Bước đầu chưa thể đưa ra nhận định về mối liên hệ giữa sự ấm lên toàn cầu và sự biến động ENSO, nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn tuy còn ngắn một số đặc trưng ENSO có biến động: Các
Trang 129
Xu thế biến động của một số đặc trưng ENSO
Trần Quang Đức*
Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,
334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 29 tháng 4 năm 2011
Tóm tắt Giai đoạn từ 1950 đến 2010 liệu ENSO có biến động hay không trong bối cảnh ấm lên
toàn cầu? Dựa trên số liệu nhiệt độ mặt nước biển vùng Nino3, bài báo phân tích xu thế và mức độ biến đổi của nột số đặc trưng ENSO Bước đầu chưa thể đưa ra nhận định về mối liên hệ giữa sự
ấm lên toàn cầu và sự biến động ENSO, nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn tuy còn ngắn một số đặc trưng ENSO có biến động: Các đợt El Nino ngày càng dài hơn Số các đợt ENSO ngày càng giảm Cường độ El Nino ngày càng mạnh
Từ khóa: ENSO, xu thế, dị thường, nhiệt độ mặt nước biển.
Trên cơ sở số liệu dị thường nhiệt độ trung
bình Bắc bán cầu giai đoạn 1000-2000 được
tính như là hiệu sai trung bình năm so với trung
bình giai đoạn 1961-1990 (Số liệu giai đoạn từ
khoảng 1860 đến nay có được nhờ quan trắc,
giai đoạn từ năm 1000 đến khoảng 1860 được
tái dựng nhờ dấu hiệu trên thực vật, lõi băng…)
có thể thấy xu thế ấm lên toàn cầu rõ nét và đặc
biệt xu thế tăng mạnh trong khoảng một trăm
năm trở lại đây
Sự ấm lên toàn cầu trong một thế kỷ trở lại
đây hầu như do gia tăng nồng độ khí nhà kính
từ họat động sống của con người như sử dụng
nhiên liệu hóa thạch, phá rừng…Xu thế tuyến
tính của nhiệt độ trung bình toàn cầu (theo
IPCC) cho thấy tốc độ tăng 0,74°C ±0,18°C
trong khoảng thời gian 1906-2005 Trong 50
_
ĐT: 84-4-38584943
E-mail: ductq@vnu.edu.vn
năm cuối của giai đoạn này, tốc độ tăng nhiệt
độ là 0,13°C ±0,03°C/thập kỷ so với 0,07°C ± 0,02°C/thập kỷ trong toàn bộ giai đoạn Trong hoàn cảnh chung đó nhiệt độ lục địa tăng nhanh hơn nhiệt độ đại dương và Bắc bán cầu ấm lên nhanh hơn Nam bán cầu
Đại dương và khí quyển là hai thành phần quan trọng của Trái Đất Sự tương tác giữa hai thành phần này tạo nên tính đa dạng trong hệ thống khí hậu Trái Đất Trong bối cảnh biến đổi khí hậu nói chung, các hiện tượng thời tiết và khí hậu không phải lúc nào cũng diễn ra bình thường, theo qui luật mà có những dị thường ENSO là hiện tượng, mà bản chất thể hiện mối tương tác giữa khí quyển và đại dương miền vĩ
độ thấp Thái Bình Dương Thuật ngữ ENSO (ElNino-Southern Oscillation~El Nino và Dao động nam) được dùng để chỉ hai hiện tượng: El Nino và La Nina (hoặc cũng thường được gọi là hai pha của hiện tượng ENSO) El Nino (pha nóng) là hiện tượng nhiệt độ bề mặt nước biển phía Đông và trung tâm Thái Bình Dương xích
Trang 2đạo nóng lên một cách dị thường, kéo dài
khoảng một năm với chu kỳ không đều, khoảng
3-5 năm La Nina (pha lạnh) là hiện tượng nhiệt
độ bề mặt nước biển phía Đông Thái Bình
Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường
Dao động nam dùng để chỉ sự dao động bập
bênh khí áp bề mặt khu vực Đông Thái Bình
Dương, Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương miền nhiệt đới và thường biến động
