghề nghiệp.

Ông xây dựng một nhà nước lý tưởng dựa trên sự phân công giai cấp, trong đó tầng chóp bao gồm các triết nhân và quân nhân lãnh đạo cộng đồng nô lệ.

(2) Tầng trung gian: Gồm những người nông dân; (3) Tầng dưới đáy: Gồm những người nô lệ

Tư tưởng kinh tế của Platon nhấn mạnh rằng sự trao đổi sản phẩm là điều tất yếu, phát sinh từ sự phân công lao động trong xã hội Điều này phản ánh mối liên hệ xã hội giữa những người sản xuất, cho thấy tầm quan trọng của hợp tác trong nền kinh tế.

Ông nghiên cứu tiền tệ với hai thuộc tính chính là thước đo giá trị và ký hiệu giá trị Platon đã phản đối khuynh hướng công thương trong nền kinh tế Hy Lạp, đồng thời chống lại sự phát triển của kinh tế hàng hóa, kêu gọi quay trở lại nền kinh tế tự nhiên.

* Tư tưởng kinh tế của Aristote

Aristote đã bác bỏ lý thuyết của Platon về nhà nước lý tưởng và phản đối việc phân chia xã hội thành hai đẳng cấp là triết gia và chiến sĩ Ông cho rằng nhà nước là hình thức giao dịch quan trọng nhất, bên cạnh gia đình và thôn xóm Ngoài ra, Aristote cũng chống lại quan điểm về sở hữu tập thể của Platon và bảo vệ chế độ tư hữu tài sản.

SỰ PHÁT SINH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƢ SẢN CỔ ĐIỂN 7

Chủ nghĩa trọng thương, xuất hiện từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, là hình thái đầu tiên của tư tưởng tư sản, đánh dấu sự suy tàn của chế độ phong kiến và khởi đầu thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa Đến cuối thế kỷ XVII, khi quá trình tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản kết thúc, nhiều vấn đề kinh tế mới phát sinh đã vượt quá khả năng giải thích của chủ nghĩa trọng thương, dẫn đến nhu cầu cần lý luận mới Do đó, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã ra đời và phát triển mạnh mẽ tại Anh và Pháp.

2.1 Chủ nghĩa trọng thương - Tiền thân của Khoa kinh tế chính trị

Chủ nghĩa trọng thương, hình thái đầu tiên của tư tưởng tư sản trong kinh tế chính trị, xuất hiện từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, đánh dấu giai đoạn tan rã chế độ phong kiến và thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy vật trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, cùng với sự tiến bộ của kinh tế hàng hóa và các lĩnh vực khoa học tự nhiên như cơ học, thiên văn học và địa lý Những phát kiến địa lý quan trọng cũng đã diễn ra trong giai đoạn này.

Vào cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, sự khám phá châu Mỹ, việc mở ra các tuyến đường biển qua châu Phi, cùng với các hành trình từ châu Âu sang Ấn Độ đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương.

Chủ nghĩa trọng thương, với các đại diện tiêu biểu như Uyliam Staphot và Tômat Mun ở Anh, cùng Môngcrêchiên và Cônbe ở Pháp, đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, như là nguồn gốc của sự giàu có quốc gia Họ tập trung nghiên cứu lĩnh vực lưu thông, coi tiền tệ là biểu hiện căn bản của của cải và sự thịnh vượng Chủ nghĩa này dựa vào quyền lực nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế, với lợi nhuận chủ yếu đến từ hoạt động thương mại thông qua việc mua rẻ bán đắt, nhằm tích lũy tiền tệ và thúc đẩy sự hình thành của chủ nghĩa tư bản.

2.1.1 Tiền đề xuất hiện và đặc điểm của chủ nghĩa trọng thương

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội, giai đoạn này đánh dấu sự phát triển của kinh tế hàng hóa, khi giai cấp tư sản cần vốn để kinh doanh và sản xuất Cơn khát tiền tệ tại Châu Âu ngày càng rõ ràng, đặc biệt sau các phát kiến địa lý lớn, dẫn đến việc khai thác tài nguyên từ các thuộc địa Ngoại thương trở thành nguồn cung cấp chính cho nền kinh tế Châu Âu, điều này tạo ra nhu cầu cần có lý thuyết để hướng dẫn hoạt động thương mại.

