Bài báo này giới thiệu một số kết quả nghiên cứu tương quan biến động điều kiện môi trường và ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển khơi nam Việt Nam thông qua việc phân tích
Trang 1Tương quan biến động điều kiện môi trường
và ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng
biển khơi nam Việt Nam
Đinh Văn Ưu, Đoàn Bộ, Hà Thanh Hương, Phạm Hoàng Lâm, Hoàng Đức Hiền
Trung tâm Động lực và Môi trường Biển Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội
Tóm tắt: Để có mô hình kiểm soát và dự báo cá xa bờ ở Việt Nam, nhiệm vụ
quan trọng là chỉ ra quan hệ giữa biến thiên ngư trường và môi trường biển Tuy
nhiên, vì các gió mùa luân phiên, vùng biển nhiệt đới Việt Nam luôn có biến thiên
lớn về các điều kiện hải văn , kể cả các trường nhiệt muối và hoàn lưu
Các số liệu ngư trường cá ngừ thu được trong các năm gần đây cho thấy sự biến
thiên lớn về ngư trường, mùa đánh bắt và sản lượng
Kết quả phân tích biến thiên của các trường nhiệt muối và hoàn lưu và phân bố
bài cá cho thấy rằng sự biến thiên này tuân theo những quy luật nhất định và các
đặc trưng của môi trường biển như nhiệt độ mặt biển, dòng chảy, đới front, độ
dày của lớp xáo trộn có một vai trò quan trọng trong sự phân bố cá bãi đánh bắt ngừ
1 Mở đầu
Để có được các mô hình dự báo phục vụ quản lí và khai thác nghề cá xa bờ ở Việt Nam, vấn đề quan trọng là cần phải xác định mối tương quan giữa biến động phân bố ngư trường và môi trường biển Nghề câu cá ngừ đại dương ở nước ta là nghề chính
khai thác các loài cá ngừ lớn có giá trị kinh tế cao, đó là cá ngừ vây vàng Thunnus albaceres và ngừ mắt to Thunnus obesus Một trong những yếu tố môi trường chủ yếu
ảnh hưởng đến di cư và phân bố của các loài cá ngừ đại dương là nhiệt độ nước Để xác
định quy luật biến đổi của nhiệt độ nước biển, cần đi sâu tìm hiểu cấu trúc 3 chiều của trường nhiệt, từ đó có thể xác định phạm vi phân bố của các khu vực có nhiệt độ thích nghi tốt nhất đối với cá ngừ
Như đã biết, nhiệt độ nước mặt biển là đặc trưng quan trọng nhất phản ảnh hiện trạng của trường nhiệt Ngoài ra, độ dày lớp xáo trộn trên của biển và phân bố nhiệt độ trong toàn bộ lớp hoạt động trên cũng là những đặc trưng không thể thiếu Các đặc trưng này có thể được xác định bắt đầu từ việc nghiên cứu quy luật biến động theo thời gian và không gian của nhiệt độ nước mặt biển, tiếp theo là việc xem xét cấu trúc thẳng
đứng của nhiệt độ
Bài báo này giới thiệu một số kết quả nghiên cứu tương quan biến động điều kiện môi trường và ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển khơi nam Việt Nam thông qua việc phân tích trường nhiệt biển Đây là một trong những kết quả nghiên cứu của đề tài KC-09-03 do PGS.TS Đinh Văn Ưu làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Hải sản là cơ quan chủ trì
2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Biến động các điều kiện môi môi trường liên quan tới ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương
Chia vùng biển nghiên cứu (6-170N, 107-1150E) thành các ngư trường (xem chi tiết toạ độ ở bảng 2 và hình 5) và tiến hành xem xét biến trình năm nhiệt độ nước mặt