mạnh trong thời kỳ ENSO [1]
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi vực
thường bị ảnh hưởng mạnh của hiện tượng El
Nino và La Nina nên thời tiết, khí hậu Việt
Nam cũng bị biến động mạnh khi xảy ra các
hiện tượng này Trong khung cảnh chung ấm
lên toàn cầu, liệu rằng ENSO có biến động? Bài
báo này nhằm đưa ra những nhận xét về sự biến
động của ENSO trong hơn nửa thế kỷ gần đây
trên cơ sở một số đặc trưng cơ bản
2 Các chỉ số và số liệu nghiên cứu
Một số chỉ số có liên quan đến nhiệt độ mặt
nước biển
Sau đây là một số chỉ số có liên quan đến
nhiệt độ mặt nước biển (Sea Surface
Temperature Anomaly - SSTA) thường được
dùng trong nghiên cứu ENSO trên thế giới và ở
Việt Nam [2-5]:
Trên thế giới
Thời kỳ ENSO được xác định là những
tháng có SSTA (Dị thường nhiệt độ mặt nước
biển) khu vực Nino3 (Hình 1) vượt ngưỡng ±
1°C, đối với chỉ số SOI thì nhiều tài liệu của Úc
đã lấy giá trị 10 làm ngưỡng: SOI < 10 tương
ứng với El Nino, SOI > 10 tương ứng với La
Nina (Cơ quan Khí tượng Úc)
Thời kì ENSO được xác định theo trung
bình trượt 5 tháng của SSTA khu vực Nino3.4
với ngưỡng các pha ENSO là ± 0,4 °C và có 6 tháng liên tiếp vượt ngưỡng này (Viện Nghiên cứu Quốc tế về Khí hậu và Xã hội IRI)
Thời kì El Nino là giai đoạn có trung bình trượt 5 tháng SSTA khu vực Nino3.4 vượt giới hạn 0,4 °C ít nhất 6 tháng (1999, WMO-UNESCO) Tuy nhiên nghiên cứu cho rằng định nghĩa cần được phát triển thêm
Thời kỳ ENSO là thời kỳ có trung bình trượt 5 tháng của SSTA khu vực (4°N-4°S, 150°W-90°W) vượt ngưỡng -0,5° ÷ +0,5°C kéo dài ít nhất 6 tháng (Cơ quan Khí tượng Nhật Bản)
El Nino là thời kì có trung bình trượt 5 tháng của SSTA khu vực Nino3 vượt 0,5°C kéo dài 6 tháng và có ít nhất 1 tháng có SSTA vượt 1°C (Pao-Shin Chu và Jianxin)
Thời kì ENSO được xác định theo trung bình trượt 3 tháng SSTA khu vực Nino3.4 với ngưỡng ± 0,5°C và phải đạt ít nhất 5 tháng Ngưỡng với ENSO trung bình là ±1°C, và với ENSO mạnh là ±1,5°C (Trung tâm Dự báo Khí hậu Hoa Kỳ, CPC)
Ở Việt Nam
Pha El Nino khi SSTA Nino1+2, Nino3 > 1°C liên tục 3 tháng liền (Bùi Minh Tăng, Tạp chí KTTV, 446, T2/1998)
Thời kỳ ENSO là thời kỳ có giá trị tuyệt đối trung bình trượt 5 tháng của SSTA khu vực Nino3 vượt 0,5°C kéo dài 6 tháng trở lên El Nino mạnh khi SSTA ≥ 1,5°C, La Nina mạnh khi SSTA ≤ -1,5°C (Nguyễn Đức Ngữ, Trần Việt Liễn, Nguyễn Thị Hiền Thuận)
Các chỉ số ENSO áp dụng trên thế giới và Việt Nam nêu trên đều sử dụng nhiệt độ mặt nước biển đối với khu vực Nino1, Nino2, Nino3
và Nino4 (Hình 1), đó thường là những khu vực
có biến động mạnh nhất khi xảy ra ENSO Chỉ
số và ngưỡng giá trị được sử dụng bởi các tác giả Nguyễn Đức Ngữ, Trần Việt Liễn, Nguyễn
Trang 3Thị Hiền Thuận nhìn chung là trùng với chỉ số
và ngưỡng của Cơ quan Khí tượng Úc, Cơ quan
Khí tượng Nhật Bản, Pao-Shin Chu và Jianxin
Tuy nhiên đối với Cơ quan Khí tượng Úc
ngưỡng của SSTA không phải là ± 0.5°C mà là
± 1°C, đối với Cơ quan Khí tượng Nhật Bản
khu vực Nino3 được thu hẹp cả phía bắc và
phía nam mỗi bên 1o vĩ, đối với hai tác giả
Pao-Shin Chu và Jianxin có bổ sung thêm chỉ tiêu
có ít nhất 1 tháng có SSTA vượt 1°C Nghiên
