Hệ thống tổng đài cung cấp các máy thuê bao cho các kết nối tới các phòng ban, các bộ phận và các kết nối tới các đường thuê bao của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông.. Việc sử dụng Tổng đ
Trang 137
CHƯƠNG 4: QUY HOẠCH MẠNG VIỄN THÔNG 4.1 Quy hoạch vị trí tổng đài
Từ khi con người đưa tổng đài điện thoại đầu tiên vào sử dụng cho tới nay, kỹ thuật tổng đài
có những bước tiến vô cùng to lớn Đầu tiên là những tổng đài nhân công mà các chức năng chung đều do nhân công thực hiện Sau đó là những tổng đài điện cơ, bán tự động, nó được xây dựng trên cơ sở nguyên lý chuyển mạch từng nấc, chuyển mạch ngang dọc Tiếp theo
đó là những tổng đài điều khiển theo chương trình ghi sẵn cho tín hệu số đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới với số lượng và chủng loại ngày càng đa dạng, phong phú hơn Ngày này với công nghệ ngày càng hiện đại, các loại tổng đài ngày càng được ứng dụng nhiều để liên lạc thông tin, trong công ty, trường học và các khu nội bộ
Tổng đài là 1 hệ thống chuyển mạch giúp cho các đầu cuối gọi cho nhau và gọi ra ngoài trên một số đường thuê bao của các nhà cung cấp Hệ thống tổng đài là thiết bị làm việc kết nối phục vụ các loại dịch vụ thông tin khác nhau Tổng đài cung cấp một đường truyền dẫn tạm thời để truyền thông tin đồng thời theo hai hướng giữa các loại đường dây truyền dẫn
Nó được các thiết bị chuyển mạch của tổng đài thực hiện thông qua trao đổi báo hiệu với mạng bên ngoài
Vì vậy, vị trí của tổng đài có vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi thông tin với mạng bên ngoài Việc xác định vị trí của tổng đài sao cho phù hợp và có thể đáp ứng được nhu cầu
sử dụng của các thuê bao được tốt nhất luôn là vấn đề cần được quan tâm đối với các nhà đầu
tư Do đó, các nhà đầu tư cần có phương pháp quy hoạch để xác định vị trí các tổng đài để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu sử dụng của khách hàng
4.1.1 Giới thiệu về tổng đài
Thông tin ngày nay đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Để đáp ứng yêu càu liên lạc, chúng ta bắt buộc phải đăng ký sử dụng các thuê bao của nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông (bưu điện…) Đối với một cơ quan hay nhà máy, để đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa các phòng ban, các phân xưởng, chúng ta thường làm theo cách là đăng ký thuê bao trực tiếp từ nhà cung cấp viễn thông để đáp ứng các nhu cầu liên lạc
Hình 1.1 Hệ thống mạng viễn thông
Trang 2Khi sử dụng một số lượng lớn đường thuê bao trực tiếp này, sẽ nảy sinh các vấn đè như: chi phí thuê bao hàng tháng phải trả rất lớn, việc khai thác sử dụng không hiệu quả không đúng mục đích sẽ gây thất thoát, việc trao đổi thông tin giữa các bộ phận trong cùng cơ quan không linh hoạt mà vẫn phải trả tiền cước, gây phiền toái cho khách hàn khi giao dịch vì phải nhớ nhiều số điện thoại của các phòng ban…vv
Để giải quết các vấn đề trên, chúng ta sử dụng một hệ thống thông tin liên lạc gọi là tổng đài nội bộ (PABX) Hệ thống tổng đài cung cấp các máy thuê bao cho các kết nối tới các phòng ban, các bộ phận và các kết nối tới các đường thuê bao của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Việc sử dụng Tổng đài đem lại những tiện ích như: sử dụng một số ít đường thuê bao
từ Bưu điện, giảm chi phí đáng kể trong việc đăng ký thuê bao mới từ Bưu điện, việc trao đổi thông tin giữa các phòng ban trong cơ quan mà không phỉa trả chi phí, liên lạc với bên ngoài qua nhóm đường thuê bao chung tới bất kỳ số máy cần gọi…
Với những chức năng ưu việt cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật và sự trợ giúp của máy tính, những hệ thống tổng đài thông mình đã và đang ứng dụng ở mọi nơi nhằm kiểm soát chặt chẽ các cuộc gọi vào, ra, tiết kiệm nhân công trực tổng đài cũng như giảm cước phí bưu điện đến mức thấp nhất
4.1.2 Mục đích đầu tư lắp đặt hệ thống tổng đài
1 Lợi ích kinh tế:
- Chi phí cho các cuộc gọi nội bộ =0đ
- Chi phí ban đầu hợp lý và được bảo toàn trong tương lai
2 Quản lý: Quản lý, giám sát được tất cả các cuộc gọ (gọi đi và gọi đến), giám sát mức
cước hàng tháng của từng thuê bao
3 Khả năng phục vụ và kết nối: Hệ thống hoạt động 24/24, kết nối với các nhà cung
cấp dịch vụ (như VNPT, Viettel, EVN…)
4 Các dịch vụ gia tăng: Dịch vụ trả lời tự động, hiển thị số gọi đến, gọi đi, voice mail,
SMS…
5 Khả năng nâng cấp: Không giới hạn
1.3 Quy hoạch vị trí tổng đài
Do thiết bị viễn thông thuê bao chiếm phần lớn về chi phí mạng viễn thông, thiết kế những thiết bị như vậy là rất quan trọng Chính vị vậy mà quy hoạch vị trí tổng đài là điều rất quan trọng như là nền tảng của quy hoạch
Quy hoạch vị trí tổng đài nội hạt bao gồm việc xác định khi nào, ở đâu, và trạm tổng đài rộng bao nhiêu sẽ được lắp đặt
Có thể có nhiều phương thức đưa dịch vụ theo yêu cầu tới các thuê bao trong một vùng Chẳng hạn, chúng ta có thể chia vùng thành số vùng nhỏ hơn Trong trường hợp khác một vùng có thể được cung cấp dịch vụ bởi tổng đài đơn Có thể có nhiều kế hoạch đối với việc đặt vị trí của các tổng đài và ranh giới của các vùng dịch vụ Trong bất kỳ trường hợp nào, các thuê bao có thể được cung cấp chất lượng38dịch vụ thỏa mãn giá trị nhất định.Tuy nhiên, tổng chi phí mạng phụ thuộc rất lơn vào các giá trị được tạo ra
Vì vậy, mục đích của qui hoạch vị trí tổng đài là để thỏa mãn nhu cầu và giá trị nhất định của chất lượng dịch vụm và để thiết lập cấu hình của các tổng đài theo đó giảm tối thiểu tổng chi phí mạng
Trang 3Thành phần của việc qui hoạch vị trí của tổng đài Trong việc phát triển qui hoạch vị trí tổng đài, điều quan trọng là để xem xét phạm vi của tổng đài( tức là số lượng thuê bao yêu cầu dịch vụ), kích thước khu vực tổng đài và vị trí của tổng đài đưa ra ở hình dưới.