108
Trang 2biển trên từng ngư trường, từ đó có thể đưa ra một số đánh giá về phạm vi và mức độ biến động của nó Trên hình 1 thể hiện kết quả phân tích biến trình năm của nhiệt độ tại 5 ngư trường: I- Hoàng Sa, II – Trường Sa, III – ngoài khơi Phú Quí, IV – ngoài khơi Phú Yên và VI – nam Biển Đông Ngư trường I đại diện cho khu vực biển phía bắc, các ngư trường II, III và IV đại diện cho khu vực biển trung tâm và ngư trường VI đại diện cho khu vực biển phía nam vùng biển khơi nam Việt Nam Các biến trình năm nhiệt độ trung bình của 5 ngư trường cho thấy sự khác biệt về biên độ giữa hai khu vực biển phía nam và bắc: ngư trường VI có biên độ năm của nhiệt độ nước mặt biển không lớn hơn 4°C trong khi ngư trường I có biên độ trên 5°C Ngoài ra còn nhận thấy biên độ năm của nhiệt độ nước mặt biển giảm dần từ bắc xuống nam tương ứng theo vị trí các ngư trường I, IV, III do đây là các ngư trường nằm dọc theo hướng bắc nam song song
bờ, nơi chịu tác động mạnh của điều kiện hải dương bắc Biển Đông Ngư trường II tuy nằm ở phần trung tâm vùng biển song do ở xa bờ nên biên độ nhiệt năm có giá trị không lớn lắm, nhưng nhiệt độ cực đại tại đây (cũng như tại ngư trường VI) lại vượt quá 29,50C trong các tháng 5 và 6 là các tháng mặt biển bị đốt nóng mạnh do bức xạ Xét chung toàn vùng biển, trong các tháng mùa hè, bắt đầu từ tháng 5 nhiệt độ nước mặt biển trên tất cả các ngư trường đều cao hơn 29°C thậm chí trên 29,5°C Từ cuối tháng 9 đầu tháng 10, do chịu tác động của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ nước mặt biển tại tất cả các ngư trường giảm dần đến cực tiểu mùa đông trong tháng 1
Các nghiên cứu về sinh thái các loài cá ngừ đại dương cho thấy giới hạn trên của nhiệt độ đối với chúng là khoảng 29°C [1, 2] Như vậy bắt đầu từ tháng 5 đến khoảng tháng 9, nhiệt độ nước mặt Biển Đông không thích ứng với cá ngừ đại dương Tuy nhiên nếu xem xét phân bố nhiệt theo mặt rộng ta vẫn tìm thấy một số vùng biển có nhiệt độ thấp hơn giá trị này, đồng thời có thể nhận thấy được sự hình thành các front nhiệt Hiện tượng này có thể xem như hệ quả của quá trình tranh chấp giữa hai xu thế duy trì dải nước lạnh từ bắc Biển Đông đi xuống trong suốt mùa đông và sự đốt nóng nước trên mặt biển do bức xạ trong các tháng cuối mùa xuân đầu mùa hè Trên hình 2 dẫn ra phân bố mặt rộng nhiệt độ nước mặt biển trung bình cho hai thời đoạn (tháng 3-4 và 5-6) theo kết quả phân tích của Đinh Văn Ưu và Brankart [3]
24
25
26
27
28
29
30
VI IV III II I
Hình 1 Biến trình năm nhiệt độ nước mặt biển các ngư trường (trung bình nhiều năm)
Trang 3Cũng theo các kết quả nghiên cứu về sinh thái cá ngừ đại dương, đặc biệt cá ngừ vây vàng, thì khu vực tập trung cá ngừ thường nằm dọc theo các dải front nhiệt lệch về phía khối nước ấm hơn Như vậy ngay trong các tháng đầu hè khi nhiệt độ mặt biển đã tăng cao thì các dải front với điều kiện nhiệt thích hợp cho cá ngừ đại dương vẫn tồn tại trên vùng biển ngoài khơi nam Việt Nam và khả năng nghề câu còn có thể khai thác hiệu quả trong thời gian này là có cơ sở Tuy nhiên trong các tháng hè kéo dài đến cuối tháng 9 đầu tháng 10, nhiệt độ nước trên toàn vùng biển đều cao và phân bố tương đối
đều (ngoại trừ khu vực nước trồi ven bờ nam Trung Bộ) nên các dải front nhiệt ít tồn tại hoặc tồn tại gần bờ không thích hợp đối với cá ngừ đại dương
Để có thể tiến hành các phân tích về mối tương quan giữa biến động điều kiện môi trường và nghề câu cá ngừ đại dương, và do chỉ có các kết quả phân tích thống kê nghề câu trong hai vụ cá năm 2003 và 2004, nên chúng ta sẽ xem xét chi tiết các trường nhiệt nước mặt biển được xử lí và phân tích từ số liệu viễn thám biển kết hợp với các số liệu khảo sát trong giai đoạn này Trên hình 3 dẫn ra biến trình năm dị thường nhiệt
độ nước mặt biển tại các ngư trường trong năm 2003 và 2004 Có thể thấy rõ nền nhiệt chung của vùng biển trong năm 2003 cao hơn trung bình nhiều năm, riêng các ngư trường II, III và IV kể từ tháng 3 có nhiệt độ thấp hơn trung bình và tăng dần đến trung bình trong các tháng 4 và 5 Trong khi đó, năm 2004 hầu hết các ngư trường đều lạnh hơn so với năm 2003 và thấp hơn trung bình nhiều năm Nền nền nhiệt thấp của năm 2004 còn duy trì đến tận tháng 5, ngoại trừ ngư trường VI nơi nước mặt biển ấm hơn trung bình nhiều năm trong các tháng 3 và 4 Ngoài ra có thể nhận thấy sự giảm nhiệt độ đáng kể gần 1,4°C so với trung bình vào tháng 3 năm 2003 và hơn 1,6 °C vào tháng 4 năm 2004 tại ngư trường IV, giảm khoảng 1°C trong các tháng 2, 3 và 4 tại ngư trường III
Để xem xét chi tiết hơn, bên cạnh việc tiến hành so sánh kết quả phân tích biến trình năm của nhiệt độ tại các ngư trường, đã sử dụng bản đồ nhiệt độ nước mặt biển theo số liệu phân tích viễn thám [4] (hình 4) Do các tháng 4 và 5 là thời kỳ cao điểm nhất của vụ cá nam hàng năm vì vậy chúng tôi đã tiến hành phân tích chi tiết hơn cho các tháng này trong các năm 2003 và 2004 nhằm tìm ra sự tương quan giữa điều kiện nhiệt biển và ngư trường đánh bắt
Xét theo bản đồ mực biển, vùng biển từ 110 đến 112°E và từ 12 đến 14°N (giáp ranh giữa vùng IV và II) có độ dày lớp tựa đồng nhất cao do có xoáy nghịch với tâm cao của mực biển Tiếp đến trên vùng biển 11,5°N, 110,5°E có xoáy thuận với mực biển thấp, tại đây lớp xáo trộn bị suy giảm và lớp nêm nhiệt bị nâng lên cao hơn Như vậy trên khoảng vỹ tuyến 12,5°N có dòng chảy mặt hướng bờ tạo ra dải front nhiệt dọc theo kinh tuyến 110-111°E, đặc biệt trên phạm vy ngư trường IV Dải mực biển cao nằm dọc kinh tuyến 114°E đã tạo nên hiện tượng dòng chảy mặt đi từ nam biển Đông lên phía
đông nam ngư trường III, hình thành nên front nhiệt nằm ngang
Trang 4110 115 6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
24
27
28.4
25
28.6
25 8
26
28
28.2
27.8 26
26
25
28
6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
17
28.4
29.6
26.6
30
28.6
29.6 29
28.2
29.2 29.4 28
27.4 29
28.6
29
29
Hình 2 Phân bố trường nhiệt độ lớp nước mặt biển tháng 3-4 (trái) và 5-6 (phải)