cứu bước đầu của chúng tôi chỉ ra rằng với các
chỉ số và ngưỡng của các tác giả trên, các đặc
trưng cơ bản của ENSO như: số đợt ENSO, thời
gian kéo dài các đợt ENSO đều tương đồng
Trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi sẽ
sử dụng chỉ số và ngưỡng: Thời kỳ ENSO là
thời kỳ có giá trị tuyệt đối trung bình trượt 5
tháng của SSTA khu vực Nino3 vượt 0,5° kéo
dài 6 tháng trở lên El Nino mạnh khi SSTA ≥
1,5°C, La Nina mạnh khi SSTA ≤ -1,5°C
Hình 1 Sơ đồ phân vùng Nino
Các thời kỳ ENSO
Số liệu dị thường nhiệt độ mặt nước biển, trong một số tài liệu còn được gọi là hiệu sai nhiệt độ mặt nước biển được cung cấp bởi
http://www.cpc.noaa.gov/data/indices/sstoi.indi ces, với chỉ số và ngưỡng đã nêu trên các đợt ENSO được xác định và mô tả theo Bảng 1 sau:
Bảng 1 Các thời kỳ ENSO
Trang 4
3 Xu thế biến động của một số đặc trưng ENSO
Trên cơ sở chuỗi số liệu nhiệt độ mặt nước
biển và phương pháp xác định các đặc trưng
ENSO trên, bài báo đưa ra nhận định về xu thế
biến động chu kỳ, độ kéo dài, cường độ…các đợt ENSO
Xu thế thời gian kéo dài các đợt ENSO giai đoạn 1950 – 2010
Thời gian kéo dài các đợt El Nino
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
19 19
19
/195
8
19
19
/196
6 19 /70 19 /197 3 19 /197 7 19 /198 3 19 /8 88 19 /199 2 19 /199 8 20 /200 3 20 /201 0
Năm
Thời gian Đường xu thế
Thời gian kéo dài các đợt La Nina
0 5 10 15 20 25
19 /195 1 19 /556 19 /196 5 19 /196 8 19 /197 1 19 /197 4 19 /776 19 /198 6 19 /198 9 19 /199 6 19 /900 20 /200 8
Năm
Đường xu thế
Hình 2 Thời gian kéo dài (số tháng) các đợt El Nino (a), La Nina (b) giai đoạn 1950-2010 và xu thế tuyến tính
Trên Hình 2a mô tả thời gian kéo dài các
đợt El Nino giai đoạn 1950-2010 Những đợt El
Nino kéo dài nhất đều ở gần cuối giai đoạn, vào
những năm 1982, 1986, 1991 và 1997, trong đó
hai đợt đầu dài nhất và đều trên 16 tháng, hai
đợt sau cùng kéo dài trên 13 tháng Những đợt
El Nino ngắn nhất đều ở nửa đầu giai đoạn, vào
những năm 1951, 1953, 1963, 1969 và cùng
kéo dài khoảng 6 tháng Xu thế kéo dài các đợt
El Nino tăng, hay nói cách khác các đợt El
Nino càng ngày càng dài hơn Thời gian kéo dài
các đợt La Nina giai đoạn 1950-2010 được mô
tả trên Hình 2b Những đợt La Nina kéo dài
nhất đều ở gần đầu và giữa giai đoạn, vào những năm 1954, 1970, 1984, trong đó hai đợt dài nhất vào năm 1954, 1984 đều trên 22 tháng, đợt năm 1970 ngắn hơn hai đợt trên, và dài khoảng 20 tháng Những đợt La Nina ngắn nhất đều ở nửa sau giai đoạn, vào những năm 1995,
2007 và kéo dài lần lượt 7, 11 tháng Xu thế kéo dài các đợt La Nina tăng, giảm không rõ rệt
Xu thế khoảng cách giữa các đợt ENSO giai đoạn 1950 – 2010
Khoảng cách thời gian giữa các đợt El Nino
0
10
20
30
40
50
60
70
80
19 19
19
/195
8
19
19
/196
6 19 /70 19 /197 3 19 /197 7 19 /198 3 19 /8 88 19 /199 2 19 /199 8 20 /200 3 20 /201 0
Năm
Đường xu thế
Khoảng cách thời gian giữa các đợt La Nina
0 20 40 60 80 100 120
19 /195 1 19 /556 19 /196 5 19 /197 1 19 /197 4 19 /197 6 19 /198 5 19 /198 9 19 /199 6 19 /900 20 /200 8 20 /
Năm
Đường xu thế
Hình 3 Khoảng cách (số tháng) giữa các đợt El Nino (a), La Nina (b) giai đoạn 1950-2010 và xu thế tuyến tính