Hình 1.2 Thành phần của việc quy hoạch tổng đài nội bộ
4.2.2 Cấu hình mạng truyền dẫn
4.2.2.1 Tổng quan về chi phí thiết bị
Chi phí thiết bị tại khu vực dịch vụ được chia ra một cách gần đúng như sau:
Chi phí thiết bị:
Chi phí các đường dây thuê bao
Chi phí trạm tổng đài
Chi phí các đường trung kế nội hạt
Tại vùng dịch vụ, nếu các tổng đài loại nhỏ được lắp đặt theo nhu cầu, đó là kết quả trong việc phân chia vùng dịch vụ thành nhiều vùng dịch vụ nhỏ Do đó, độ dài các đường dây thuê bao ngắn và giảm được chi phí đường dây thuê bao, nhưng lại gây ra chi phí tổng đài nhiều hơn và làm tang tổng chi phí
Ngược lại, nếu tổng đài loại lớn được lắp đặt tại vùng dịch vụ, nó sẽ làm tăng độ dài đường dây thuê bao, và cũng làm tăng chi phí đường dây thuê bao Bởi vậy, tổng chi phí giảm bất chấp số tổng đài giảm Hình 2.1 đưa ra mối quan giữa chi phí và số lượng tổng đài
đã được đề cập ở trên
39
Trang 440
Hình 2.1.Chi phí thiết bị và hàm số mũ của tổng đài
4.2.2.2 Chi phí các đường dây thuê bao
Chi phí các đường dây thuê bao được ước tính dựa trên chủng loại cáp sử dụng và tổng chiều dài của chúng
Chi phí đầu tiên theo chủng loại cáp được tính theo các thông số sau:
Số cáp đôi
Số ống cáp trung bình/km
Tỷ lệ đất trên/Không gian
Xây dụng ngầm (các miệng cống, các lỗ, các đường hầm cáp,…)
Chi phí theo tổng chiều dài của các đường dây thuê bao được quyết định theo tổ hợp cáp
có đường kính thỏa mãn hạn chế mất mát đường dây và điện trở đường dây, tương ứng với độ dài đường dây thê bao (Hình 2.2)
Hình 2.2 Sự khác nhau trong chi phí theo đường kính của dây dẫn
Trang 54.2.2.3 Chi phí các đường trung kế nội hạt
Chí phí các đường trung kế nội hạt phụ thuộc và số đường trung kế, khoảng các giữa các tổng đài, chủng loại cáp và tình trạng lặp lại Việc lắp đặt số lượng tổng đài loại lớn tại một vùng sẽ làm tăng số đường trung kế, như vậy kết quả là chi phí cao hơn, nhưng chi phí các đường trung kế nội hạt nói chung ước tính nhỏ hơn phần tổng chi phí thiết bị
4.2.2.4 Chi phí của các tổng đài
Chi phí của các tổng đài gồm có như sau:
Chi phí thiết bị tổng đài gồm các chi phí hệ thống điều khiển chung và chi phí hệ thống thuê bao, chi phí này tỉ lệ đối với số thuê bao
Chi phí xây dựng thiết bị điện và đất đai được coi như là những chi phí cố định Như vậy, chi phí/ thuê bao vẫn còn cao đến khi số lượng thuê bao vượt quá một mức độ nào đó Tuy nhiên, với tổng đài loại lớn ( với việc tăng số thuê bao yêu cầu dịch vụ), chi phí/ thuê bao sẽ giảm
4.2.2.5 Chi phí cần thiết đối với các thiết bị
Trong trường hợp xây dựng một tổng đài, đây là một điều kiện xem xét loại tổng đài kinh
tế nhất ( số thuê bao được phục vụ), và kích thước kinh tế nhất của khu vực tổng đài Chi phí các đường dây thuê bao cà các tổng đài dài tính hơn 40% đến 60% và 30% đến 50% tương ứng về những chi phí xây dựng yêu cầu đối với mạng nội hạt, do đó đây là điều kiện cần thiết để quy hoạch các đường dây thuê bao và tổng đài mang tính kinh tế với hiệu quả cao nhất về cấu trúc mạng
Hình 2.3 đưa ra chi phí cần thiết/ thuê bao như một hàm theo cỡ tổng đài Nó cho thấy chi phí của đường dây thuê bao trở nên tương đối cao hơn tỷ lệ với cỡ tổng đài và độ dài đường dây thuê bao Cùng lúc đó, nhưng chi phí khác trở lên tương đối thấp hơn như cỡ tổng đài tăng lên Khi cỡ tổng đài giống nhau, chi phí/ thuê bao sẽ thấp tại vùng có mật độ nhu cầu cao bởi vì nhiều cáp có thể được sử dụng cho các đường dây thuê bao Tuy nhiên, chi phí cao tại các vùng có mật độ nhu cầu thấp bởi vì vùng này cần số cáp đôi nhỏ hơn để phân bố tại vùng rộng Hình 12.9 (b) đưa ra tất cả mói liên quan này, Điểm có chi phí/ thuê vao nhỏ nhất thể hiện cỡ tổng đài tối ưu
41
Trang 6do công nghệ Multimedia mang lại là sự đa dạng phong phú của các dạng thông tin Người
ta có thể thu nhận, sử lý thông tin thông qua thị giác, thính giác nhờ âm thanh, hình ảnh, văn bản mà công nghệ Multimedia mang lại Điều này làm cho hiệu quả thu nhận, xử lý thông tin cao hơn so với thông tin chỉ ở dạng văn bản Ý tưởng đặt nền móng cho lĩnh vực công nghệ này đã có từ năm 1945 Ông Vanner Brush, giám đốc cơ quan nghiên cứu phát triển khoa học của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ (Director ofthe office Scientific Research and Development in the US Gouverment) đã đưa ra câu hỏi là, liệu có thể chế tạo được loại thiết bị cho phép lưu trữ các dạng thông tin để thay cho sách, nói một cách khác chẳng nhẽ mọi thông tin chỉ có thể lưu trữ ở dạng sách? Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của loại thiết bị