Vào tháng 4 hàng năm khi bức xạ mặt trời tăng lên và chuẩn bị đạt giá trị cực đại trong các tháng 4 và 5 ở vùng biển phía nam Việt Nam, hiện tượng nước mặt biển nóng lên cũng xuất phát từ đây và lan về phía bắc Do sự hiện diện của dải nước lạnh ngoài khơi dọc bờ nên quá trình nóng lên xẩy ra mạnh hơn trước hết đối với khu vực ngoài khơi Bên cạnh đó các xoáy thuận cục bộ tách ra từ xoáy thuận hoàn lưu chính mùa
đông vẫn còn gây tác động đối với từng khu vực, giữ cho nhiệt tương đối thấp dọc theo dải kinh tuyến 110°E Trong tháng 4 năm 2004 khu vực bị đốt nóng giới hạn phía nam
vỹ tuyến 12°N với dòng nước ấm hướng bờ trong khoảng 130N
-1,5
-1
-0,5
0
0,5
1
1,5
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
I II III IV VI
Năm 2003
-2 -1,5 -1 -0,5 0 0,5
II III IV VI
Năm
Hình 3 Biến trình năm dị thường nhiệt độ nước mặt biển tại các ngư trường
Trang 5Những đặc điểm trên có nhiều nét khác biệt so với tháng 4 năm 2003, trong đó
đáng chú ý là nền nhiệt chung năm sau thấp hơn năm trước Phân tích các bản đồ trường nhiệt độ nước mặt biển cũng như mực biển tháng 4 năm 2003 thấy rõ hai đặc
điểm là: 1) Vùng biển bắc ngư trường II và nam ngư trường I bị ấm lên đáng kể so với các vùng khác, trong khi ngư trường IV và bắc ngư trường III lại có nhiệt độ thấp, và 2) Các hoàn lưu xoáy thuận lớn với trung tâm 13oN, 111oE và xoáy nghịch trên vùng biển
9oN, 112oE góp phần tạo nên các front kéo dài từ ngư trường III qua phía tây ngư trường II và nam ngư trường I
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
28
27.4
27.6
27
26
25
29
28.6
28.4
28
28.8
26.6 26 27
27.8
27.6
28.8
6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
17
24.8
27
27.6 28
28.6
28.8
28.6
28.2
28.8
28
27.2
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
29.2
29.2 29 28.2
27
.4
29.2
29.4
29.6
29.4
29.6
29
29.8
29.6
29.4
6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
17
27.2
29
29.8
30
29
29.2
29.4
29.2
29.6
29.8 29.8
28
Hình 4 Bản đồ nhiệt độ nước mặt biển (theo phân tích viễn thám của Hải quân Mỹ)
Trang 6Với các đặc điểm như trên, tháng 4 năm 2003 có điều kiện thuận tiện hơn đối với nghề câu so với cùng kỳ năm 2004
Sang tháng 5 năm 2004, quá trình nóng lên bị giới hạn trong dải vỹ tuyến từ
11oN đến 13oN và phía tây kinh tuyến 112oE Hiện tượng nóng lên đối với khu vực phía bắc chủ yếu nằm ở phía đông kinh tuyến 111oE So với tháng 4 các front nhiệt trong tháng 5-2004 bị uốn cong và kéo dài thêm, đặc biệt tại một số khu vực còn có dấu hiệu tăng cường Dựa vào bản đồ mực biển có thể thấy vùng có độ sâu lớp hoạt động lớn được
mở rộng và chuyển dịch về phía đông và có xu thế tạo nên trục nước chìm theo hướng NE-SW Các khu vực có độ sâu lớp xáo trộn nhỏ nằm ở phía tây ngư trường I và phía bắc ngư trường III
Như vậy những vùng biển có điều kiện đánh bắt thuận tiện đó là dải giáp ranh giữa ngư trường II và IV, phía đông bắc và tây nam ngư trường III
Trên vùng biển nằm giữa ngư trường III và IV dọc kinh tuyến 110,5oE có độ dày lớp tựa đồng nhất nhỏ, tại đây đường đẳng nhiệt 15oC được nâng lên đến 140-150 mét (theo kết quả khảo sát của đề tài KC 09-18 với các frofiles nằm phía trên đường trung bình chế độ)