Trang 5Trên Hình 3a mô tả khoảng cách thời gian
giữa các đợt El Nino giai đoạn 1950-2010
Khoảng cách dài nhất giữa các đợt El Nino đều
ở nửa cuối giai đoạn, vào sau đợt của những
năm 1982, 1997 và 2009, trong đó khoảng cách
dài nhất là sau đợt năm 1983, 2010 đều trên 63
tháng, khoảng cách sau đợt năm 1997 ngắn hơn
sau hai đợt trên, và dài khoảng gần 60 tháng
Khoảng cách ngắn nhất giữa các đợt El Nino
đều ở gần đầu giai đoạn, vào sau đợt của những
năm 1953, 1965 và kéo dài cùng khoảng 14
tháng Xu thế khoảng cách giữa các đợt El Nino
tăng, với mức trung bình khoảng hơn ba tháng
sau mỗi đợt
Khoảng cách thời gian giữa các đợt La Nina
giai đoạn 1950-2010 được mô tả trên Hình 3b
Khoảng cách dài nhất giữa các đợt La Nina đều
ở nửa cuối giai đoạn, vào sau đợt của những năm 1976, 1989 và 2000, và tương ứng là 96,
74, 85 tháng Tuy nhiên vào nửa đầu giai đoạn, khoảng cách giữa hại đợt sau năm 1956 đạt cực đại, nhưng đây cũng là khoảng cách dài duy nhất trong toàn bộ nửa đầu giai đoạn, cùng trong giai đoạn này khoảng cách giữa các đợt
La Nina đạt cực tiểu vào sau đợt của những năm 1971, 1974 và kéo dài lần lượt 15, 4 tháng
Xu thế khoảng cách giữa các đợt La Nina tăng, giảm chưa rõ rệt, nhưng nếu nhìn nhận một cách định tính theo đường xu thế trên hình có thể thấy khoảng cách giữa các đợt La Nina ngày càng tăng với mức trung bình khoảng gần hai tháng sau mỗi đợt
Khoảng cách thời gian giữa các đợt El Nino tới La Nina
-10
0
10
20
30
40
50
60
19
19
/195
8
19
/196
5
19
/196
8 19 /197 1 19 /197 4 19 /197 7 19 /198 6 19 /198 9 19 /199 6 19 /900 20 /200 8 20 /
Năm
Đường xu thế
Khoảng cách thời gian giữa các đợt La Nina tới El Nino
0 5 10 15 20 25
19
1 19 19
8 19
5 19
8 19
1 19
4 19
7 19
6 19
9 19
6 19 /99/00 20
8
Năm
Đường xu thế
Hình 4 Khoảng cách (số tháng) giữa các đợt El Nino tới La Nina (a), La Nina tới El Nino (b)
giai đoạn 1950-2010 và xu thế tuyến tính
Trong thực tế phần lớn kế tiếp sau mỗi đợt
El Nino là đợt La Nina và cũng như vậy đối với
sau mỗi đợt El Nino là đợt La Nina Khoảng
cách thời gian giữa các đợt từ El Nino tới La
Nina và El Nino tới La Nina càng ngày càng xa
hơn trong giai đoạn 1950-2010, nhận định này
được thể hiện qua xu thế tuyến tính trên Hình
4a,b với mức tăng trung bình nhỏ khoảng dưới
một tháng Tuy nhiên, nhận định trên đơn thuần
trên cơ sở định tính Khoảng cách thời gian
giữa các đợt ENSO nói chung không phân biệt
El Nino và La Nina giai đoạn 1950-2010 được
mô tả trên Hình 5 Khoảng cách dài nhất giữa
các đợt ENSO đều ở nửa cuối giai đoạn, vào
sau đợt của những năm 1977, 1992 và 2003, và
tương ứng là 63, 38, 51 tháng Tuy nhiên vào nửa đầu giai đoạn, khoảng cách giữa hại đợt sau năm 1958 đạt cực đại khoảng 63 tháng, nhưng đây cũng là khoảng cách dài duy nhất trong toàn bộ nửa đầu giai đoạn, trong toàn bộ giai đoạn khoảng cách giữa các đợt ENSO đạt cực tiểu vào khoảng giữa sau đợt của những năm
1973, 1976 và kéo dài cùng 1 tháng Quan hệ giữa khoảng cách giữa các đợt ENSO và các đợt ENSO chưa được rõ, tuy nhiên nhận xét định tính theo đường xu thế cho thấy khoảng cách giữa các đợt ENSO ngày càng tăng, hay có