có tính chất trên, hàng loạt các nhà khoa học, công nghệ đã tập trung nghiên c ứu Nó là cở
sở hay nền tảng của công nghệ Multimedia ngày nay Năm 1960 Ted Nelson và Andrries Van Dam đã công bố công trình nói về kỹ thuật truy nhập dữ liệu dưới cái tên gọi Hypertext
và Hypermedia Kỹ thuật này cho đến nay vẫn được giữ nguyên tên và được sử dụng rộng rãi trong dịch vụ Web trên Internet Năm 1968 Engleband đã đưa ra được hệ thống sử dụng Hypertext trên máy tính với cái tên NLS Bộ quốc phòng Mỹ thành lập tổ chức DARPA (US deference advanced Research Prọject Agency) để nghiên cứu về công nghệ Multimedia Năm 1978 phòng thí nghiệm khổng lồ MIT Media Laboratory chuyên nghiên cứu về công nghệ Multimedia được thành lập Chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa xã hội của công nghệ Multimedia, người ta đã đầu tư gần 40 triệu USD cho phòng thí nghiệm này Một loạt các công ty, các hãng lớn đã cho ra đời các phòng thí nghiệm về Multimedia như AT & T, BELL, Olivity Những
nỗ lực không ngừng của các nhà khoa học,công nghệ đã cho phep người ta gặt hái được nhiều kết quả có tính chất nền móng cho lĩnh vực Multimedia Những kết quả này đa nhanh
Trang 7chóng được triển khai ứng dụng trong các lĩnh vực truyền hình, viễn thông v.v 1.2 Khái niệm và định nghĩa 1.2.1- Dữ liệu Multimedia Thông thường chúng ta thường ghi nhận thông tin ở dạng văn bản , các văn bản này được mã hoá và lưu giữ trên máy tính, khi đó chúng ta
có dữ liệu dạng văn bản Một câu hỏi đặt ra nếu thông tin chúng ta thu nhận được ở một dạng khác như âm thanh (voice) , hình ảnh (Image) thì dữ liệu của nó ở dạng nào? Chính điều này dẫn đến một khái niệm mới ta gọi đó là dữ liệu Multimedia Dữ liệu Multimedia là dữ liệu ở các dạng thông tin khác nhau Ví dụ dữ liệu Multimedia là các dữ liệu ở các dạng thông tin như - Âm thanh (Sound) - Hình ảnh (image - Văn bản (text) - Kết hợp của cả ba dạng trên Khi nghiên cứu các dữ liệu ở các dạng thông tin trên, người ta nhận ra rằng cần phải phân chia dữ liệu Multimedia nhỏ hơn nữa Bởi vì dữ liệu ở các dạng âm thanh, hình ảnh trong quá trình "vận động" theo thời gian có những tính chất rất khác so với dạng tĩnh Điều này đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ xử lý rất khác nhau.Vì vậy trong lĩnh vực công nghệ Multimedia người ta chia dữ liệu multimedia ở các dạng: 1 Văn bản (Text) 2 Âm thanh (sound) 3 Audio (âm thanh động, có làn điệu) 4 Image/ Picture (Hình ảnh) 5 Motion picture (ảnh động) 6 Video (ảnh động kết hợp âm thanh động) 7 Animation (hình ảnh sử dụng theo nguyên tắc chiếu phim) 8 AVI (Audio-Video Interleaved AVI) 9 Kết hợp giữa các dạng trên 1.2.2 - Công nghệ Multimedia Một cách đơn giản công nghệ Multimedia là công nghệ
xử lý dữ liệu multimedia Chúng ta cần lưu ý rằng khái niệm xử lý dữ liệu trong công nghệ thông tin bao hàm các công việc sau: mã hóa, lưu trữ, vận chuyển, biến đổi, thể hiện dữ liệu Với 3 ý nghĩa đó công nghệ Multimedia là công nghệ mã hóa, lưu trữ, vận chuyển, biến đổi, thể hiện dữ liệu multimedia 1.2.3- Đồng bộ (synchronic) - Đồng bộ là khái niệm rất quan trọng trong công nghệ multimedia, vì chúng ta bíết rằng dữ liệu multimedia là dữ liệu của thông tin ở các dạng khác nhau, mỗi dạng cần phải có thiết bị và công nghệ xử lý khác nhau, khi kết hợp chúng lại v ấn đề đồng bộ luôn được đặt ra Chẳng hạn người ta không thể chấp nhận nghe tiếng súng nổ trước khi thấy súng bắn Khái niệm đồng bộ hay đồng bộ hóa (Sychronization) có ý nghĩa quan trọng trong công nghệ multimedia Vậy thế nào là đồng bộ? hay đồng bộ hóa đó là quá trình sự sắp xếp các "sự kiện" theo trật tự thời gian sao cho các sự kiện ở cùng trật tự thời gian phải xảy ra cùng một thời điểm Các đối tượng được xem xét trong lĩnh vực Multimedia có thể là các thiết bị vật lý, cơ học và cũng có thể là các đối tượng trìu tượng đ ược xem xét trong lĩnh vực lập trình theo hướng đối tượng Các "sự kiện" được xem xét trong lĩnh vực Multimedia có thể là âm thanh, ánh sáng, mầu sắc và thậm chí
có thể là các vận động cơ học của các thiết bị 1.3 Mô hình truyền thông con người Để dẫn nhập mô hình truyền thông của con người, chúng ta hãy xem xét các thành phần hiển nhiên rõ ràng của truyền thông con người Trong bất kỳ hội thoại/giao tiếp nào giữa mọi người, hai kênh yếu tố khác trong hệ thống truyền thông là bộ nhớ hay văn hóa biểu thị chia sẻ của nó Mỗi một chúng ta đ ều có b ộ nhớ Nó cung cấp môi trường suy nghĩ và văn hóa chia sẻ môi trường
4.2.6 Định tuyến
4.2.6 1 Khái niệm định tuyến
Định tuyến là quá trình xác định đường đi tốt nhất trên một mạng máy tính để gói tin tới được đích theo một số thủ tục nhất định nào đó thông qua các nút trung gian là các bộ định
tuyến router Thông tin về những con đường này có thể được cập nhật tự động từ các router khác hoặc là do người quản trị mạng chỉ địn4h3 cho router Sau khi Router nhận gói tin, thì Router sẽ gỡ bỏ phần header lớp 2 để tìm địa chỉ đích thuộc lớp 3 Sau khi đọc xong địa chỉ đích lớp 3 nó tìm kiếm trong Routing Table cho mạng chứa địa chỉ đích
Trang 8Giả sử mạng đó có trong Routing Table, Router sẽ xác định địa chỉ của router hàng xóm (router chia sẻ chung kết nối) Sau đó gói tin sẽ được đẩy ra bộ đệm của cổng truyền đi tương ứng, router sẽ khám phá loại đóng gói lớp 2 nào được sử dụng trên kết nối giữa 2 router Gói tin được đóng gửi xuống lớp 2 và đưa xuống môi trường truyền dẫn dưới dạng bit và được truyền đi bằng tín hiệu điện, quang hoặc sóng điện từ Quá trình sẽ tiếp tục cho tới khi gói tin được đưa đến đích thì thôi
Để làm được việc này thì các router cần phải được cấu hình một bảng định tuyến (Routing Table) và giao thức định tuyến (Routing Protocol) Bảng định tuyến là bảng chứa tất cả những đường đi tốt nhất đến một đích nào đó tính từ router Khi cần chuyển tiếp một gói tin, router sẽ xem địa chỉ đích của gói tin, sau đó tra bảng định tuyến và chuyển gói tin đi theo đường tốt nhất tìm được trong bảng Trong bảng định tuyến có thể bao gồm một tuyến mặc định, được biểu diễn bằng địa chỉ 0.0.0.0 0.0.0.0
Bảng định tuyến của mỗi giao thức định tuyến là khác nhau, nhưng có thể bao gồm những thông tin sau:
- Địa chỉ đích của mạng, mạng con hoặc hệ thống
- Địa chỉ IP của router chặng kế tiếp phải đến
- Giao tiếp vật lí phải sử dụng để đi đến Router kế tiếp
- Subnet mask của địa chỉ đích
- Khoảng cách đến đích (ví dụ: số lượng chặng để đến đích)
- Thời gian (tính theo giây) từ khi Router cập nhật lần cuối
Giao thức định tuyến là ngôn ngữ giao tiếp giữa các router Một giao thức định tuyến cho phép các router chia sẻ thông tin về các network, router sử dụng các thông tin này để xây dựng và duy trì bảng định tuyến
4.2.6.2 Phân loại định tuyến
Có nhiều tiêu chí để phân loại các giao thức định tuyến khác nhau Định tuyến được phân chia thành 2 loại cơ bản:
- Định tuyến tĩnh: Việc xây dựng bảng định tuyến của router được thực hiện bằng tay bởi
người quản trị
- Định tuyến động: Việc xây dựng và duy trì trạng thái của bảng định tuyến được thực hiện
tự động bởi router
Việc chọn đường đi được tuân thủ theo 2 thuật toán cơ bản:
+ Distance vector: Chọn đường đi theo hướng và khoảng cách tới đích
+ Link State: Chọn đường đi ngắn nhất dựa vào cấu trúc của toàn bộ mạng theo trạng thái của các đường liên kết mạng
44
Trang 945
Tổng quan về định tuyến
Người quản trị mạng khi chọn lựa một giao thức định tuyến động cần cân nhắc một số yếu
tố như: độ lớn của hệ thống mạng, băng thông các đường truyền, khả năng của router, loại router và phiên bản router, các giao thức đang chạy trong hệ thống mạng
Trong ngành mạng máy tính, định tuyến (tiếng Anh: routing hay routeing) là quá trình chọn
lựa các đường đi trên một mạng máy tính để gửi dữ liệu qua đó Việc định tuyến được thực hiện cho nhiều loại mạng, trong đó có mạng điện thoại, liên mạng, Internet, mạng giao thông
Routing chỉ ra hướng, sự di chuyển của các gói (dữ liệu) được đánh địa chỉ từ mạng nguồn của chúng, hướng đến đích cuối thông qua các node trung gian; thiết bị phần cứng chuyên dùng được gọi là router (bộ định tuyến) Tiến trình định tuyến thường chỉ hướng đi dựa vào bảng định tuyến, đó là bảng chứa những lộ trình tốt nhất đến các đích khác nhau trên mạng