Về mặt chính trị, các chế độ quân chủ ở Châu Âu đang tìm cách mở rộng thương mại và công nghiệp trong bối cảnh chế độ phong kiến đang suy tàn Họ mong muốn có một cương lĩnh kinh tế mới nhằm phát triển nền kinh tế, và chủ nghĩa trọng thương đã trở thành giải pháp đáp ứng nhu cầu này.

Thời kỳ hừng sáng của đêm trường trung cổ đánh dấu sự xuất hiện của phong trào phục hưng và các ngành khoa học tự nhiên, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật trong triết học Sự sụt giảm uy quyền của tôn giáo đã thúc đẩy các cá nhân tìm kiếm đổi mới và hòa mình vào thực tiễn sống động của nền kinh tế hàng hóa đang phát triển, với khát vọng làm giàu và được chỉ dẫn cách thức để đạt được điều đó.

Chủ nghĩa trọng thương ra đời nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế cấp bách ở Châu Âu, tập trung vào việc tích lũy tài chính để thúc đẩy sự phát triển của thương mại và công nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho cá nhân làm giàu.

- Một là, chủ nghĩa trọng thương phản ánh lợi ích và tư tưởng của tầng lợp thương nhân, nó coi trọng tiền và ngành thương nghiệp

- Hai là, chủ nghĩa trọng thương vẫn nằm trong khuôn khổ chế độ phong kiến sử dụng nhà nước phong kiến để làm giàu cho giai cấp tư sản

Chủ nghĩa trọng thương là một trường phái kinh tế mang tính chất kinh nghiệm, phản ánh giai đoạn sơ khai của khoa kinh tế chính trị, khi mà lĩnh vực lưu thông mới bắt đầu phát triển.

- Bốn là, chủ nghĩa trọng thương có tính chất tiến bộ, phản ảnh đúng tất yếu của lịch sử lúc bấy giờ

2.1.2 Hai giai đoạn của chủ nghĩa trọng thương

Giai đoạn trọng tiền, diễn ra từ thế kỷ XV đến XVI, đánh dấu sự xuất hiện của tư bản dưới hình thức vàng, khi tiền vàng trở nên hiếm hoi và cần thiết Tư tưởng kinh tế chủ đạo của thời kỳ này khẳng định "Tiền là tiêu chuẩn căn bản của mọi của cải", từ đó lý giải các vấn đề xã hội trong bối cảnh lịch sử đó.

Giai đoạn trọng thương, diễn ra từ thế kỷ XVI đến XVII, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp Tư tưởng kinh tế chủ yếu trong thời kỳ này nhấn mạnh rằng khối lượng tiền chỉ có thể gia tăng thông qua ngoại thương, và lợi nhuận từ chuyển nhượng được coi là nguồn gốc chính của mọi tài sản.

Chủ nghĩa trọng thương nhấn mạnh việc phát triển nội thương không giới hạn và mở rộng xuất khẩu, theo nguyên tắc "Bán nhiều, mua ít".

2.1.3 Đánh giá chủ nghĩa trọng thương

Chủ nghĩa trọng thương đã phá vỡ tư tưởng phong kiến dựa trên nền tảng kinh tế tự nhiên, nhấn mạnh vai trò quan trọng của "Tiền" và "thương nghiệp" trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế sản xuất nhỏ sang kinh tế sản xuất lớn Đồng thời, nó cũng biết tận dụng tri thức nhân loại và áp dụng các phương pháp khoa học để phân tích các hiện tượng kinh tế, từ đó tìm ra nguồn gốc hình thành tư bản.

Chủ nghĩa trọng thương có những hạn chế nhất định, chủ yếu do không nhận thức được quy luật kinh tế và phương pháp nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm từ các hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế - xã hội Họ chỉ tập trung vào lĩnh vực lưu thông và trao đổi để xem xét các biện pháp tích lũy tư bản Do đó, khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, các luận điểm của chủ nghĩa trọng thương dần trở nên lỗi thời và cần nhường chỗ cho các học thuyết kinh tế mới, tiến bộ hơn.