So với tháng 5 năm 2004, nền nhiệt chung tháng 5 năm 2003 có phần cao hơn song các dải front lại ít hơn và có xu thế tiến gần bờ
Như vậy xét về phân bố mặt rộng, tháng 4 năm 2003 có điều kiện nhiệt tốt hơn
đối với nghề câu so với cùng kỳ năm 2004 Ngược lại, tháng 5 năm 2003 lại có điều kiện nhiệt ít thuận lợi hơn so với tháng 5 năm 2004
2.2 Biến động ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương và tương quan giữa các
đặc trưng ngư trường và môi trường
Theo các kết quả phân tích thông tin thống kê nghề cá, nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam thường hoạt động trong các tháng vụ cá nam với vụ sớm trong các tháng mùa Đông và vụ chính từ tháng 3 đến hết mùa Hè Kinh nghiệm đánh bắt của ngư dân cho thấy, đối với nghề câu, vụ cá chính thường bắt đầu từ các ngư trường phía bắc và gần bờ, sau đó chuyển dần về các ngư trường phía nam và xa bờ hơn với thời gian đánh bắt hiệu quả nhất vào các tháng 4 và 5
So sánh diễn biến của các vụ cá năm 2003 và 2004 chúng ta có thể khẳng định rõ hơn về giới hạn vụ cá đối với nghề câu cá ngừ đại dương là:
- Thời gian bắt đầu vụ cá có thể chưa xác định một cách cụ thể, nhưng có thể bắt
đầu từ giữa mùa đông, vụ cá chính thường bắt đầu từ tháng 3 khi thời tiết chuyển sang mùa xuân thuận lợi cho hoạt động trên biển
- Thời gian năng suất đánh bắt hiệu quả nhất chỉ kéo dài trong vòng 1 đến 2 tháng và xẩy ra trong khoảng tháng 4 và tháng 5
- Xét về năng suất, vụ cá thường kết thúc nhanh ngay sau tháng đánh bắt hiệu quả nhất
Trang 7- Các ngư trường có năng suất đánh bắt cao cũng chuyển dần về hướng nam từ
đầu đến cuối vụ cá, tuy nhiên ngư trường trung tâm vùng biển xa bờ vẫn là nơi khai thác có hiệu quả nhất của nghề câu trong suốt vụ cá
Có thể khẳng định rằng, thời gian kéo dài vụ cá chính cũng là thời gian mà điều kiện nhiệt biển phù hợp với điều kiện nhiệt thích ứng của cá ngừ đại dương, với khoảng biến đổi từ 25°C đến 29°C Trong các tháng mùa hè khi nhiệt độ nước mặt biển toàn vùng tăng cao trên 29°C, điều kiện nhiệt không còn thích hợp cho cá ngừ vây vàng thường sống trong lớp nước trên
Việc dịch chuyển ngư trường phụ thuộc vào sự hiện diện của các front nhiệt có thể
được khẳng định thông qua phân tích diễn biến của ngư trường nghề câu trong 2 vụ cá
có số liệu cũng như số liệu thu thập nhật ký tàu trong các tháng 4 và 5 năm 2004
Trước hết, kết quả so sánh điều kiện nhiệt mặt biển trong tháng 4 cho thấy năm
2003 các dải front nhiệt được hình thành rõ nét và kéo dài hơn so với năm 2004 và so với trung bình nhiều năm Điều này cũng kèm theo sản lượng và năng suất cao của nghề câu năm 2003 so với cùng kỳ năm 2004 và các tháng trước và sau thời kỳ này Tháng 5 năm 2003 trên toàn vùng biển đã nóng lên tương đối đều và nóng hơn so với năm 2004, trong khi dải front nhiệt năm 2003 trên vùng biển sâu hầu như không có Trái lại trong tháng 5 năm 2004 lại có nhiều vùng hoạt động front trên dải giáp ranh giữa ngư trường IV và II, ngư trường III và II, ngư trường III và VI Điều này cũng
đồng nghĩa với dấu hiệu suy giảm năng suất trong tháng 5 năm 2003 so với tháng 4, trong khi tháng 5 năm 2004 lại có năng suất cao hơn tháng 4 Sau tháng 5 với điều kiện nền nhiệt chung, các ngư trường nghề câu trở nên ít hiệu quả và vụ cá chính cũng kết thúc đối với các ngư trường chính, riêng ngư trường nam Biển Đông với nền nhiệt ít biến đổi trong năm nên năng suất vẫn giữ tương đối ổn định
Những kết quả phân tích đã cho thấy những điều nêu trên thông qua diễn biến các vụ cá các năm 2003 và 2004 thể hiện trên bảng 1 và hình 5
Bảng 1 Năng suất trung bình ngày (kg/ngày) nghề câu vụ cá nam năm 2003
Ngư trường Ngư trường Tháng Trung
Trung
6 57,3 44,6 67 52,9 52,3 49,9 65,4 43,5 25,5 37,5 52,75 37,5 55,3
Từ bảng 1 và hình 5 thấy rằng tuy tháng cho năng suất nghề câu cao nhất có khác nhau trong từng năm nhưng có thể khẳng định các tháng 4 và 5 là thời kỳ cho năng suất nghề câu cá ngừ đại dương cao nhất, đặc biệt là tại các ngư trường trung tâm như ngoài khơi Phú Yên (IV), Trường Sa (II) và đông Phú Quí (III)
Trang 80.00 2.64
2.93 1.89
2.34
1.93
6 8 10 12 14 16
6 8 10 12 14
16
Đà Nẵng
Nha Trang
Phan Thiết
>90 kg/ngày 80-90 70-80 60-70 50-60
<50 1.52
Vây vàng/Mắt to
Tỷ lệ
Hình 5 Phân bố năng suất nghề câu trên các ngư trường trong hai tháng 4 và 5 năm 2004
Để làm rõ hơn mối liên hệ giữa điều kiện môi trường và ngư trường nghề câu, chúng tôi sử dụng các kết quả phân tích các số liệu nhật kí đánh bắt, cho phép đánh giá chi tiết phân bố sản lượng và năng suất trên vùng biển nghiên cứu thông qua việc chia mỗi ngư trường thành 4 tiểu vùng nhỏ (bảng 2) Từ bảng này thấy rằng bên cạnh năng suất chung với ưu thế thuộc về ngư trường II và IV đã được phân tích trên đây, năng suất ở các tiểu vùng đã cho thấy rõ ảnh hưởng của các front lên nghề câu, trong đó 3 tiểu vùng có năng suất cao nhất đều nằm trên các dải front đã được thể hiện trên bản
đồ nền nhiệt hình 4
Tỷ lệ cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to cho giá trị thấp trên các ngư trường I và
IV cho thấy số lượng tương đối cá ngừ mắt to đánh bắt được tại đây nhiều hơn so với các ngư trường khác Từ các bản đồ mực biển thấy rằng trong tháng 5 tại các ngư trường này độ dày của lớp nước mặt nhỏ hơn so với các ngư trường khác do tồn tại xoáy thuận hoàn lưu nước mặt biển Như chúng ta đều biết sự suy giảm của lớp nước mặt cũng
Trang 9đồng nghĩa với sự nâng lên của tầng đột biến nhiệt độ - khu vực hoạt động chủ yếu của cá ngừ mắt to
Do số liệu thu được còn hạn chế nên những đánh giá trên đây chỉ mới cho ta xác
định xu thế tập trung cá hay biến đổi ngư trường phụ thuộc vào các điều kiện hải dương Tuy nhiên trong điều kiện các nguồn số liệu thống kê nghề cá như hiện tại thì
đây là những kết luận quan trọng phục vụ trực tiếp cho phát triển mô hình dự báo cũng như chỉ ra các phương hướng thu thập, quản lí và phân tích các cơ sở dữ liệu nghề cá xa
bờ nói riêng và nghề cá nói chung của Việt Nam trong tương lai
Bảng 2 Kết quả phân tích số liệu nhật ký nghề câu cá ngừ tháng 4 và 5 năm 2004
Ngư trường Tổng số