Vì vậy việc xây dựng bảng định tuyến, được tổ chức trong bộ nhớ của router, trở nên vô cùng quan trọng cho việc định tuyến hiệu quả
Routing khác với bridging (bắc cầu) ở chỗ trong nhiệm vụ của nó thì các cấu trúc địa chỉ gợi nên sự gần gũi của các địa chỉ tương tự trong mạng, qua đó cho phép nhập liệu một bảng định tuyến đơn để mô tả lộ trình đến một nhóm các địa chỉ Vì thế, routing làm việc tốt hơn bridging trong những mạng lớn, và nó trở thành dạng chiếm ưu thế của việc tìm đường trên mạng Internet
Các mạng nhỏ có thể có các bảng định tuyến được cấu hình thủ công, còn những mạng lớn hơn có topo mạng phức tạp và thay đổi liên tục thì xây dựng thủ công các bảng định tuyến là
vô cùng khó khăn Tuy nhiên, hầu hết mạng điện thoại chuyển mạch chung (public switched telephone network - PSTN) sử dụng bảng định tuyến được tính toán trước, với những tuyến
dự trữ nếu các lộ trình trực tiếp đều bị nghẽn Định tuyến động (dynamic routing) cố gắng giải quyết vấn đề này bằng việc xây dựng bảng định tuyến một cách tự động, dựa vào những thông tin được giao thức định tuyến cung cấp, và cho phép mạng hành động gần như tự trị trong việc ngăn chặn mạng bị lỗi và nghẽn
Định tuyến động chiếm ưu thế trên Internet Tuy nhiên, việc cấu hình các giao thức định tuyến thường đòi hỏi nhiều kinh nghiệm; đừng nên nghĩ rằng kỹ thuật nối mạng đã phát
Trang 10triển đến mức hoàn thành tự động việc định tuyến Cách tốt nhất là nên kết hợp giữa định tuyến thủ công và tự động
Những mạng trong đó các gói thông tin được vận chuyển, ví dụ như Internet, chia dữ liệu thành các gói, rồi dán nhãn với các đích đến cụ thể và mỗi gói được lập lộ trình riêng biệt Các mạng xoay vòng, như mạng điện thoại, cũng thực hiện định tuyến để tìm đường cho các vòng (ví dụ như cuộc gọi điện thoại) để chúng có thể gửi lượng dữ liệu lớn mà không phải tiếp tục lặp lại địa chỉ đích
Định tuyến IP truyền thống vẫn còn tương đối đơn giản vì nó dùng cách định tuyến bước kế tiếp (next-hop routing), router chỉ xem xét nó sẽ gửi gói thông tin đến đâu, và không quan tâm đường đi sau đó của gói trên những bước truyền còn lại Tuy nhiên, những chiến lược định tuyến phức tạp hơn có thể được, và thường được dùng trong những hệ thống như MPLS, ATM hay Frame Relay, những hệ thống này đôi khi được sử dụng như công nghệ bên dưới
Tạo Nhóm kênh tùy chỉnh (cấp người dùng)
Tạo Nhóm kênh mới (cấp chế độ xem)
Chỉnh sửa Nhóm kênh mặc định (cấp chế độ xem)
Khi tạo Nhóm kênh tùy chỉnh ở cấp người dùng hoặc tạo Nhóm kênh mới trong chế độ xem, bạn:
Có thể chọn Nhóm kênh trong báo cáo ngay lập tức
Có thể áp dụng Nhóm kênh cho cả dữ liệu trước đó và xem dữ liệu lịch sử được phân loại theo định nghĩa kênh mới
Thay đổi cách báo cáo hiển thị dữ liệu, mà không cần thay đổi bản thân dữ liệu
Khi chỉnh sửa Nhóm kênh mặc định cho chế độ xem, bạn có thể:
Thay đổi vĩnh viễn dữ liệu thô cho các phiên mới bằng cách thay đổi cách Analytics gắn nhãn lưu lượng truy cập đến Tất cả các phiên xảy ra sau khi bạn chỉnh sửa Nhóm kênh mặc định sẽ được gắn nhãn theo định nghĩa kênh đã cập nhật
Không thể áp dụng định nghĩa kênh mới cho dữ liệu trước đó, nên Nhóm kênh lịch sử của lưu lượng truy cập sẽ không thay đổi
4.3 Quy hoạch mạng lưới thuê bao
Cần có hệ thống viễn thông ổn định, an toàn và thông suốt kể cả môi trường truyền thông có dây và không dây để cung cấp các dịch vụ hấp dẫn cho người sử dụng Hệ thống viễn thông trong khu CNC Hòa Lạc được quy hoạch theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Trang 11 Truyền thông lưu động để có thể liên lạc ở bất cư nơi nào, ở nhà, văn phòng hay ngoài trời
Môi trường truyền thông thông suốt đảm bảo kết nối với mọi khu vực kể cả bên trong
và xung quanh khu CNC Hòa Lạc hay cả truyền thông có dây và không dây
Hệ thống an ninh bậc cao để chống các tấn công trên Internet hay các mối nguy hiểm khác
Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế
Mạng lưới có thể mở rộng được
Để đáp ứng được các nguyên tắc trên, cần có hệ thống viễn thông dựa trên công nghệ NGN