Chủ nghĩa trọng thương, theo C.Mác, là học thuyết đầu tiên nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu Vì vậy, những thiếu sót là điều không thể tránh khỏi trong quá trình này.

2.2 Kinh tế chính trị tƣ sản cổ điển Pháp (Chủ nghĩa trọng nông)

2.2.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của chủ nghĩa trọng nông

NHỮNG KHUYNH HƯỚNG VÀ HỌC THUYẾT KINH TẾ PHÊ PHÁN CÓ KẾ THỪA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƢ SẢN CỔ ĐIỂN

CÓ KẾ THỪA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƢ SẢN CỔ ĐIỂN

3.1 Những khuynh hướng, học thuyết phê phán và sự kế thừa thiếu triệt để Đầu thế kỷ XIX, khi cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, mâu thuẫn kinh tế và giai cấp của chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rõ nét: Năm 1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng kinh tế có chu kỳ, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Vì vậy, trường phái kinh tế chính trị tư sản tầm thường đã xuất hiện nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản, biện hộ một cách có ý thức cho chủ nghĩa tư bản C.Mác đã nhận xét: “Sự nghiên cứu không vụ lợi nhường chỗ cho những cuộc bút chiến của những kẻ viết văn thuê, những sự tìm tòi khoa học vô tư nhường chỗ cho lương tâm độc ác và ý đồ xấu xa của bọn chuyên nghề ca tụng” Những khuynh hướng, học thuyết phê phán và sự kế thừa thiếu triệt để bao gồm: học thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thương với những đại biểu điển hình của kinh tế chính trị tư sản tầm thường là Tômát Rôbớc Mantút (1766 - 1834) ở Anh và Giăng Batixtơ Xây (1767 - 1823) ở Pháp; học thuyết kinh tế tiểu tư sản với những đại biểu điển hình Sismondi (1773 - 1842) và Proudhon (1809 - 1865); học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng, với những đại biểu như Thomas More (1478), Robert Owen (1771 - 1858)

3.1.1 Học thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thương

Học thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thường là một hệ thống lý luận mà những người theo đuổi nó chỉ tập trung vào các hiện tượng bề ngoài Họ dựa vào quan điểm của một số đại biểu đi trước mà không đi sâu vào bản chất của vấn đề.

Bài viết này tổng hợp và hệ thống hóa các luận điểm nhằm bảo vệ chủ nghĩa tư bản và biện hộ cho lợi ích của giai cấp tư sản.

Học thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thường xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và phát triển thành học thuyết chính thức vào thế kỷ XIX do sự lão hóa của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Nguyên nhân chính bao gồm: (1) Khủng hoảng kinh tế chu kỳ sau năm 1825 đã làm cho lý thuyết tái sản xuất của D Ricardo trở nên không còn hiệu nghiệm; (2) Sự xuất hiện của trường phái kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa không tưởng đã phê phán mạnh mẽ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; (3) Hạn chế trong lý luận giá trị - lao động chưa hoàn chỉnh không giải thích được thực tiễn kinh tế thời bấy giờ Những đại biểu tiêu biểu của học thuyết này bao gồm Tômát Rôbớc Mantút ở Anh và Giăng Batixtơ Xây ở Pháp.

Tômát Rôbớc Mantút, xuất thân từ gia đình quý tộc và tốt nghiệp đạo học Cambridge năm 1788, đã trở thành Mục sư và sau đó là giáo sư khoa lịch sử hiện đại và kinh tế chính trị vào năm 1808 Ông ủng hộ tầng lớp tư sản kinh doanh ruộng đất và bảo vệ lợi ích của giải cấp tư sản, đồng thời nhấn mạnh phương pháp phân tích hiện tượng và thay thế quy luật kinh tế bằng quy luật tự nhiên Tác phẩm nổi tiếng của ông, “Bàn về quy luật nân khẩu” (1788), đã được bổ sung và đổi tên thành “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học” (1820) Những lý thuyết kinh tế chủ yếu của Mantút đã có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực này.

Tômát Rôbớc Mantút đã xa rời lý luận giá trị - lao động của A.Smith và D.Ricardo, khi ông nhầm lẫn giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất Sự khác biệt này cho thấy một sự chuyển hướng trong cách hiểu về giá trị, ảnh hưởng đến các lý thuyết kinh tế sau này.