vẻ rằng hiện tượng ENSO càng ngày càng ít hơn, tuy với mức độ chậm
Trang 6Khoảng cách thời gian giữa các đợt ENSO
0
10
20
30
40
50
60
70
19
/195
1
19
19
/195
8
19
/196
5
19
/196 8 19 /197 1 19 /197 4 19 /197 7 19 /198 6 19 /198 9 19 /199 6 19 /9 00 20 /200 8 20 /
Năm
Thời gian Đường xu thế
Hình 5 Khoảng cách giữa các đợt ENSO giai đoạn
1950-2010 và xu thế tuyến tính
Xu thế cường độ các đợt ENSO giai đoạn 1950
– 2010
Cường độ các đợt El Nino
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
19 19
19
/195
8
19
19
/196
6 19 /70 19 /197 3 19 /197 7 19 /198 3 19 /888 19 /199 2 19 /199 8 20 /200 3 20 /201 0
Năm
0 C)
Cường độ Đường xu thế
(a)
Cường độ các đợt La Nina
-2.5
-2
-1.5
-1
-0.5
0
19
/195
1
19
/556
19
/196
5
19
/196
8 19 /197 1 19 /197 4 19 /776 19 /198 6 19 /198 9 19 /199 6 19 /900 20 /200 8
Năm
0 C)
Cường độ Đường xu thế
(b) Hình 6 Cường độ các đợt El Nino (a), La Nina (b)
giai đoạn 1950-2010 và xu thế tuyến tính
Cường độ ENSO được xác định theo giá trị
dị thường nhiệt độ mặt nước biển vùng Nino3 Trên hình 6a,b, đồ thị mô tả cường độ các đợt
El Nino và La Nina giai đoạn 1950-2010 Các đợt El Nino có cường độ mạnh nhất đều nằm ở nửa cuối giai đoạn vào những năm 1972, 1982,
1997 với dị thường nhiệt độ mặt nước biển tương ứng 2,4; 3,3; 3,7oC Các đợt El Nino có cường độ yếu nhất đều ở nửa đầu giai đoạn vào những năm 1951, 1953, 1963 với dị thường nhiệt độ mặt nước biển tương ứng 1,0; 0,8; 0,9oC El Nino càng ngày càng mạnh hơn (trong giai đoạn 1950-2010), điều này được thế hiện qua xu thế cường độ tăng Mức độ tăng cường
độ tương đối nhanh, trung bình khoảng gần 0,1oC sau mỗi đợt Đối với La Nina, các đợt có cường độ mạnh nhất đa phần đều ở nửa đầu giai đoạn, như đợt năm 1954 giá trị dị thường nhiệt
độ mặt nước biển đạt cực tiểu là -2,3oC Đợt La Nina yếu nhất bắt đầu vào năm 1998 với dị thường nhiệt độ mặt nước biển -0,8 oC nằm ở gần cuối giai đoạn Xu thế cường độ La Nina giảm, tuy nhiên xu thế giảm này không thật rõ rệt So sánh giữa El Nino và La Nina, cường độ giữa các đợt La Nina chênh lệch ít hơn
Như trên đã nói, ngưỡng giá trị dị thường nhiệt độ mặt nước biển của vùng Nino3 đối với
El Nino và La Nina mạnh là +1,5 và -1,5oC Xu thế cường độ El Nino mạnh tăng, và với mức
độ tương đối nhanh, trung bình khoảng 0,13oC sau mỗi đợt (Hình 7a) Xu thế cường độ La Nina mạnh giảm, và với mức độ tương đối chậm, trung bình khoảng 0,02 oC sau mỗi đợt (Hình 7b), tuy nhiên cũng như với trường hợp cường độ các đợt La Nina nói chung, xu thế giảm chưa thật rõ rệt So sánh giữa El Nino và
La Nina mạnh cho thấy: Cường độ các đợt El Nino mạnh dao động lớn hơn (0,8 ÷ 3,7 oC), đối với La Nina (-2,3 ÷ -1,7 oC) Trong toàn bộ giai đoạn số các đợt La Nina mạnh nhiều hơn El Nino
Trang 7a) b)
Cường độ các đợt El Nino
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
19
/195
8
19
/196
6
19
/197 3 19 /198 3 19 /8 88 19 /199 8 20 /201 0
Năm
0 C)
Cường độ Đường xu thế
Cường độ các đợt La Nina mạnh
-2.5 -2 -1.5 -1 -0.5 0
19 /195 1 19 /556 19 /196 5 19 /197 1 19 /197 4 19 /776 19 /198 9 19 /900 20 /200 8
Năm
0 C)
Cường độ Đường xu thế
Hình 7 Cường độ các đợt El Nino (a), La Nina (b) mạnh giai đoạn 1950-2010 và xu thế tuyến tính