4.3.1 Cấu hình tổng thể dự kiến
Hình 4.2 Cấu hình tổng thể dự kiến của hệ thống viễn thông
Đặc điểm chính của hệ thống viễn thông được đề xuất:
nhất, có công suất mạng đủ lớn Việc áp dụng tiêu chuẩn NGN cũng sẽ góp phần giảm chi phí xây dựng mạng
Trung tâm viễn thông, trong đó lắp đặt khoá chuyển đổi mạng, hệ thống máy chủ cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng, v.v… sẽ được xây dựng trong khu CNC Hòa Lạc
Hệ thống sẽ cung cấp ba công nghệ truyền thông có dây theo yêu cầu của người sử dụng cuối cùng, bao gồm: (i) mạng xDSL cho người dùng tại hộ gia đình; (ii) mạng FTTx c4h7o người dùng tại văn phòng làm việc,
và mạng MAN cho người sử dụng chuyên nghiệp Tất cả các dịch vụ này đều sử dụng công nghệ cáp quang
Khu CNC Hòa Lạc sẽ xây dựng hai hình thức truyền di động là (i) sử dụng điện thoại di động và (ii) sử dụng truy cập máy tính di động Đối
Trang 12với mạng điện thoại di động, ngoài Công nghệ GSM (hệ thống truyền thông di động toàn cầu) 2,5G hiện tại, công nghệ GMS 3G tiên tiến, một trong những tiêu chuẩn truyền thông di động mới nhất tại Việt Nam sẽ được áp dụng Hươn thế nữa, hệ thống truy cập máy tính băng thông rộng không dây như Wi-MAX cũng sẽ được áp dụng để cải thiện chất lượng môi trường truy cập máy tính di động
Để tăng cường kết nối giữa các khu vực bên trong và bên ngoài khu CNC Hòa Lạc, khu công nghệ cao sẽ lắp đặt các công trình mạng công suất cao nối với đường dây liên tỉnh và trạm chuyển đổi quốc tế trong trung tâm viễn thông
4.3.2 Hệ thống truyền thông có dây
xDSL ngược lại với đường thuê bao số, nghĩa là công nghệ viễn thông dùng dây, truyền tải dữ liệu số với công suất 512 kbps đến 52 Mbps thông qua dây cáp của mạng điện thoại hiện hành hoặc dây cáp quang Bảng dưới đây tóm tắt các loại mạng xDSL và các đặc điểm chính của loại mạng này
Bảng G.2.5 Mạng xDSL
xDSL Technologies
“Sợi quang đến điểm x” (FTTx) là một thuật ngữ chung chỉ bất cứ cấu trúc mạng nào
sử dụng cáp sợi quang để kết nối trực tiếp đến các hộ gia đình, chung cư, toà nhà, v.v… FTTx cho phép cung cấp dịch vụ băng thông rộng (từ 1 Gbps trở lên) phù hợp với hệ thống viễn thông cho các cơ quan hay doanh nghiệp công nghệ cao Dưới đây
là 2 loại mạng dùng công nghệ FTTx đã phát triển Cấu hình của mạng FTTx điển
Trang 13Hình 4.3 Cấu hình của mạng FTTx điển hình
Mạng FTTx network cung cấp cho người sử dụng làm văn phòng các dịch vụ như VoIP, WAN, hội thảo Video, chuyển dữ liệu mega size, và các dịch vụ về truyền thông tin và multimedia khác Dự kiến có khoảng 12 nghìn người sử dụng mạng FTTx trong khu CNC Hòa Lạc
Mạng khu vực đô thị -Metropolitan Area Network, là mạng máy tính rộng hơn kết nối khu vực đô thị hoặc trường bãi Khi được kết nối trực tiếp với một cổng lõi mạng, MAN có thể cung cấp dịch vụ băng thông rộng 2 Gbps hoặc 10 Gbps cho người sử dụng IP trên SONET/SDH và Gigabit/10Gigabit Ethernet là tiêu chuẩn kỹ
thuật của MAN Mạng MAN có thể cung cấp các ứng dụng như E-education (Dạy học trực tuyến), dịch vụ phát tán ảnh vệ tinh 4v9à dịch vụ cung cấp ISP Hình G.2.4 là hình ảnh minh họa của mạng MAN
Trang 144.3.3 Hệ thống truyền thông không dây
(1) Mạng điện thoại di động
Mạng di động GSM (2.5G) là mạng đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam Ngoài ra, đến cuối năm 2008, Bộ Thông tin truyền thông đã ban hành giấy phép cho các hãng truyền thông để sử dụng GSM công 3G Do đó, cùng với hệ thống điện thoại di động GSM công nghệ 2.5G, công 3G GSM mới nhất sẽ có mặt tại khu CNC Hòa Lạc Hình G.2.5 minh họa cấu hình điển hình của mạng 2.5G/3G GSM Hệ thống điện thoại di động bao gồm hệ thống các trạm cơ sở và hệ thống
trung tâm điều khiển lắp đặt tại trung tam viễn thông Cả dịch vụ tiếng nói và dịch vụ
gói đều có trong hệ thống này
Hình 4.5 Cấu hình điển hình của mạng 2.5G/3G GSM
Để tạo môi trường truy cập mạng cho máy tính tốt trong khu CNC Hòa Lạc thì
ngoài mạng điệnthoại di động cần có thêm hệ thống truy cập mạng không dây
Mạng LAN (Wi-Fi) và Wi-MAX là 2 hệ thống truy cập máy tính không dây
Bảng dưới đây so sánh 2 hệ thống này
Bảng G.2.6 So sánh 2 mạng không dây
Wireless Computer Access System
Wireless LAN (Wi-Fi)
Trang 154.3.4 Trung tâm viễn thông
