1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot

7 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

37 Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội Đặng Đình Đức, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Ý Như*, Nguyễn Thanh Sơn Khoa Khí tượng T

Trang 1

37

Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống

sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đặng Đình Đức, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Ý Như*, Nguyễn Thanh Sơn

Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,

334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam

Nhận ngày 29 tháng 4 năm 2011

Tóm tắt Trong những năm gần đây, biến đổi các hiện tượng cực đoan gây tổn thất lớn về người

và của ở nhiều địa phương cũng như nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội Do đó vấn đề quản

lý lũ đã trở thành trọng điểm quốc gia Chình vì thế việc xây dựng bản đồ ngập lụt trở thành một bài toán hết sức cần thiết cung cấp cơ sở cho công tác quản lý lũ Đối với bài toán đặt ra, nghiên cứu đã sử dụng MIKE FLOOD làm công cụ mô phỏng ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong đó, mô hình NAM được sử dụng để xây dựng chuỗi số liệu dòng chảy từ mưa làm điều kiện biên cho mô hình MIKE FLOOD Bộ thông số mô hình kết nối 1-2 chiều được hiệu chỉnh và kiểm định cho hai trận lũ lớn năm 1984 và 2008 tại trạm Phủ Lý, kết hợp với các tài liệu đo đạc diện ngập lụt của trận lũ lịch sử 2008 Kết quả cho thấy mô hình mô phỏng với độ chính xác tương đối cao thể hiện khả năng ứng dụng của mô hình trong công tác xây dựng bản đồ ngập lụt, bản đồ tổn thương cũng như cảnh báo nguy cơ úng lụt cho khu vực Thành phố Hà Nội Bài báo được hoàn thành với sự hỗ trợ của đề tài nhóm A, Đại học Quốc gia Hà Nội, QGTĐ.10-06

Từ khóa: MIKE FLOOD, bản đồ ngập lụt, hệ thống sông Nhuệ - Đáy

1 Mở đầu

Diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu

toàn cầu kéo theo sự bất thường của mưa lớn, lũ

lụt Là một lưu vực có vị trí chiến lược trong

phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc

phòng của cả nước, hơn nữa lưu vực Nhuệ Đáy

lại thường xuyên chịu tác động của ngập lụt khi

có mưa lớn Do đó việc mô phỏng bức tranh

ngập lụt được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết

Chính vì vậy nghiên cứu thực hiện xây dựng

bức tranh ngập lụt chi tiết cho khu vực theo các

_

 Tác giả liên hệ ĐT: 0987761757

E-mail: ynhu.nyn@gmail.com

kịch bản khác nhau sử dụng mô hình MIKE FLOOD, phục vụ quy hoạch, cảnh báo, dự báo diện ngập lụt phục vụ công tác ứng phó nhanh, cũng như ước tính thiệt hại do thiên tai

MIKE FLOOD là mô hình thuỷ động lực học dòng chảy kết nối 1&2 chiều, có khả năng

mô phỏng mực nước và dòng chảy trên sông, cửa sông, vịnh và ven biển, cũng như mô phỏng dòng không ổn định hai chiều ngang trên đồng bằng ngập lũ Nó kết hợp ưu điểm của mô hình

1 chiều cho mạng lưới sông (thời gian mô phỏng ngắn) lẫn lợi thế của mô hình 2 chiều (mô phỏng chính xác diện ngập lụt và trường vận tốc trên bề mặt đồng bằng ngập lũ), đồng

Trang 2

thời tương thích với các cấu trúc GIS thông

dụng Do đó MIKE FLOOD có được nhiều sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như có

nhiều ứng dụng trong thực tiễn ở Việt Nam và

trên thế giới [1,3]

2 Giới thiệu vùng nghiên cứu

Lưu vực sông Nhuệ-Đáy nằm ở hữu ngạn

sông Hồng trong phạm vi từ 200 đến 21020' vĩ

độ Bắc và từ 1050 đến 106030' kinh độ Đông,

với tổng diện tích tự nhiên là 7665 km2 (hình 1),

vùng nghiên cứu là Thành phố Hà Nội với diện

tích 3344,6 km2, gồm 9 quận, 18 huyện, 2 thành

phố; dân số: 6.451.909 người (2009)