4 Kết luận
ENSO có biến động rõ ràng đối với một loạt
các đặc trưng: tần suất các đợt, thời gian kéo
dài, cường độ….Trong khuôn khổ nghiên cứu
chưa thể kết luận một cách chính xác liệu biến
đổi khí hậu có tác động tới ENSO hay không
Với những tính toán ban đầu đối với một số đặc
trưng ENSO trong giai đoạn 1950-2010, có thể
rút ra một số kết luận sau:
Toàn bộ giai đoạn có 14 đợt El Nino và
13 đợt La Nina, trong đó 7 đợt El Nino mạnh và
9 đợt La Nina mạnh
Xu thế các đợt El Nino càng ngày càng
dài hơn Xu thế kéo dài các đợt La Nina giảm
với mức chậm, tuy nhiên xu thế giảm chậm này
không được rõ rệt
Tuy không thật rõ rệt, nhưng nhận xét
định tính cho thấy xu thế khoảng cách giữa các
đợt ENSO tăng Xu thế khoảng cách giữa các
đợt ENSO tăng cùng với nhận định xu thế độ
dài các đợt El Nino tăng nhanh và xu thế độ dài
các đợt La Nina tăng, giảm không rõ rệt có thể
thấy rằng hiện tượng ENSO càng ngày càng ít
hơn
El Nino càng ngày càng mạnh hơn Xu
thế cường độ La Nina giảm Xu thế cường độ
El Nino mạnh tăng, và với mức độ tương đối
nhanh Xu thế cường độ La Nina mạnh giảm, và
với mức độ tương đối chậm Tuy nhiên đối với
cả hai trường hợp cường độ các đợt La Nina nói chung và mạnh xu thế giảm chưa thật rõ rệt Cường độ các đợt El Nino mạnh dao động lớn hơn La Nina
Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của
đề tài QG-10-13
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Đức Ngữ, ENSO và hạn hán ở các tỉnh
ven biển miền Trung và Tây Nguyên, Tạp chí Khí tượng Thủy văn, Số 530 (2005) 1
[2] Đặng Trần Duy, Chỉ số thống kê xác định các kỳ
El Nino và La Nina, Tạp chí Khí tượng Thủy văn
Số 460 (1999) 15
[3] Nguyễn Đức Ngữ, Ảnh hưởng của ENSO đến
các cực trị nhiệt độ ở Việt Nam, Tạp chí Khí tượng Thủy văn, Số 538 (2005) 1
[4] Nguyễn Đức Ngữ, Tác động của ENSO đến thời tiết, khí hậu, môi trường và kinh tế- xã hội ở Việt Nam”, Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa
học độc lập cấp Nhà nước về ENSO Hà Nội,
2002
[5] Liew Juneng, Fredolin T Tangang, “Evolution
of ENSO-related rainfall anomalies in Southeast Asia region and its relationship with atmosphere-ocean varitions in Indo-Pacific
sector”, Climate Dinamics No 25 (2005) 337
Trang 8Variability Trend of some characteristics of ENSO
Tran Quang Duc
Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, Hanoi University of Science, VNU,
334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
This study investigates the ENSO variability during the period from 1950 to 2010 under the context of global warming Basing on the sea surface temperature data of the Nino 3 region, trends and variability amplitudes of some ENSO characteristics were analyzed Preliminary results show that there is insignificant relationship between global warming and ENSO variability On the other hand, although the study period is rather short but it is shown that ENSO was varying in frequency, length and intensity Concretely, the El Nino duration is increasingly longer The number of ENSO events is decreasing while the El Nino intensity is stronger
Keywords: ENSO, trend, anormaly, sea suface temperature