Tômát Rôbớc Mantút chỉ ra rằng khủng hoảng sản xuất xảy ra khi tiền lương không đủ để bù đắp cho tổng giá trị hàng hóa, dẫn đến lợi nhuận giảm Để giải quyết tình trạng sản xuất thừa, cần thiết phải có một giai cấp tiêu dùng mà không tham gia sản xuất, bao gồm tầng lớp quý tộc và quân đội.

Lý luận về nhân khẩu của Tômát Rôbớc Mantút đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu, khi ông cho rằng nguyên nhân của các tệ nạn xã hội xuất phát từ việc con người không kiểm soát được bản năng, dẫn đến dân số tăng nhanh mà không cải thiện được mức sống Ông trình bày lý thuyết nhân khẩu với hai điểm chính: (1) Dân số tăng gấp đôi theo quy luật sinh học, trong khi tư liệu sinh hoạt tăng chậm do độ màu mỡ đất giảm và năng suất đầu tư không tương xứng (2) Ông đã sử dụng số liệu dân số Mỹ và tình hình nông sản Pháp để minh họa cho lý luận của mình Từ phân tích này, ông kết luận rằng sự nghèo đói không phụ thuộc vào quản lý hay phân phối, mà vào sự sinh sôi nảy nở của dân số Để khắc phục vấn đề, ông đề nghị cần có biện pháp hạn chế sinh sản và tăng cường tư liệu sinh hoạt.

Tômát Rôbớc Mantút là một trong những nhân vật tiên phong trong việc khai thác các yếu tố cơ bản từ học thuyết kinh tế của các nhà tư tưởng trước đó, nhằm xây dựng lý luận bảo vệ chủ nghĩa tư bản Ông tìm cách định hướng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản theo hướng có lợi cho giai cấp quý tộc và địa chủ Đồng thời, Tômát Rôbớc Mantút cũng đóng góp vào việc giải quyết một trong những vấn đề toàn cầu quan trọng.

Giăng Batixtơ Xây, sinh ra trong gia đình thương nhân Pháp và từng học tập tại Anh, đã tham gia quản lý xí nghiệp, làm biên tập viên cho nhiều tờ báo, và giữ chức giáo sư kinh tế tại nhiều trường đại học ở Pháp Ông bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản và có phương pháp luận mang tính chủ quan, tâm lý, phủ nhận các quy luật kinh tế khách quan và không áp dụng quan điểm lịch sử trong phân tích các phạm trù kinh tế Những tác phẩm nổi bật của ông bao gồm “Luận văn kinh tế chính trị học (1802)”, “Vấn đáp kinh tế chính trị học (1817)”, và “Tập bài giảng kinh tế chính trị học (1830)” Giăng Batixtơ Xây được nhiều người xem là người kế tục sự nghiệp của A Smith và được mệnh danh là “hoàng tử của khoa học kinh tế chính trị học” Lý luận kinh tế của ông có nhiều nội dung quan trọng.

- Lý thuyết giá trị - ích lợi, ông xa rời lý luận giá trị - lao động để ủng hộ lý luận giá trị

Giăng Batixtơ Xây đưa ra quan điểm rằng giá trị của một vật phụ thuộc vào tính hữu dụng của nó, nghĩa là sản xuất tạo ra ích lợi và giá trị càng cao thì ích lợi càng lớn Quan điểm này khác biệt so với D Ricardo, dẫn đến tranh cãi về giá trị hàng hóa Ông phân loại lợi ích thành hai loại: thứ nhất là loại không mất tiền mua, tức là có sẵn; thứ hai là loại phải bỏ tiền ra mua, liên quan đến chi phí sản xuất.

3.1.2 Học thuyết kinh tế tiểu tư sản

Học thuyết kinh tế tiểu tư sản phê phán chế độ tư bản và chỉ ra những mâu thuẫn của nó một cách rõ ràng, nhưng lại thiếu sự phân tích khoa học về nguồn gốc và xu hướng phát triển của các mâu thuẫn này Thay vào đó, nó lý tưởng hóa chế độ tư hữu nhỏ và không nhận ra rằng sản xuất hàng hóa nhỏ chính là nền tảng phát sinh chủ nghĩa tư bản Những đại biểu tiêu biểu của trường phái này bao gồm Sismondi và Proudhon.