Sông Đáy bắt nguồn từ sông Hồng thông

qua hệ thống phân chứa lũ Vân Cốc, Phúc Thọ

chảy qua Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam

Định trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Đáy

Sông Nhuệ cũng lấy nước từ sông Hồng

qua cống Liên Mạc ở Từ Liêm, Hà Nội chảy

qua các tỉnh Hà Nội và Hà Tây rồi đổ vào sông

Đáy tại Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Nằm trên vùng châu thổ sông Hồng, lưu

vực sông Nhuệ - Đáy nằm trải dài theo phương

vĩ tuyến từ Hà Nội đến Nam Định Địa hình lưu

vực có sự phân hoá tương phản thể hiện rõ nét

theo hướng Tây-Đông và hướng Bắc-Nam

Phía Tây và Tây Nam là địa hình đồi núi

chiếm khoảng 40% diện tích, thấp dần từ Đông

Bắc xuống Tây Nam ra biển và từ Tây sang

Đông Phần lớn là các dãy núi thấp, độ cao

trung bình 400-600m, đan xen có một vài khối

núi có độ cao trên 1000m như Ba Vì (1296m),

Đồi Thơi (1198m), Viên Nam (1031m)

Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng

60% lãnh thổ, địa hình khá bằng phẳng có độ

cao < 20 m và thấp dần từ Tây sang Đông, từ

Tây Bắc xuống Đông Nam, bị chia cắt bởi hệ

thống sông và kênh mương chằng chịt Vùng

đồng bằng có thể được chia thành 4 khu vực có đặc điểm khác nhau: Vùng đồng bằng phía Bắc, Vùng đồng bằng trung tâm, Vùng đồng bằng phía Nam, Vùng đồng bằng thung lũng

Thượng lưu sông uốn khúc, hẹp và dốc, nhiều ghềnh, nước chảy xiết, là nguy cơ tạo nên các hiện tượng xói lở, lũ quét Trung lưu và hạ lưu được mở rộng, dòng sông chảy chậm, khả năng thoát nước kém dẫn đến tình trạng ngập lũ mỗi khi xuất hiện mưa lớn

Hình 1 Sơ đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ - Đáy

và vùng nghiên cứu.

Khu vực nghiên cứu chủ yếu là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, cao và bậc thềm, xen giữa là các vùng trũng với các hồ, đầm , với độ cao trung bình từ 5 – 20m thấp dần từ Bắc xuống Nam, Tây sang Đông, độ nghiêng không lớn nên khi có lượng nước lớn bất thường dễ xảy ra ngập úng

Trang 3

3 Giới thiệu mô hình MIKE FLOOD

Dòng chảy trong vùng ngập lũ là dòng chảy

2 chiều theo phương ngang, vừa có dòng chảy

tập trung trong các mạng lưới sông suối vừa có

dòng chảy tràn trên bề mặt, do vậy nếu sử dụng

mô hình 2 chiều để mô phỏng quá trình này thì

yêu cầu lưới tính khá chi tiết để mô tả đủ chính

xác ảnh hưởng của dòng chảy tập trung trong

các kênh, rãnh Mặt khác, dòng chảy tràn trên

bề mặt chỉ xuất hiện khi có mực nước trong

sông cao hơn cao trình bờ (hoặc đê), vì thế để

giảm thời gian và khối lượng tính toán có thể

kết hợp các ưu điểm của cả mô hình 1 và 2

chiều bằng cách kích hoạt mô đun tính toán 2

chiều khi xuất hiện dòng chảy tràn Mô hình

MIKE FLOOD thực hiện các kết nối giữa mô

hình MIKE 11 (tính toán thủy lực mạng sông 1

chiều) với mô hình MIKE 21 (mô phỏng dòng

chảy nước nông 2 chiều theo phương ngang)

bằng 4 loại kết nối: a) kết nối tiêu chuẩn: sử

dụng khi một nhánh sông một chiều đổ trực tiếp

vào vùng ngập 2 chiều; b) kết nối bên: sử dụng

khi một nhánh sông nằm kề vùng ngập, và khi

mực nước trong sông cao hơn cao trình bờ thì

sẽ kết nối với ô lưới tương ứng của mô hình 2

chiều; c) kết nối công trình (ẩn): sử dụng các

dạng liên kết qua công trình; và d) kết nối khô

(zero flow link): là kết nối không cho dòng

chảy tràn qua [1, 4-6]