liệu
Năng suất (kg/ngày)
Tỷ lệ vây vàng/mắt to Tiểu vùng Số số liệu
Năng suất (kg/ngày)
Tỷ lệ vây vàng/mắt to
I
14-17oN,
109-115o
E
114 73 2,04
II
8-14o
N,
111-115oE
648 82 2,46
III
8-12oN,
109-111o
E
170 69 2,58
IV
12-14oN,
109-111oE
136 89 2,14
VI
6-8o
N,
109-115oE
226 64 2,56
3 Kết luận
Tuy là biển nhiệt đới nhưng dưới tác động mạnh của gió mùa nên các trường hải dương Biển Đông luôn có mhững biến động đáng kể, trong đó trường nhiệt và hoàn lưu biển có sự biến đổi mạnh mẽ nhất
Các số liệu điều tra về ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương trong những năm gần đây cũng cho thấy có sự biến đổi đáng kể về ngư trường, thời vụ và năng suất đánh bắt
Trang 10Kết quả phân tích những biến động của cả trường nhiệt, hoàn lưu biển lẫn biến
động phân bố ngư trường cho thấy các biến động này đều tuân theo một quy luật nhất
định, đồng thời cũng khẳng định các đặc trưng môi trường biển như nhiệt độ nước mặt biển, hoàn lưu, các dải front, độ dày lớp xáo trộn trên có vai trò quan trọng quyết định cho biến động phân bố ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương
Tài liệu tham khảo
Movements and Depth Distributions of Tunas and Billfishes Can Significantly Improve
Population Assessments, American Fisheries Society Symposium 25 (2001), 179-198
2 Richard W Brill et al., Horizontal movements and depth distribution of large adult yellowfin tuna (Thunnus albacares) near the Hawaiian Islands, Recorded using ultrasonic
telemetry: implications for the physiological ecology of pelagic fishes, Marine Biology 133
(1999), 395-408
3 Uu D.V and Brankart, Seasonal Variation of Temperature and Salinity Fields and Water
Masses in the Bien Dong (South China) Sea, Journal Mathematical Computer Modelling,
Vol 26, 1997, 97-113
4 Naval Research Laboratory (NRL), Stennis Space Center, MS: http://www.nrl.navy.mil
VNU JOURNAL OF SCIENCE, Nat., Sci., & Tech., T.xXI, n 0 3AP., 2005
Variation of environment conditions and Thunnus fishing ground in Southern Sea of Vietnam
Dinh Van Uu, Doan Bo, Ha Thanh Huong Pham Hoang Lam, Hoang Duc Hien
Marine Environment and Dynamics Centre, College of Science, VNU
To have the monitoring and prediction model for off shore fishery in Vietnam, the important task is to specify the relation between variability of fishing ground and sea environment However due to the reversing monsoon winds the tropical vietnamese sea always have large variation of oceanographic conditions including thermohaline and circulation fields
The collected data of fishing ground of Tuna fisheries in the recent years show large variation in the fishing ground, fishing season and production
The analyzing results of the variation of thermohaline and circulation fields and distribution of fishing ground show that this variation obey certain laws and also establish the characterization of marine environment such as the temperature of surface water, current, frontal zone, the thickness of mixing layer play an important role in the distribution of Tuna fishing ground