Charles Leonard Simone Sismondi, một nhà sử học và nhà kinh tế nổi bật của Pháp, thuộc dòng dõi quý tộc và đại diện cho lợi ích của giai cấp tiểu tư sản Ông đã chỉ trích sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và phê phán phương pháp trừu tượng hóa của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Sismondi là tác giả của nhiều tác phẩm quan trọng như “Lịch sử người Pháp”, “Lịch sử các nước cộng hòa Ý”, “Về sự giàu có của thương nghiệp (1803)” và “Những nguyên lý mới của khoa kinh tế chính trị (1819)”.

“Nghiên cứu về khoa kinh tế chính trị (1837)” Về nội dung lý luận kinh tế chính trị của Sismondi gồm:

Sismondi nhận thấy mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng trong lý luận giá trị - lao động, đồng thời thừa nhận lý luận này như một cơ sở để giải quyết các vấn đề kinh tế khác Ông kế thừa quan điểm của A Smith và giới thiệu khái niệm "siêu giá trị", bao gồm lợi nhuận, địa tô và tiền lương Tuy nhiên, Sismondi vẫn còn nhầm lẫn giữa việc xác định thực thể của giá trị và việc thực hiện giá trị.

Theo Sismondi, tiền là sản phẩm của lao động, đóng vai trò là thước đo chung của giá trị và tạo điều kiện cho việc trao đổi dễ dàng Tuy nhiên, ông chưa phân tích một cách hệ thống về nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền.

MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TƯ SẢN HIỆN ĐẠI

4.1 Trường phái “Tân cổ điển”

4.1.1 Sự xuất hiện và đặc điểm của trường phái “Tân cổ điển”

Do các nguyên nhân sau, trường phái “tân cổ điển”, hay là trường phái “cổ điển mới” xuất hiện:

Từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về trước, chủ nghĩa tự do cũ chiếm ưu thế Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đường Nhà nước và lý thuyết Keynes đã làm suy yếu vị thế của trường phái kinh tế tự do Cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn này càng làm tan rã tư tưởng của trường phái tự do kinh tế.

Những thành tựu quản lý kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tự do Trước bối cảnh này, các nhà kinh tế học tư sản buộc phải điều chỉnh hệ thống lý thuyết tự do kinh tế để phù hợp với tình hình mới.

Từ đó, chủ nghĩa tự do mới xuất hiện

Chủ nghĩa tự do mới là một trào lưu tư tưởng hiện đại trong hệ tư tưởng tư sản, nhằm kết hợp các quan điểm và phương pháp của trường phái tự do cổ điển, trường phái trọng thương mới và trường phái Keynes để điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Chủ nghĩa tự do mới tập trung vào cơ chế thị trường với sự điều tiết của Nhà nước ở mức độ nhất định, nhấn mạnh việc tăng cường thị trường và giảm can thiệp của Nhà nước Trường phái này đặc biệt chú trọng đến yếu tố tâm lý của cá nhân trong quyết định sản xuất và tiêu dùng, từ đó hình thành các đặc trưng cơ bản của trường phái "tân cổ điển".

- Thứ nhất, trường phái “tân cổ điển” dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội

Trường phái "tân cổ điển" chuyển trọng tâm nghiên cứu sang lĩnh vực trao đổi, lưu thông và nhu cầu của các đơn vị kinh tế độc lập Họ cho rằng từ việc phân tích kinh tế tại các xí nghiệp riêng lẻ, có thể rút ra các kết luận chung cho toàn xã hội Do đó, phương pháp nghiên cứu của họ chủ yếu là phương pháp phân tích vi mô.

- Thứ ba, trường phái “tân cổ điển” muốn đưa ra khái niệm “kinh tế học” thay cho khái niệm “kinh tế chính trị học”

- Thứ tư, trường phái “tân cổ điển” tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế nên còn được gọi là “Trường phái kinh tế - toán học”

Trường phái "tân cổ điển" đã phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX và XX, với hai giai đoạn chính: (1) Giai đoạn đầu – cuối thế kỷ XIX, nơi trường phái này nhấn mạnh tự do cạnh tranh và phản đối sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế (2) Giai đoạn sau – đầu thế kỷ XX, trường phái này bắt đầu chấp nhận một mức độ can thiệp của nhà nước và áp dụng phương pháp phân tích vi mô để hiểu rõ hơn về các vấn đề kinh tế.

4.1.2 Một số đại biểu của trường phái “tân cổ điển”

4.1.2.1 Trường phái giới hạn (cận biên) Vienne (Áo)

Trường phái giới hạn Vienne được đại biểu bởi ba nhà kinh tế: Karl Menger (1849-

1921), Bohm Bawerk (1851-1914) và Von Wieser (1851-1926)

Lý luận giá trị của trường phái Áo tập trung vào giá trị - ích lợi và giá trị chủ quan, dựa trên lý thuyết “ích lợi cận biên”, khác biệt với lý luận giá trị - lao động Những điểm chính của lý thuyết này có thể được tóm tắt như sau:

Theo Karl Menger, lợi ích cận biên được xác định bởi hai yếu tố chính: cường độ thỏa mãn nhu cầu và tính khan hiếm của của cải Lý thuyết này dựa trên quan điểm của Gosson, người Đức, về nhu cầu và khái niệm "ích lợi cận biên".

- Thứ hai, về “giá trị trao đổi”, trường phái Áo quan niệm giá trị trao đổi dựa trên yếu tố tâm lý chủ quan

Giá trị cận biên, phát triển từ khái niệm lợi ích cận biên của trường phái Áo, thể hiện đặc điểm cơ bản của lý luận này.

“sản phẩm cận biên”, tức sản phẩm sau cùng, sẽ quyết định giá trị cận biên của sản phẩm đó

Các nhà kinh tế Áo đã phân biệt bốn hình thức giá trị, bao gồm: (1) Giá trị khách quan, (2) Giá trị sử dụng chủ quan, (3) Giá trị trao đổi chủ quan, và (4) Giá trị trao đổi khách quan.

- Thứ năm, về giá cả, theo họ lợi ích cận biên của vật phẩm quyết định giá cả của vật phẩm đó

4.1.2.2 Trường phái giới hạn ở Mỹ

John Bates Clark (1847-1938) là một đại biểu quan trọng của trường phái kinh tế này, ông từng là giáo sư tại trường đại học Columbia Clark đã phân tích kinh tế chính trị thành các lĩnh vực như kinh tế tổng hợp, kinh tế tỉnh và kinh tế động.

Trường phái giới hạn ở Mỹ, thể hiện qua tác phẩm "Sự phân phối của cải" (1899) của J.B Clark, đã đóng góp những quan điểm lý luận cơ bản Phương pháp luận của trường phái này mang đến những yếu tố mới trong trào lưu "cận biên", đặc biệt là tư tưởng về hệ thống kinh tế tĩnh và động của J.B Clark cùng con trai ông, J.M Clark.

J.B.Clark đã nghiên cứu kinh tế trong trạng thái tĩnh, tức ông giả thiết nền kinh tế với quy mô tư bản và công nhân không thay đổi, không có sự hiện diện của tiến bộ kỹ thuật và nhu cầu của xã hội không đổi

J.B.Clark đưa ra một hệ thống lý luận về “năng suất cận biên” của các nhân tố sản xuất trên cơ sở quy luật về xu hướng giảm sút của năng suất lao động và tư bản

4.1.2.3 Trường phái Lausanne (Thụy Sĩ)

Trường phái tân cổ điển ở Thụy Sĩ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trường phái Lausanne với những đại biểu xuất sắc như Leon Walars (1834-) Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật đã tạo nên những tác phẩm đặc sắc, phản ánh sự chuyển mình của nền nghệ thuật Thụy Sĩ trong giai đoạn này.

- Leon Walars là nhà kinh tế học người Pháp, nhưng được chính phủ Thụy Sĩ mời giảng dạy ở Lausanne, ông có hai lý thuyết cần chú ý là:

TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI

CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG

XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT - KỸ THUẬT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

CƠ CHẾ KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊNCHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ngày đăng: 10/10/2023, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w