Mô hình MIKE FLOOD được phát triển bởi

Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) thực chất là

phần mềm liên kết giữa mô hình MIKE 11 và

MIKE 21 đã được xây dựng trước đó Bộ mô

hình này có thể tích hợp nhiều mô đun khác

nhau, nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này

chỉ sử dụng mô đun RR (mô hình mưa-dòng

chảy NAM) để tạo dòng chảy biên đầu vào cho

mô hình thủy lực mạng sông (HD) kết hợp với

mô hình thủy lực 2 chiều MIKE 21 [1, 4-6]

4 Ứng dụng MIKE FLOOD tính toán ngập lụt lưu vực Nhuệ - Đáy trên địa bàn Thành Phố Hà Nội

4.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu

- Dữ liệu địa hình: Bản đồ số độ cao khu

vực nghiên cứu được xây dựng với độ phân giải 30x30m từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25.000 kết hợp với một số các số liệu cao độ bổ sung thu thập từ các nguồn khác nhau [4] Các mặt cắt ngang sông cho khu vực nghiên cứu đã thu thập gồm: 39 mặt cắt trên sông Đáy, 26 mặt cắt trên sông Nhuệ, 20 mặt cắt trên sông Tích và 12 mặt cắt trên sông Hoàng Long

- Dữ liệu khí tượng thuỷ văn: bao gồm số

liệu mưa ngày, mưa giờ tại Láng, Hà Đông, Ba Thá, Sơn Tây, Hưng Thi, Phủ Lý các năm 1984

và 2008; mực nước giờ tại các trạm: Phủ Lý, Ninh Bình các năm 1984 và 2008; số liệu trích

lũ lưu lượng tại trạm Ba Thá năm 1972, 1978 Trên toàn bộ vùng nghiên cứu hiện nay không

có trạm đo lưu lượng, do vậy để làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mưa-dòng chảy (NAM), số liệu lưu lượng trạm Ba Thá năm 1972 và 1978 được sử dụng

4.2 Thiết lập mô hình MIKE FLOOD cho hệ thống sông Nhuệ - Đáy

- Xây dựng mạng lưới thuỷ lực một chiều

Mạng lưới thủy văn khu vực nghiên cứu được mô tả bằng sơ đồ thủy lực bao gồm sông chính là sông Đáy với chiều dài 182 km, 39 mặt cắt, biên trên là trạm thủy văn Đập Đáy, biên dưới là trạm thủy văn Ninh Bình, sông Nhuệ với chiều dài 74 km với 26 mặt cắt, biên trên lấy tại vị trí cống Liên Mạc, đổ vào dòng chính sông Đáy tại ngã ba Phủ Lý Ngoài ra, mạng thủy lực còn bao gồm một số sông như sông Tích, sông Hoàng Long (hình 2)