Thiết lập trung tâm viễn thông để lắp đặt các phương tiện mạng, các server ứng dụng và hệ thống an ninh mạng, v.v… Mạng NGN sẽ được sử dụng để cung cấp một hệ thống mạng công suất cao và ổn định kể cả mạng có dây và không dây cho người sử dụng Để đáp ứng nhu cầu dự kiến trong tương lai trong và xung quanh vùng dự án, cần lắp đặt một hệ thống viễn thông đủ khả năng cung cấp dịch vụ trong khu CNC Hòa Lạc Hạ tầng mạng viễn thông trong khu sẽ kết nối với các đường dây chính ngoài khu CNC Hòa Lạc nhằm tăng công suất và cấu trúc liên kết mạng lắp đặt trạm chuyển mạch quốc tế cho riêng khu CNC Hòa Lạc Các hạ tầng chính cần có phần dự phòng để đảm bảo tính ổn định của mạng với nguồn điện ổn định qua hệ thống cấp điện CVCF, DC và máy phát điện dự phòng
Hình 4.6 Hình ảnh trung tâm viễn thông
Trang 16mẽ trong cả nỗ lực tiêu chuẩn hoá của các tổ chức tiêu chuẩn lớn trên thế giới và yêu cầu
từ phía người sử dụng dịch vụ Mặt khác các nhà khai thác mạng, nhà cung cấp thiết bị
và người sử dụng thường áp dụng các phương pháp chiến lược khác nhau cho việc quản lí mạng và thiết bị của mình Mỗi nhà cung cấp thiết bị thường đưa ra giải pháp quản lí mạng riêng cho sản phẩm của mình Trong bối cảnh hội tụ mạng hiện nay, số lượng thiết
bị và dịch vụ rất đa dạng và phức tạp đã tạo ra các thách thức lớn trong vấn đề quản lí mạng
Nhiệm vụ của quản lí mạng rất rõ ràng về mặt nguyên tắc chung, nhưng các bài toán quản lí cụ thể lại có độ phức tạp rất lớn Điều này xuất phát từ tính đa dạng của các hệ thống thiết bị và các đặc tính quản lí của các loại thiết bị, và xa hơn nữa là chiến lược quản lí phải phù hợp với kiến trúc mạng và đáp ứng yêu cầu của người sử dụng Một loạt các thiết bị điển hình cần được quản lí gồm: Máy tính cá nhân, máy trạm, server, máy vi tính cỡ nhỏ, máy vi tính cỡ lớn, các thiết bị đầu cuối, thiết bị đo kiểm, máy điện thoại, tổng đài điện thoại nội bộ, các thiết bị truyền hình, máy quay, modem, bộ ghép kênh, bộ chuyển đổi giao thức, CSU/DSU, bộ ghép kênh thống kê, bộ ghép và giải gói, thiết bị tương thích ISDN, card NIC, các bộ mã hoá và giải mã tín hiệu, thiết bị nén dữ liệu, các gateway, các bộ xử lý front-end, các đường trung kế, DSC/DAC, các bộ lặp, bộ tái tạo tín hiệu, các thiết bị chuyển mạch, các bridge, router và switch, tất cả mới chỉ là một phần của danh sách các thiết bị sẽ phải được quản lí
Toàn cảnh của bức tranh quản lí phải bao gồm quản lí các tài nguyên mạng cũng như các tài nguyên dịch vụ, người sử dụng, các ứng dụng hệ thống, các cơ sở dữ liệu khác nhau trong các loại môi trường ứng dụng Về mặt kĩ thuật, tất cả thông tin trên được thu thập, trao đổi và được kết hợp với hoạt động quản lí mạng dưới dạng các số liệu quản lí bởi các kĩ thuật tương tự như các kĩ thuật sử dụng trong mạng truyền số liệu Tuy nhiên sự khác nhau căn bản giữa truyền thông số liệu và trao đổi thông tin quản lí là việc trao đổi thông tin quản lí đòi hỏi các trường dữ liệu chuyên biệt, các giao thức truyền thông cũng như các mô hình thông tin chuyên biệt, các kỹ năng chuyên biệt để có thể thiết kế, vận hành hệ thống quản lí cũng như biên dịch các thông
Trang 17tin quản lí về báo lỗi, hiện trạng hệ thống, cấu hình và độ bảo mật
Khi mạng hội tụ tiến tới hạ tầng mạng thế hệ kế tiếp NGN, một khung làm việc và các khái niệm chung được các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đưa ra như Tổ chức viễn thông quốc tế ITU (International Telecommunication Union), Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu ETSI (European Telecommunications Standards Institute), Tổ chức đặc trách kĩ thuật internet IETF (Internet Engineering Task Force) Trong đó, theo quan điểm của tiểu ban chuẩn hoá viễn thông trong ITU (ITU-T), chức năng quản lí mạng liên quan tới một tập chức năng điều hành và quản lí mạng cho phép trao đổi thông tin quản lí giữa mặt bằng quản lí và các nguồn tài nguyên, dịch vụ và các mặt bằng khác Khuyến nghị ITU-T M.3060/Y.2401 (03/2006) định nghĩa về các yêu cầu chung của quản lí mạng NGN gồm có một số các đặc điểm cơ bản như sau:
Cung cấp khả năng quản lí nguồn tài nguyên NGN trên cả mạng lõi, mạng truy nhập, các thành phần liên kết nối, mạng khách hàng và thiết bị đầu cuối
Cung cấp khả năng quản lí nguồn tài nguyên dịch vụ độc lập với tài nguyên truyền tải, cho phép hỗ trợ phân biệt các dịch vụ người sử dụng đầu cuối
Cho phép khả năng kiến tạo dịch vụ mới cho người sử dụng trên môi trường
kiến tạo dịch vụ của NGN
Cung cấp khả năng quản lí mạng tới các dịch vụ riêng của người sử dụng (báo cáo lỗi, bản ghi cước trực tuyến)
Đảm bảo truy nhập an toàn các thông tin quản lí
Hỗ trợ các mạng giá trị eBussiness dựa trên các luật kinh doanh (khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ, các đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp)
Cho phép những người dùng cá nhân hoặc các tổ chức đưa luật riêng vào trong môi trường mạng chung
Đưa ra nhìn nhận tổng thể về các nguồn tài nguyên nhằm che dấu độ phức tạp
và sự đa dạng của các công nghệ
Hỗ trợ vấn đề thu thập dữ liệu cước cho người điều hành mạng trên cả hai
phương thức online và offline
Cung cấp khả năng khôi phục mạng khi mạng lỗi, giám sát mạng khách hàng, cung cấp dịch vụ tích hợp từ đầu cuối tới đầu cuối và tự động chỉ định nguồn tài nguyên
Cung cấp khả năng điều hành mạng dựa trên chất lượng dịch vụ
Khả năng trao đổi các thông tin quản lí qua các vùng biên mạng: Giữa vùng dịch vụ và vùng truyền tải, giữa mặt bằng điều khiển và mặt bằng quản lí và giữa các vùng quản lí
Có các giao diện quản lí trên các phầ53n tử mạng tiêu chuẩn, dễ phát triển cho cả nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ
Trang 18 Có khả năng điều khiển, phân tích và tìm kiếm các thông tin quản lí thích hợp Trong kiến trúc phân lớp cuả NGN, tầng dịch vụ NGN cung cấp các chức năng điều khiển và quản lí dịch vụ mạng tới từng ứng dụng và người sử dụng đầu cuối Tầng
truyền tải truyền các thông tin giữa các thực thể và vùng quản lí gồm các mặt bằng để quản lí thông tin, chức năng và khía cạnh vật lí của các thực thể NGN Các chức năng của tầng truyền tải được mô tả chi tiết trong NGN-FG II và nằm ngoài phạm vi của tài liệu này Các chức năng quản lí hệ thống là nền tảng điều hành của NGN, các chức năng cung cấp khả năng quản lí NGN để cung cấp các dịch vụ NGN với chất lượng, độ bảo mật và độ tin cậy mong muốn của người sử dụng dịch vụ NGN Các công nghệ này được
bố trí phân tán trong các thực thể chức năng FE (Function Entity) và chúng tương tác với các chức năng quản lí phần tử mạng NE (Network Element), quản lí mạng và quản lí dịch vụ Các chức năng quản lí thực hiện điều hành trên tầng truyền tải và tầng dịch vụ Trong các tầng này các chức năng cơ bản gồm 5 vùng cơ bản: Quản lí lỗi, quản lí cấu hình, quản lí tài khoản, quản lí hiệu năng và quản lí bảo mật
5.2 Các yêu cầu quản lý mạng
Các cơ chế quản lí mạng được nhìn nhận từ hai góc độ, góc độ mạng chỉ ra hệ thống quản lí nằm tại các mức cao của mô hình OSI và từ phía người điều hành quản lí hệ thống Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về mô hình quản lí nhưng chúng đều thống nhất bởi ba chức năng quản lí cơ bản gồm: giám sát, điều khiển và đưa ra báo cáo tới người điều hành
5.2.1 Chức năng giám sát có nhiệm vụ thu thập liên tục các thông tin về trạng thái
của các tài nguyên được quản lí sau đó chuyển các thông tin này dưới dạng các
sự kiện và đưa ra các cảnh báo khi các tham số của tài nguyên mạng được quản
lí vượt quá ngưỡng cho phép
5.2.2 Chức năng quản lí có nhiệm vụ thực hiện các yêu cầu của người quản lí hoặc
các ứng dụng quản lí nhằm thay đổi trạng thái hay cấu hình của một tài nguyên được quản lí nào đó
5.2.3 Chức năng đưa ra báo cáo có nhiệm vụ chuyển đổi và hiển thị các báo cáo
dưới dạng mà người quản lí có thể đọc, đánh giá hoặc tìm kiếm, tra cứu thông tin được báo cáo
Trong thực tế, tuỳ theo từng công việc cụ thể mà còn có một vài chức năng khác được kết hợp với các hệ thống quản lí và các ứng dụng quản lí được sử dụng như quản lí kế hoạch dự phòng thiết bị, dung lượng, triển khai dịch vụ, quản lí tóm tắt tài nguyên, quản
lí việc phân phối tài nguyên mạng/ các hệ thống, quản lí việc sao lưu và khôi phục
tình trạng hệ thống, vận hành quản lí tự động Phần lớn các chức năng phức tạp kể trên
54
đều nằm trong hoặc được xây dựng dựa trên nền tảng của ba chức năng