Trang 4

Hình 2 Sơ đồ thủy lực hệ thống sông Nhuệ - Đáy

- Xây dựng mạng thủy lực hai chiều

Giới hạn vùng ngập ở hạ lưu được xác định

trên cơ sở bản đồ địa hình kết hợp với một số

tài liệu khảo sát các trận lũ lịch sử nhằm đảm

bảo bao trùm toàn bộ vùng ngập lụt tối đa Bản

đồ DEM khu vực nghiên cứu với độ phân giải

30 x 30m đã xây dựng ở trên được sử dụng làm

nền địa hình cho mô hình MIKE 21 Nền địa

hình này đã có kết hợp với các tài liệu mạng

lưới đường sắt, đường quốc lộ và tỉnh lộ trong

khu vực Khu vực nghiên cứu được rời rạc hóa

theo lưới phần tử hữu hạn (FEM) với khoảng

cách các ô lưới là từ 200 – 1000 m Vớ

1.000.000 m2, góc nhỏ nhất 30o toàn bộ vùng ngập lụt chia

và tính toán trong MIKE 11 và MIKE 21,

chúng trong MIKE FLOOD với trong 1

4.3 Hiệu chỉnh, kiểm định MIKE FLOOD

Để tính toán, mô phỏng quá trình dòng chảy

lũ trên lưu vực bằng mô hình thủy văn, thủy lực

cần thực hiện các bước hiệu chỉnh và kiểm định

bộ thông số cho mô hình tính toán Do biên đầu vào của mô hình MIKE FLOOD phải tính gián tiếp từ mưa bằng mô hình NAM, do vậy trước hết phải kiểm định và hiệu chỉnh mô hình NAM

- Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM

Dựa trên tình hình tài liệu đo đạc lưu lượng tại trạm Ba Thá trận lũ năm 1972 và 1978, hai trận lũ có số liệu lưu lượng thực đo này được lựa chọn để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình

Cụ thể:Trận lũ 23/07/1972 đến 20/09/1972 sử dụng cho hiệu chỉnh Trận lũ từ 28/8/1978 đến 19/10/1978 sử dụng cho kiểm định

Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định NAM tại

Ba Thá được thể hiện trong các hình 4 và 5 Chỉ

số Nash được sử dụng như hàm mục tiêu trong nghiên cứu, kết quả hiệu chỉnh là 84.6% và kiểm định là 73,4% đều đạt loại khá và đảm bảo yêu cầu cho các bước tính toán tiếp theo

- Đánh giá kết quả tính diện ngập lụt trận lũ

2008

Nhằm mục tiêu đánh giá khả năng tính toán diện ngập lụt bằng mô hình kết nối đã xây dựng, kết quả tính toán được xuất ra dưới dạng file ASCII, và xử lý bằng phần mềm ArcGis 9.3 nhằm xây dựng vùng ngập lụt với độ sâu ngập khác nhau thành các lớp thông tin (layer) trên GIS Từ đó kết hợp lớp ranh giới hành chính có sẵn, xác định diện ngập ứng các mức ngập sâu cho toàn vùng Số liệu tính toán được so sánh với ảnh vệ tinh được chụp ngày 7/11/2011 Tuy không bắt được thời gian xuất hiện đỉnh lũ, nhưng phần nào cũng phản ánh được diện ngập tính toán phù hợp với thực tế Bản đồ diện tích ngập lụt tương ứng với trận lũ 2008 đã được xây dựng với tỷ lệ 1/25.000 và được minh họa trong hình 9

Trang 5

Tên sông Môđun Coupling trong Mike 21

Hình 3 Sơ đồ lưới phần tử hữu hạn dùng trong mô hình 2 chiều.

Hình 4 Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM

Hình 5 Kết quả kiểm định mô hình NAM.

Hình 6 Kết quả hiệu chỉnh mô hình MIKE FLOOD

tại Phủ Lý (1984)

Hình 7 Kết quả kiểm định mô hình MIKE FLOOD

tại Hà Đông (2008)

Trang 6

5 Kết luận

Mô hình MIKE FLOOD ứng dụng tính toán

ngập lụt cho khu vực sông Nhuệ - Đáy trên địa

bàn Thành phố Hà Nội được hiệu chỉnh và kiểm

định với kết quả đánh giá theo chỉ tiêu Nash

đều trên 90% Riêng với diện ngập, so sánh ảnh

vệ tinh chụp ngày 7/11/2011 cho thấy mô hình

mô phỏng khá phù hợp với thực tế

Hình 8 Kết quả kiểm định mô hình MIKE FLOOD

trạm Phủ Lý (2008)

Hình 9 Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ - Đáy

trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Điều này thể hiện khả năng mô phỏng tốt quá trình ngập lụt trên lưu vực nghiên cứu của

mô hình Tác giả cũng đang tiếp tục hoàn thiện

mô hình như khảo sát bổ sung vết lũ, chi tiết hơn bản đồ địa hình và các loại tài liệu khác để hướng tới việc sử dụng mô hình này trong công tác mô phỏng lũ tần suất, xây dựng các kịch bản

lũ, đánh giá tính dễ bị tổn thương gây ra do ngập lụt trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy… phục

vụ công tác cảnh báo, dự báo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai

Bảng 11 Diện tích ngập lớn nhất theo các cấp cao độ trong trận lũ năm 1984 và 2008

trên địa bàn Thành phố Hà Nội Mức độ ngập 0.1- 0.5m 0.5- 1m 1- 2m 2- 3m >3m Diện tích ngập (Km 2 ) Trận lũ 1984 269.2 402.1 78.8 4.3 1.1

Trận lũ 2008 282.7 394.7 76.4 5.2 1.6

Tài liệu tham khảo

[1] Hoàng Thái Bình, Xây dựng bản đồ ngập lụt hạ

lưu hệ thống sông Nhật Lệ (Mỹ Trung - Tám Lu -

Đồng Hới), Luận văn Thạc sỹ khoa học, Trường

Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009

[2] Nguyễn Văn Cư và nnk, Báo cáo kết quả dự án

KHCN cấp nhà nước: môi trường sông Nhuệ- Đáy phần I, Hà Nội, 2003

Trang 7

[3] Đặng Đình Khá, Ứng dụng mô hình MIKE

FLOOD tính toán mức độ ngập lụt khu vực Bắc

Thường Tín, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học

Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009

[4] Đặng Đình Đức, Thử nghiệm khả năng mô phỏng

mức độ ngập lụt mô hình MIKE FLOOD trên lưu

vực sông Nhuệ - Đáy, Báo cáo khoa học, trường

Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 2010 [5] Denmark Hydraulic Institute (DHI), 2007,

“MIKE FLOOD Reference Manual” DHI, 514 pp

[6] Denmark Hydraulic Institute (DHI), 2007,

“MIKE FLOOD User Guide” DHI, 514 pp

Simulation of flood inundation using MIKE FLOOD model in

Nhue - Day river system - Ha Noi city

Dang Dinh Duc, Tran Ngoc Anh, Nguyen Y Nhu, Nguyen Thanh Son

Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, Hanoi University of Science, VNU,

334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam

In recent years, variation of extreme events causes damage to human and properties of many local region as well as eco-societies activities Flood management problem is therefore a national focus Thus, flood mapping becomes the neccessary problem, provides a basis for flood management goals

To this problem, the research applied MIKE FLOOD to simulation of inundation in Nhue Day river basin within Ha Noi In which, NAM is used to produce flow from rainfall and these simulated flow is applied to a boundary condition of MIKE FLOOD Observed headwater data of 2 historical flood events, 1984 and 2008, at Phu Ly station and inundation area data of the flood event in 2008 are used

to optimize the parameter set of 1-2 dimensional model The results indicated that this model achieves

a fairly high accuracy, reveals ability to apply to inundation vulnerable mapping as well as flood risk warning for Ha Noi This study is completed with the support of A project group, Vietnam National University, QGTĐ.10-06

Keywords: MIKE FLOOD, inundation, flooding map, Nhue - Day river

Ngày đăng: 20/06/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ - Đáy - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 1. Sơ đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ - Đáy (Trang 2)
Hình 2. Sơ đồ thủy lực hệ thống sông Nhuệ - Đáy. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 2. Sơ đồ thủy lực hệ thống sông Nhuệ - Đáy (Trang 4)
Hình 3. Sơ đồ lưới phần tử hữu hạn dùng trong mô hình 2 chiều. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 3. Sơ đồ lưới phần tử hữu hạn dùng trong mô hình 2 chiều (Trang 5)
Hình 5. Kết quả kiểm định mô hình NAM. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 5. Kết quả kiểm định mô hình NAM (Trang 5)
Hình 4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM (Trang 5)
Hình 8. Kết quả kiểm định mô hình MIKE FLOOD - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 8. Kết quả kiểm định mô hình MIKE FLOOD (Trang 6)
Hình 9. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ - Đáy - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Hình 9. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ - Đáy (Trang 6)
Bảng 11. Diện tích ngập lớn nhất theo các cấp cao độ trong trận lũ năm 1984 và 2008 - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhuệ - Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội " pot
Bảng 11. Diện tích ngập lớn nhất theo các cấp cao độ trong trận lũ năm 1984 và 2008 (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm