Cách tiếp cận áp dụng ở đây là xem xét mối quan hệ qua lại giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp và phân tích bản chất vai trò của nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng kinh tế.[3
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Quỳnh Phương
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn
Triệu Thị Ngọc
Trang 3thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa lí - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các phòng ban, phòng quản lí, phòng Đào tạo Sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
ch tôi trong quá trình học tập nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí thường trực huyện ủy, các phòng ban, phòng thống kê, UBND huyện Yên Thế, tỉnh bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi những tư liệu hết sức cần thiết để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn
bè đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017 Tác giả luận văn
Triệu Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Giới hạn nghiên cứu 7
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
6.2 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của luận văn 10
8 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Một số khái niệm 11
1.1.2.Vai trò của sản xuất nông nghiệp 14
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 17
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp 20
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Vài nét về phát triển nông nghiệp Trung du và miền núi Bắc Bộ 27
1.2.2 Khái quát về thực trạng phát triển nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang 30
Tiểu kết chương 1 31
Trang 5Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG 32
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 32
2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 32
2.1.2 Tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 35
2.1.3 Kinh tế - xã hội 40
2.1.4 Đánh giá chung 47
2.2 Hiện trạng phát triển các ngành nông nghiệp của huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang 48
2.2.1 Khái quát chung 49
2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành nông nghiệp của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 52
2.2.3 Sự phân hóa lãnh thổ huyện Yên Thế 77
2.2.4 Đánh giá chung 79
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 81
3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 81
3.1.1 Các quan điểm phát triển 81
3.1.2 Mục tiêu phát triển 81
3.1.3 Định hướng phát triển 83
3.2 Những giải pháp cơ bản 83
3.2.1 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 83
3.2.2 Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư 86
3.2.3 Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống 88
3.2.4 Mở rộng thị trường 90
3.2.5 Phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái 90
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Dân số trung bình huyện Yên Thế phân theo thành thị và nông thôn giai đoạn 2005 - 2015 40 Bảng 2.2: Tỉ suất sinh, tỉ suất tử, tỉ lệ gia tăng tự nhiên huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 41 Bảng 2.3: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành huyện Yên Thếgiai đoạn 2005 - 2015 49 Bảng 2.4: Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành trên địa bàn huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 49 Bảng 2.5:Giá trị thủy sản huyện Yên Thế theo giá hiện hành giai đoạn 2005 -
2015 50 Bảng 2.6: GTSX và cơ cấu GTSX nông - lâm - thủy sản của huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 53 Bảng 2.7: Sản xuất lương thực có hạt huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 54 Bảng 2.8: Năng suất và sản lượng lúa cả năm của huyện Yên Thế giai đoạn
2005 - 2015 56 Bảng 2.9: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa chia theo xã, thị trấn của huyện Yên Thế năm 2015 57 Bảng 2.10: Diệntích, năng suất, sản lượng ngô cả năm của huyện yên Thếphân theo xã, thị trấn giai đoạn 2005 - 2015giai đoạn 2005 - 2015 59 Bảng 2.12: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Yên Thế giai đoạn
2011 - 2015 60 Bảng 2.13: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây hàng nămcủa huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 61 Bảng 2.14: Diện tích, sản lượng một số cây lâu năm huyện Yên Thế giai đoạn
2005 - 2015 62 Bảng 2.15: Diện tích gieo trồng cây lâu năm và cây ăn quả theo xã, thị trấn của huyện Yên Thế năm 2015 63 Bảng 2.16: Số lượng và sản lượng gia súc - gia cầm huyện Yên Thế giai đoạn
2005 - 2015 67 Bảng 2.17: Cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản huyện Yên Thế giai đoạn 2005 -
2015 70 Bảng 2.18: Sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu, tình hình giao đất, giao rừng và diện tích rừng bị hại của huyện Yên Thế 2005 - 2015 74
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang 34 Hình 2.2: Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành của huyện Yên Thế giao đoạn 2005 - 2015 51 Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện diện tích lúa hàng năm huyện Yên Thế giai đoạn
2005 – 2015 55 Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện giá trị sản xuất dich vụ nông nghiệp huyện Yên Thế giai đoạn 2005 - 2015 68 Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện GTSX lâm nghiệp huyện Yên Thế giai đoạn 2005 -
2015 73 Hình 2.6 Bản đồ hiện trạng phân bố nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang năm 2015 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay Việt Nam đang trên đà phát triển hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hiện đại hóa vào năm 2020, chính vì vậy cần có những chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn toàn diện trên cả nước cũng như ở các địa phương
Trong số các tỉnh thành của Việt Nam, Bắc Giang là một trong những tỉnh
có xuất phát điểm từ nông nghiệp Tỉnh có địa hình khá độc đáo chia thành miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Địa hình miền núi chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn, nhiều vùng có đất đai tốt Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như: vải thiều, cam, chanh, na, hồng, chè, đậu tương, lạc , thuận tiện để chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy từng khu vực Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác Tuy tỉnh đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nhưng nông nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho người lao động ở nông thôn, đặc biệt là nông dân nghèo miền núi, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở vùng trung du và miền núi
Yên Thế có địa hình đồi núi trung du, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, giáp giới với hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn Diện tích tự nhiên là 301,3 km2 Dân số trên địa bàn huyện có trên 102.574 người (2013), nông thôn 86.549 người (chiếm 90,15%) Huyện có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, rau màu và các loại cây công nghiệp Đặc biệt địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các loại cây trồng và vật nuôi như việc chăn nuôi gia cầm tạo nên thương hiệu gà đồi Yên Thế, hay đặc sản nổi tiếng Cam sành Bố Hạ,…
Trang 10Tuy nhiên để có thể quy hoạch phát triển kinh tế bền vững, phát huy được thế mạnh của huyện, cần có những nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc định hướ ng phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm nông - lâm nghiệp, đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện hóa nông nghiệp nông thôn, đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội của huyện Chính
vì vậy tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 – 2015” nhằm góp phần khai thác tốt các tiềm
năng sẵn có của huyện phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của khu vực nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Trên thế giới
Trên thế giới có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học về nông nghiệp, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Lý thuyết của David Ricardo (một nhà kinh tế học người Anh) cho rằng
do quy luật màu mở đất đai ngày càng giảm, giá cả nông sản tăng lên làm cho tiền lương công nhân tăng và địa tô tăng lên, còn lợi nhuận không tăng Như vậy, địa chủ là người có lợi, công nhân không được lợi và cũng không bị hại còn nhà
tư bản bị thiệt do tỷ suất lợi nhuận giảm.[33]
“Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis”, nhà kinh tế học người Mỹ Đặc
trưng chủ yếu của mô hình hai khu vực cổ điển là phân chia nền kinh tế thành hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp và nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực Khu vực nông nghiệp, có lao động dư thừa dần dần được chuyển sang khu vực công nghiệp Sự phát triển của khu vực công nghiệp quyết định quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thu hút lao động dư thừa do khu vực nông nghiệp tạo nên, và khả năng đó lại phụ thuộc vào tốc độ tích lũy vốn của khu vực công nghiệp.[36]
Lý thuyết “ Tăng trưởng kinh tế châu Á gió mùa” của Harry T Oshima,
nhà kinh tế học Nhật Bản Ông cho rằng nên: giữ nguyên lao động nông nghiệp, song phải tạo nhiều việc là trong những thời gian nhàn rỗi (tăng vụ, đa dạng hóa
Trang 11vật nuôi cây trồng, mở mang nhiều ngành nghề mới tăng thu nhập) Thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp: xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất (điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc,…), phát triển công nghiệp chế biến và cơ sở hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa) cho nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động, thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc năng suất lao động cao Từ đó sẽ cải thiện đời sống nông dân, văn minh hóa nông thôn,
hỗ trợ tạo động lực phát triển công nghiệp làm cho kinh tế tăng trưởng, tránh được sức ép về nhiều mặt đối với đô thị.[34]
Lý thuyết Phát triển cân đối của R Nurkse: Ông cho rằng cần đầu tư vốn
đồng bộ để phát triển rộng rãi các ngành khác nhau, bởi đây là cách duy nhất để tránh khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói R Nurkse quan tâm đến vấn đề tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người bằng cách tạo ra những chuyển biến để thoát khỏi nông nghiệp, là khu vực thu hút quá nhiều nhân công Lao động dư thừa cần phải được chuyển khỏi nông nghiệp.[35]
Bài viết về “Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế” của Bruce
F Johnston và John W Mellor Bài báo này xem xét những vấn đề vẫn thường được thảo luận về sự phân đôi sai lầm giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp Cách tiếp cận áp dụng ở đây là xem xét mối quan hệ qua lại giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp và phân tích bản chất vai trò của nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng kinh tế.[32]
Dự án “Trang trại nổi khổng lồ trồng rau nuôi cá trên mặt nước” – 2015,
do các kiến trúc sư Tây Ban Nha thiết kế gồm 3 tầng nổi trên mặt nước sử dụng năng lượng mặt trời, có thể sản xuất gần 10 tấn thức ăn mỗi năm, giúp đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của thế giới, không sử dụng nước ngọt, mà lọc nước biển để tưới cho cây trồng phía trên, trong khi cá được nuôi ở bên dưới, tạo thành hệ thống bền vững có thể sản xuất phần lớn các loại thực phẩm cho bữa ăn lành mạnh.[37]
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có nhiều đề tài, bài viết và các công trình nghiên cứu về nông nghiệp khác nhau trên cả nước, tiêu biểu như:
Trang 12“Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình
công nghiệp hóa” (2008) của tác giả Đặng Kim Sơn – Nhà xuất bản chính trị
quốc gia Cuốn sách này đã tìm hiểu các kinh nghiệm đi lên công nghiệp hóa ở Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc Tác giả đã tổng hợp, phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước trên thế giới, và liên hệ với những vấn đề có tính thời
sự của Việt Nam như đất đai, lao động, môi trường, Đây cũng chính là những vấn đề Việt Nam đang lúng túng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Bài viết “Cách tiếp cận về phát triển nông nghiệp và nông thôn trên thế
giới” của ThS Trần Thị Thu Hương Bài viết đăng trên bản tin số 28 Viện Khoa
học Lao động và Xã hội Trong bài viết tác giả nghiên cứu đưa ra một số mô hình được áp dụng trong nông nghiệp trên thế giới như: mô hình nông trang quy mô nhỏ, mô hình nông thôn mới, mô hình ngoại sinh, mô hình nội sinh mà Việt Nam nên áp dụng Trên thế giới mặc dù ngành nông nghiệp không còn là ngành đứng đầu trong đóng góp vào giá trị tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia và cũng không phải là ngành đứng đầu trong thu hút lực lượng lao động, song vai trò của nông nghiệp trong việc đảm bảo an ninh lương thực của từng quốc gia, trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái, môi trường là hết sức quan trọng
Bài viết “Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới”
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay,
từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam như các mô hình: Mỹ phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”, Nhật Bản “mỗi làng một sản phẩm”, Hàn Quốc có phong trào Làng mới, Thái Lan có sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước Các mô hình này đều hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn mới do chính nông dân làm chủ phát huy
Trang 13được tiềm năng, lợi thế một cách tốt nhất, hiện đại hóa nông thôn, giảm bớt gánh nặng cho công nghiệp và cũng thúc đẩy công nghiệp phát triển
Đề tài nghiên cứu của Trường Đại học Nông lâm Huế về việc “Khảo
nghiệm một số giống sắn có triển vọng và xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp trên các vùng sinh thái của tỉnh Thừa Thiên Huế” Xác định được một
số giống sắn có triển vọng thích ứng với các vùng sinh thái nhằm phát triển bền vững vùng nguyên liệu sản xuất tinh bột và xây dựng được quy trình kỹ thuật thâm canh sắn bền vững theo các vùng sinh thái chính cho các giống sắn mới được bổ sung
Ngoài ra còn có các công trình được nghiên cứu và áp dụng thực tiễn như
công trình: “Lai tạo, chọn lọc các giống lúa mới phù hợp với điều kiện tự nhiên
và tập quán canh tác của địa phương và khu vực” của Kỹ sư Trần Minh Chánh,
Bình Thuận đã được áp dụng và phát triển mạnh ở một số tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên từ những năm 90 đến nay, góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lúa hàng năm và nâng cao đời sống nông dân trong vùng
2.3 Ở tỉnh Bắc Giang
Đối với tỉnh Bắc Giang có khá nhiều báo cáo, dự án và đề tài nghiên cứu
về nông nghiệp như: Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn và chất lượng cao
tại tỉnh Bắc Giang - Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, 2007; Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn chất lượng cao tại tỉnh Bắc Giang - Trung tâm Ứng
dụng tiến bộ KH&CN, 2008; Xây dựng mô hình vườn cây mẹ trên cơ sở những
giống cây ăn quả đã được bình tuyển nhằm cung cấp mắt ghép cho các vườn nhân giống tại Bắc Giang – Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009; Thực trạng và hiệu quả nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2006- 2009 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay trong thời gian tới - Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh tỉnh Bắc Giang,
2010; Thực trạng và giải pháp thúc đẩy nhân rộng các mô hình kinh tế trang
trại, mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao trên địa bàn tỉnh
Trang 14Bắc Giang – Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang, 2010; Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng, chống bệnh Tai xanh ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang – Chi cục Thú y, 2011; Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh liên cầu khuẩn (Streptococ cosis) ở cá Rô phi đơn tính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và
đề xuất các biện pháp trị bệnh - Chi cục Thủy sản Bắc Giang, 2012
Những đề tài này phân tích rõ về tình trạng, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và đề ra những giải pháp hiệu quả trong từng vấn đề nghiên cứu
Còn đối với huyện Yên Thế cũng có các vấn đề nghiên cứu cụ thể nhằm tìm ra một hướng đi mới hiệu quả hơn, tận dụng được các lợi thế của vùng để
phát triển, có các đề nghiên cứu: Sản xuất giống gà Mía lai, Ri lai nuôi thả đồi
tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang – Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011 Nội
dung đề tài là điều tra đánh giá thực trạng chăn nuôi gà, nguồn giống và lập bảng
kê khai các giống gà hiện nuôi tại huyện Yên Thế Xác định các giống gà chất lượng (ngoài 2 giống gà Mía lai và Ri lai nuôi tại Yên Thế) Xây dựng mô hình nuôi khảo nghiệm các giống gà chất lượng đã xác định Theo dõi, đánh giá đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng, phát triển, khả năng thích ghi, sức đề kháng, tiêu tốn thức ăn…hiệu quả kinh tế của các giống gà;
Dự án “Ứng dụng khoa học và công nghệ xây dựng vườn giống cam sạch
bệnh tại tỉnh Bắc Giang” của UBND huyện Yên Thế do Phòng Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn huyện Yên Thế phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiê ̣p, Trung tâm Nghiên cứ u và Phát triển Cây có múi, Trường Đại Học Nông lâm Bắc Giang triển khai thực hiện dự án, 2014 Dự án đã từng bước khôi phục mở rộng
diện tích cây cam trên địa bàn huyện
3 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về phát triển nông nghiệp, đề tài tâ ̣p trung nghiên cứu nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, bao gồm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng phát triển và đề xuất các giải pháp cụ thể phát triển nông nghiệp hiệu quả và bền vững
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15- Hệ thống hóa những vấn đề lý luâ ̣n và thực tiễn về đi ̣a lý nông nghiê ̣p để làm cơ sở vâ ̣n dụng cho nghiên cứu ở huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá các nhân tố (tự nhiên và kinh tế - xã hô ̣i) ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
- Phân tích hiện tra ̣ng phát triển và phân bố nông nghiê ̣p huyện Yên Thế
tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy sản xuất nông nghiê ̣p của đi ̣a phương, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa hiê ̣n nay, phát triển bền vững nền kinh tế nông nghiệp của huyện
5 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung đánh giá các nguồn lực, phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế theo ngành và một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Về lãnh thổ: Toàn bộ huyện Yên Thế (2 thị trấn và 19 xã), tập trung và đi sâu tới cấp xã, có sự so sánh với một số huyện trong tỉnh Bắc Giang
- Về thời gian: Số liệu phân tích được thức hiện trong khoảng thời gian từ
2005 – 2015, định hướng trong thời gian tới
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống làm đề tài trở nên lôgic, thông suốt và sâu sắc Trong
đề tài này việc nghiên cứu hiện trạng và phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Yên Thế được đặt trong vấn đề phát triển kinh tế của cả tỉnh và nhà nước Đồng thời huyện Yên Thế cũng được coi là một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất, trong đó bao gồm các hệ thống con như các cụm xã, các xã Các hệ thống có mối quan hệ tương tác, mật thiết với nhau Vì vậy cần phải tìm hiểu mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hưởng giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống và giữa các
hệ thống với nhau để đánh giá chính xác vấn đề nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trang 16Huyện Yên Thế là một thể tổng hợp bao gồm các yếu tố tự nhiên, kinh tế
- xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau Quan điểm tổng hợp thể hiện rõ việc xem xét hiện trạng phát triển kinh tế trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội
Mọi sự vật hiện tượng Địa lý đều tồn tại và phát triển trong một không gian và lãnh thổ nhất định Khi nghiên cứu phải tìm hiểu sự ảnh hưởng của lãnh thổ đến khía cạnh nghiên cứu, tìm ra các quy luật phát triển và đưa ra những định hướng tốt nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng của huyện Đặc biệt chú ý đến sự khác biệt lãnh thổ trong quá trình phát triển kinh tế Các khu vực khác nhau , kết hợp sự phân hóa không gian, cũng như việc tổ chức hợp lí quá trình sản xuất sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Vận dụng quan điểm lịch sử, viễn cảnh vào nghiên cứu phát triển kinh
tế nông nghiệp huyện Yên Thế để thấy được sự biến đổi của các yếu tố kinh tế trong từng giai đoạn phát triển và xu hướng chuyển dịch các ngành kinh tế trong huyện Từ đó đánh giá được hiện trạng và dự báo xu hướng phát triển kinh tế trong thời gian tiếp theo
- Quan điểm phát triển bền vững
Những giải pháp cho sự phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên quan điểm bền vững Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu và nhiệm vu ̣ nghiên cứu, cần phải sử dụng các phương pháp cổ truyền cũng như các phương pháp hiện đại mới trong nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu
Để phân tích và đánh giá tình hình phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng của một lãnh thổ, cần phải có thông tin về nhiều khía cạnh khác nhau của các ngành và lãnh thổ Cụ thể trong luận văn này cần phải thu thập, kế
Trang 17thừa các tư liệu, số liệu phân tích, những dữ liệu từ bảng số liệu thống kê, bằng văn bản và dữ liệu không gian (bản đồ) từ nhiều nguồn khác nhau như các báo cáo, các văn kiện, văn bản chính thức, niên giám thống kê và có sự thống nhất
về thời gian
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Trên cơ sở những dữ liệu đã thu thập, bằn phương pháp phân tích tổng hợp phân tích tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp, những yếu tố ảnh hưởng, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và từ đó tìm ra những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế
- Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp phổ biến dùng để so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính, so sánh các mối quan hệ không gian và thời gian giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là mối quan hệ về tư nhiên và nhân văn, so sánh phân tích các chỉ tiêu, các hoạt động kinh tế nông nghiệp đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự để xác định mức độ biến động các chỉ tiêu Trên cơ
sở đó rút ra bản chất của các hiện tượng kinh tế, hiện tượng địa lý và xây dựng
mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí
- Phương pháp thống kê toán học
Từ những số liệu đã thu thập, sử dụng phương pháp thống kê toán học để
xử lý số liệu, tính toán các chỉ số phát triển, tính tỉ trọng các ngành so với tổng thể, so sánh, đánh giá để thấy được vị trí và sự chuyển biến của nền nông nghiệp Yên Thế trong thời kì công nghiệp hóa
- Phương pháp dự báo
Dự báo là những luận điểm có căn cứ khoa học trên cơ sở những nguyên nhân, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng mà từ đó dự báo những tình huống và xu thế có thể xảy ra trạng thái khả dĩ của đối tượng trong tương lai
và các con đường, các biện pháp cũng như thời hạn để đạt tới trạng thái tương lai đó Dự báo là sự phản ánh trước, phản ánh đón đầu hiện thực, nó thể hiện tư tưởng tiên phong, tiến bộ của tư tưởng tiến bộ khoa học
- Phương pháp thực địa
Trang 18Đây là phương pháp để kiểm tra lại mức độ chính xác của các số liệu đã thu thập, trên cơ sở khảo sát, tìm hiểu trực tiếp các cơ sở sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã, các cụm sản xuất, trang trại trên địa bàn huyện Phỏng vấn một số cán bộ địa phương, hộ nông dân, các hộ sản xuất về các lĩnh vực lien quan đến
đề tài.Từ đó thu thập thêm những thông tin, tích lũy thêm hiểu biết về địa phương
để từ đó đề xuất những giả pháp
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ và sử dụng công nghệ GIS
Biểu đồ: là phương pháp được sử dụng để phản ánh quy mô, cơ cấu, hiện trạng và sự biến động kinh tế theo ngành, thành phần kinh tế theo lãnh thổ Bản đồ: phản ánh sự phận bố không gian, các mối liên hệ của các đối tượng địa lý kinh tế theo lãnh thổ
Sử dụng công nghệ GIS: để số hóa và vẽ bản đồ, biểu đồ một cách chính xác mang tính khoa học cao
7 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp của huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, đánh giá được những thành tựu và hạn chế trong thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện trong hơn 10 năm trở lại đây
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết quả nghiên cứu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn về phát triển nông nghiệp
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG
Trang 19Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai
để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[9]
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc
sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách
để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến
Trang 20từ ngũ cốc hay vật nuôi [9]
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine )
b Nông nghiệp sinh thái
Nông nghiệp sinh thái là loại hình nông nghiệp mới tuân theo nguyên lý
sinh thái học và kinh tế học Nó vận dụng phương pháp hệ thống hiện đại, lợi dụng mối quan hệ tương sinh, tương khắc giữa các loài, xây dựng nên một hệ thống sinh thái nông nghiệp có thể tự duy trì, đầu vào ít, sản lượng cao
Nông nghiệp sinh thái là tiến hành sản xuất nông nghiệp dựa trên các kết quả khoa học sinh thái (Ecology) Khoa học sinh thái nghiên cứu các mối quan hệ giữa các loài sinh vật với môi trường sống của chúng, bao gồm cả các yếu tố vô sinh (đất, nước, khí tượng, thủy văn,…) và các yếu tố sinh vật (các loài sâu bệnh hại cây, các loài sinh vật khác).[4]
Nông nghiệp sinh thái là một bộ phận của nông nghiệp xanh Nó là một phần của Tăng trưởng xanh và cũng là một bộ phận của nội dung phát triển nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp sinh thái khác với nông nghiệp công nghiệp hóa việc hạn chế
sử dụng năng lượng hóa thạch, hạn chế các chất hóa học (phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật v.v.) Nông nghiệp sinh thái không chú trọng nhiều đến việc cơ giới hóa nông nghiệp, mà chú ý nhiều đến việc sử dụng các quy luật sinh học, sinh thái trong việc tiến hành các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp Nhiều người cho rằng nông nghiệp sinh thái ít gây ra những tác động mạnh mẽ, thô bạo lên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường, hạn chế phát thải khí nhà kính, nhất
Trang 21là khí CO2 Vì vậy, nông nghiệp sinh thái có nhiều mặt tích cực trong việc bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trýờng
Nông nghiệp sinh thái chú trọng trước hết đến việc phát huy các đặc tính tốt của các giống cây trồng Các giống cây trồng phần lớn là các giống đã được chọn lọc hoặc lai tạo ra, nên thường có nhiều đặc tính tốt, đặc biệt là đặc tính cho năng suất cây trồng cao
Nông nghiệp sinh thái chủ trương các biện pháp làm đất, gieo trồng, xới xáo làm cỏ, chăm sóc, bón phân, tưới nước… không gây ra những tác động sâu sắc và mạnh mẽ lên đất đai, nguồn nước và toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp Nông nghiệp sinh thái tìm hiểu, nắm bắt và vận dụng tốt các quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của các hệ sinh thái nông nghiệp
Nông nghiệp sinh thái chú trọng vào việc sử dụng các loài sinh vật có ích trong các hệ sinh thái nông nghiệp trong việc phòng trừ sâu bệnh hại cây và các tác hại của chúng Người ta sử dụng quy luật đấu tranh sinh học, loài sinh vật này lấy loài khác làm thức ăn, để tập hợp và thúc đẩy các loài sinh vật khác lấy sâu bệnh hại cây làm thức ăn, phát huy chúng làm cho chúng ngãn chặn sự phát triển của các loài gây hại Trong đấu tranh sinh học, nông nghiệp sinh thái sử dụng các loài ong ký sinh, nhện bắt mồi, mà người ta gọi là các loài thiên địch
để hạn chế sâu bệnh hại cây trồng.[18]
c Nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, như: nông học, sinh thái học, xã hội học… Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó đáng quan tâm là định nghĩa của
tổ chức sinh thái và môi trường thế giới (WORD) bởi tính tổng hợp và khái quát cao: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Điều đó
có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau, cũng có ý kiến cho rằng sự bền vững của hệ thống nông nghiệp
Trang 22là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái Như vậy, nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là: đảm bảo nhu cầu nông sản của loài người hiện nay và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, bao gồm gìn giữ được quĩ đất, quỹ nước, quỹ rừng, không khí và khí quyền, tính đa dạng sinh học … Xây dựng nền nông nghiệp bền vững
là việc làm cấp thiết và là xu hướng tất yếu của tiến trình phát triển.[4]
Tài nguyên nông nghiệp chủ yếu là đất đai Nó vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp bền vững
là quản lý tốt đất đai: sử dụng hợp lý, bảo vệ và không ngừng bồi dưỡng đất đai, làm cho đất đai ngày càng màu mỡ
Thực hiện tốt nông nghiệp sinh thái học nhằm đảm bảo việc sử dụng đất bền vững, ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa lớn, cường độ mưa cao, nắng nhiều, cường độ ánh sáng lớn, phải lựa chọn những mô hình nông nghiệp sinh thái thích hợp, nhất là vùng trung du Các vườn cây, đồi cây nên sử dụng các tầng sinh thái, bao gồm cây cao ưa ánh sáng trực xạ ở tầng trên, tầng dưới là những cây cao ưa ánh sáng tán xạ và tầng thấp dưới cùng là cây ưa bóng râm
Có rất nhiều mô hình nông nghiệp sinh thái nhiều tầng này, như: mô hình cao su, quế ở tầng cao, ca cao, cà phê ở tầng giữa và rừng cây bụi ở sát đất Trong vườn
có mít ở tầng cao, tiêu ở tầng giữa, dưa ở tầng thấp … Như vậy nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái, kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.[9]
1.1.2.Vai trò của sản xuất nông nghiệp
a Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng
Trang 23tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.[22]
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về
số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người
Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn
b Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị
Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…[18]
Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh
tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây
là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu
tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng
c Nông nghiệp tạo ra nhiều việc làm, thu hút lao động, đồng thời cung cấp lao động cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các ngành kinh tế khác
Trang 24Những mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại đang thu hút được một lực lượng lớn lao động tham gia, đặc biệt là các lao động trẻ Những mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, nông nghiệp công nghệ xanh, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại của những nền nông nghiệp hàng đầu trên thế giới Tại những nhà máy nông nghiệp hiện đại, người lao động được huấn luyện, đào tạo thường xuyên để có được tác phong làm việc chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.[15]
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ tác động mạnh đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khoa học, công nghệ trực tiếp giúp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh đó nông thôn cung cấp một nguồn lao động lớn cho các ngành kinh tế khác Phần lớn lao động nông thôn vẫn mang tính thời vụ, sau thời gian thu hoạch mùa vụ là một thời gian dài thất nghiệp nên họ bắt đầu tràn ra các thành phố lớn tìm kiếm việc làm Nhờ đó mà giải quyết được phần lớn vấn đề việc làm và lao động do thừa lao động nông thôn và thiếu lao động ở thành thị, nâng cao thu nhập, cải thiện nhu cầu trong cuộc sống
d Nông nghiệp cung cấp nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại
tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị.[22]
Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn vốn và ngoại tệ đáng kể cho đất nước
e Nông nghiệp và nông thôn là thị trường lớn của các ngành kinh tế khác
Trang 25Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
f Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Nước ta hiện nay đang dần chuyển sang cá mô hình sinh thái nông nghiệp hiện đại Bên cạnh việc áp dụng có chọn lọc, cân nhắc những tiến bộ của nền nông nghiệp tiên tiến, cần thiết phải mô phỏng theo kiểu của hệ sinh thái rừng tự nhiên; thực hiện đa dạng sinh học (trồng nhiều loại cây khác nhau, luân canh, xen canh, lai tạo giống mới, trồng theo phương thức nông - lâm kết hợp, bảo tồn
và giữ gìn các giống vật khác loài); nuôi dưỡng đất cho đất sống (thường xuyên bón phân hữu cơ, che phủ mặt đất để chống xói món, rữa trôi, tìm biện pháp khử các yếu tố gây hư hại); đảm bảo tái sinh vật chất tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thành phần và tác nhân của hệ sinh thái nông nghiệp; cấu tạo cây trồng theo cấu trúc nhiều tầng [18]
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồn nước Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi
và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Trang 26a Sản xuất nông nghiệp coi đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong công nghiệp, giao thông … đất đai
là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông … để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa
có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình
sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn
vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.[9]
b Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, cơ thể sống
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng.[4]
Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
Trang 27c Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó
Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng – loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi
Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời
vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu … Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công
cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn.[22]
d Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ
Trang 28ẩm, ánh sáng … trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và
sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế –
kỹ thuật sau đây[9]:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp
- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp
b Tự nhiên
- Địa hình
Địa hình ảnh hưởng đến quy mô các loại hình nông nghiệp, giá trị, năng suất sản lượng sản phẩm Tùy theo loại địa hình mà chọn loại cây trồng, vật nuôi phù hợp Ở các vùng núi cao thích hợp trồng các loại cây ôn đới, cân nhiệt Ở vùng bán bình nguyên hay trung du phù hợp với các loại cây lương thực thực phẩm, đồng thời kết hợp chăn nuôi các loại gia súc Còn ở đồng bằng chủ yếu là trồng lúa nước và thực phẩm hoa màu theo mùa vụ
- Đất đai
Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở tiến hành trồng trọt và chăn
Trang 29nuôi Quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất, các lại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng lớn đến quy mô và phương hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi mức độ thâm canh và năng suất cây trồng Đất đai không chỉ là môi trường sống
mà còn là nõi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng Những vùng đất đai màu mỡ, phì nhiêu trên thế giới đều là những vùng nông nghiệp trù phú như vùng đất đen có tầng mùn dày, độ phì cao ở vùng ôn đới châu Âu, Bắc Mĩ trở thành vựa lúa mì lớn nhất trên thế giới, những vùng có sản lượng lúa gạo lớn trên thế giới là các vùng phù sa châu thổ sông Mê Công, Trường Giang, sông Hằng, sông Hồng của châu Á gió mùa.[22]
Tài nguyên đất nông nghiệp rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 12% diện tích đất tự nhiên thế giới Xu hướng bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do gia tăng dân số, sói mòn, rửa trôi, do hoang mạc hóa
và chuyển đổi mục đích sử dụng Vì vậy con người phải sử dụng hợp ;í diện tích đất nông nghiệp hiện có, duy trì và nâng cao độ phì cho đất
- Khí hậu
Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió
và những bất thường thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán, có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen canh, tăng
vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp.Tính mùa của khí hậu quy định tính mùa trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.[9]
Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ thích hợp với điều kiện khí hậu nhất định Vượt quá giới hạn cho phép chúng sẽ chậm phát triển và có thể bị chết những vùng dồi dào về nhiệt ẩm và lượng mưa, thời gian chiếu sáng và cường độ bức
xạ có thể cho phép trồng nhiều vụ trong năm với cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng, có khả năng xen canh gối vụ, như vùng nhiệt đới, còn vùng ôn đới với một mùa đông tuyết phủ nên có ít vụ trong năm Trên thế giới hình thành 5 đới trồng trọt chính: đới nhiệt đới, đới cận nhiệt, đới ôn hòa có mùa hè dài và nóng, đới ôn hòa có mùa hè mát và ẩm, đới cận cực phụ thuộc rõ nét vào sự phân bố đới khí hậu
Trang 30-Nguồn nước
Muốn duy trì hoạt động nông nghiệp cần có đầy đủ nguồn nước ngọt cho cây trồng và nước uống cho vật nuôi Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và hiệu quả sản xuất nông nghệp Những nơi có nguồn nước cung cấp dồi dào, thường xuyên đều là những vùng nông nghiệp trù phú Ngược lại nông nghiệp không thể phát triển ở những nơi khan hiếm nước như những vùng hoang mạc, bán hoang mạc,
Do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình nên nguồn nước trên thế giới phân
bố không đều và thay đổi theo mùa Ở nước ta mùa mưa lượng mưa lớn làm dư thừa, đến mùa khô lượng nước lại khan hiếm, điều này gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Để khắc phục tình trạng thiếu nước mùa khô, thừa nước mùa mưa, người ta đã xây dựng các công trình thủy lợi, hồ chứa nước, để phục vụ tưới tiêu Sự suy giảm nguồn nước ngọt là nguy cơ đe dọa sự tồn tại và phát triển của nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế Vì vậy cần phải sử dụng hợp lí, tiết kiệm và bảo về nguồn nước.[18]
-Sinh vật
Sinh vật trong tự nhiên là cơ sở thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi, sự đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật, hay nói cách khác về loài cây, con là tiền đề hình thành và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và tạo
ra khả năng chuyển đổi cơ cấu cây nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên
và sinh thái
Trên thê giới, sản lượng lương thực và các cây công nghiệp quan trọng( cao su, cà phê, ca cao, ) tập trung ở vùng nhiệt đới vì ở đây có gần 10 trung tâm phát sinh giống cây trồng
Các diện tích đồng cỏ, bãi chăn thả và diện tích mặt nước tự nhiên là cơ
sở thức ăn tự nhiên để phát triển chăn nuôi Ngày nay, ngành chăn nuôi được đẩy mạnh nhờ ứng dụng các phương pháp chăn nuôi công nghiệp dựa trên nguồn thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp, nhưng nguồn thức ăn tự nhiên vẫn giữ vai trò quan trọng
Trang 31Những vùng đồng cỏ tươi tốt như ở Hoa Kỳ hay Achentina, Anh, Pháp, nổi tiếng với hướng chuyên môn hóa thịt, sữa bò và các sản phẩm chế biến từ thịt, sữa bò Trong khi đó ở Mông Cổ và các nước Tây Á, trên các vùng đồng cỏ khô cằn chỉ thích hợp cho nuôi dê, cừu, ngựa,
c Kinh tế - xã hội
- Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp dưới hai góc độ: là lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ nông sản.[22]
+ Dưới góc độ là lực sản xuất trực tiếp để tạo ra sản phẩm nông nghiệp,
nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều rộng (mở rộng diện tích, khai hoang, )và theo chiều sâu (thâm canh, tăng vụ, ) Các cây trồng, vật nuôi đời hỏi nhiều công chăm sóc thường được phân bố ở nơi đông dân và nguồn lao động các cây trông, vật nuôi tốn ít công chăm sóc hơn có thể phân bố ở nơi thưa dân
Nguồn lao động không chỉ được xem xét về số lượng mà còn cả về chất lượng như trình độ học vấn, tỉ lệ được đào tạo, tình trạng sức khỏe người lao động, Nếu nguồn lao động đông và tăng nhanh, trình độ học vấn và tay nghề thấp, thiêu việc làm sẽ trở thành gánh nặng cho nông nghiệp và toàn bộ nền kinh
tế
+ Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm tới truyền thống, tập quán
ăn uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm
Chăn nuôi lợn ở các nước Nam Á và Trung Đông không phát triển, các quốc gia Hồi giáo không ăn thịt lợn Ở Ấn Độ, một số nước đa dân tộc và tôn giáo, ngành chăn nuôi bò và lợn bị ảnh hưởng bởi tập quán kiêng ăn thịt bò của người theo đạo Hinđu và người Hồi giáo không ăn thịt lợn
Ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Á - Phi, dân số đông và tăng nhanh Trong cơ cấu nông nghiệp luôn có sự mất cân đối Tỉ trọng chăn nuôi rất nhỏ so với trồng trọt, vì lương thực sản xuất ra chủ yếu dành cho con người
- Khoa học kĩ thuật và công nghệ
Trang 32Khoa học - công nghệ trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nông nghiệp Nhờ nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, con người hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa
Các biện pháp kĩ thuật như điện khí hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, sinh học hóa, nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên một đơn vị diện tích và của một người lao động sẽ được nâng cao
Trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn về năng suất lao động Ở các nước phát triển, bình quan lao động nông nghiệp có thể sản xuất từ 8 đến 14 tấn lương thực, từ 1,5 đến 2 tấn thịt các loại, đủ nuôi sống cho 30 đến 38 người Trong khi đó ở các nước đang phát triển tương ứng chỉ là 1 tấn lương thực, 50 đến 100kg thịt, đủ cho nhu cầu của 2 đến 4 người
- Cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp
Việc cải thiện cơ sở vật chất là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt trong thời đại hiện nay khi mà mọi ngành kinh tế, dịch vụ đều phải hiện đại hóa, nó sẽ tạo một bước tiến mới cho nền nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Các phương tiện máy móc về cơ bản đều đã được cơ giới hóa, nông dân sử dụng máy móc hiện đại, trong các khâu gieo trồng và chăm sóc cũng áp dụng khoa học kĩ thuật làm cho năng suất nông sản tăng lên Nông dân cũng được đào tạo, học nghề, tạo nên nhiều mô hình nông nghiệp mới cùng với phát triển nông nghiệp sinh thái
- Nguồn vốn có vai trò to lớn trong quá trình phát triển và phân bố nông
nghiệp, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Nguồn vốn tăng nhanh, được phânn bố và sử dụng một cách có hiệu quả sẽ tác động đến tăng trưởng và mở rộng sản xuất, đáp ứng các hương trình phá triển nông nghiệp, như nuôi trồng thủy sản, đánh bắt xa bờ, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp,
Trang 33-Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới con
đường phá triển và hình thức tố chức sản xuất nông nghiệp
Chính sách khoán 10 ở Việt Nam từ năm 1988 là ví dụ cụ thể Hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển sản xuất, được tự do trao đổi hàng hóa, mua bán vật tư Kinh
tế hộ nông dân đã tạo đà cho việc khai thác có hiệu quả tiềm năng sẵn có, sản xuất nông nghiệp nước ta tăng lên rõ rệt
Ngoài ra các chương trình giao đất, giao rừng cho các nông hộ đã thúc đẩy nền nông nghiệp pát triển mạnh mẽ
a Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp
Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định.[22]
GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó Dựa vào những chỉ số này có thể thấy được sự phát triển của một ngành kinh tế tăng hay giảm trong một thời kì nhất định nào đó
b Giá trị sản xuất nông nghiệp và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp)
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả lao động trực tiếp, hữu ích của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trong một thời kỳ nhất định, và được thể hiện bằng giá trị của sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra trong thời kỳ đó của 3 ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Trang 34- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bao gồm giá trị sản xuất của bốn nhóm hoạt động sau:
+ Giá trị sản xuất của hoạt động trồng trọt
+ Giá trị sản xuất của hoạt động chăn nuôi
+ Giá trị sản xuất hoạt động dịch vụ nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất hoạt động săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan
- Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp Giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp bao gồm các nhóm sau:
+Giá trị trồng rừng và chăm sóc rừng
+Giá trị gỗ và lâm sản khác khai thác như luồng, vầu, tre nứa, song, mây, +Giá trị lâm sản thu nhặt từ rừng như cánh kiến, nhựa thông, nấm rừng, rau rừng, qủa rừng tự nhiên
+Giá trị hoạt động dịch vụ lâm nghiệp
- Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản bao gồm các nhóm sau:
+ Giá trị sản phẩm thuỷ sản khai thác ở biển
+ Giá trị sản phẩm thuỷ sản khai thác nội địa
+ Giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng ở biển
+ Giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng nội địa
c Năng suất lao động nông nghiệp
Năng suất lao động là chỉ mức độ hiệu quả của việc sử dụng lao động Năng suất lao động là tỉ lệ giữa đầu ra và đầu vào Nếu đầu ra là tổng giá trị quốc nội hoặc tổng giá trị gia tăng thì đầu vào lại là giờ công lao động, lực lương lao động và số lượng lao động đang làm việc Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng năng lực của lực lượng lao động Cụ thể là những lao động chất lương cao sẽ có năng suất cao và ngược lại Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một
tổ chức, một đơn vị sản xuất hay của một phương thức lao động
d Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp
Là toàn bộ giá trị sản phẩm chính, sản phẩm phụ trồng trọt và nuôi trồng
Trang 35thuỷ sản (không bao gồm giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi lồng, bè) thu được trong năm trên một hecta đất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Chỉ tiêu này được tính cho tất cả các loại hình kinh tế có sử dụng đất nông nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản theo giá thực tế bình quân trên thị trường nông thôn trên địa bàn Nhờ
đó đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi mùa vụ, luân canh tăng
vụ, áp dụng các biện pháp khoa học, công nghệ mới nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vài nét về phát triển nông nghiệp Trung du và miền núi Bắc Bộ
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ, trước năm 1954 còn gọi là Trung du và thượng du là khu vực sơn địa và bán sơn địa ở miền Bắc Việt Nam
Xét về mặt hành chính, vùng này bao gồm 15 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình Trung tâm vùng là Thành phố Thái Nguyên; Thành phố Việt Trì
Tổng diện tích của các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ với diện tích khoảng 100.000 km², tổng dân số năm 2011 là 11.290.500 người, mật độ đạt
119 người/km², đến 2014 có tổng số dân là 11.667,5 nghìn người (12,9% dân số
cả nước)
Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lý khá đặc biệt, lại có mạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư, nâng cấp, nên ngày càng thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tế mở Đây là vùng lãnh thổ
có diện tích rộng nhất trong các vùng kinh tế, gồm 15 tỉnh
Trung du và miền núi Bắc Bộ giáp với 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc ở phía bắc, phía tây giáp Lào, phía nam và đông nam giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Việc phát triển mạng lưới giao thông vận tải
sẽ giúp cho việc thông thương trao đổi hàng hóa dễ dàng với các vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc trung Bộ, cũng như giúp cho việc phát triển nền kinh tế mở
Trang 36Trung du và miền núi Bắc Bộ có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, với thế mạnh về công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệp nhiệt đới có cả những sản phẩm cận nhiệt và ôn đới, phát triển du lịch
Với đặc điểm địa hình chủ yếu là núi cao, hiểm trở và bị chia cắt sâu, có các dòng sông với độ dốc khá lớn, thời tiết cũng khá bất thường, gây trở ngại cho việc phát triển giao thông, tổ chức sản xuất Về đặc điểm dân cư, có nhiều dân tộc thiểu số thưa thớt Trung du và miền núi Bắc Bộ có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, với thế mạnh về công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệp nhiệt đới có cả những sản phẩm cận nhiệt và ôn đới, phát triển tổng hợp kinh tế nông nghiệp và du lịch
a Những thành tựu chủ yếu
Do khí hậu của vùng mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của địa hình vùng núi nên Trung du và miền núi Bắc Bộ có thế mạnh đặc biệt để phát triển cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới Đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với các loại chè nổi tiếng ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La
Các loại cây lúa ở đây là loại có khả năng chịu được nhiệt độ thấp với các kỹ thuật canh tác phù hợp loại loại đất, điều kiện nguồn nước: như giống lúa nương,
Trong những năm qua việc ứng dụng khoa học công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật đã phát triển thành công 19 giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, trong đó có 8 giống chè quốc gia, nâng tỷ lệ trồng chè giống mới lên 51%; chuyển giao nhiều giống ngô chịu hạn với giá bán giảm 30% so với giống của các công ty nước ngoài, giúp bà con giảm chi phí và lợi nhuận trong canh tác Các giống lúa thuần bao gồm giống cực ngắn ngày như: P6ĐB, GL 102, GL1 được áp dụng rộng rãi cho chất lượng gạo ngon, đặc biệt thích hợp cho các tỉnh miền núi phía Bắc Một số giống đậu
Trang 37đỗ và cây có củ, giống cây ăn quả, cao su, nấm đã xây dựng được các mô hình cho hiệu quả kinh tế cao ở các địa phương
Trung du và miền núi Bắc Bộ có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ ở các cánh đồng
ở miền núi như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên, Trùng Khánh, … nên thuận lợi cho việc trồng và chế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt
và ôn đới như các cây nông nghiệp và công nghiệp hàng năm (trà, sắn, ngô, khoai, ), cây dược liệu (tam thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả …), và rau quả (xu xu, bắp cải, su hào, )
Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn cũng như trên vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng các cây thuốc quý (tam thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả …), các cây ăn quả như mận, đào, lê Ở Sa Pa có thể trồng rau ôn đới, cây công nghiệp, cây đặc sản và cây ăn quả của Trung du và miền núi Bắc Bộ còn rất lớn
Trung du và miền núi Bắc Bộ có nhiều đồng cỏ, chủ yếu trên các cao nguyên có độ cao 600 – 700 m Có thể phát triển chân nuôi trâu, bò (lấy thịt, sữa), ngựa, dê Bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) Trâu, bò thịt được nuôi rộng rãi, nhất là trâu Trâu khỏe hơn, ưa ẩm, chịu rét giỏi hơn bò, dễ thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng
b Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh đó vùng Trung du và miền núi phía Bắc cũng gặp khó khăn là hiện tượng rét đậm, rét hại, sương muối và tình trạng thiếu nước về mùa đông Nên ngoài các thông tin về canh tác, bảo quản nông sản, còn phải chú trọng tới thông tin thời tiết để cung cấp cho người dân chủ động chống rét cho cây trồng
Trang 38tập quán chăn nuôi gia súc gia cầm còn thả rông và chưa chủ động được thức ăn, nhất là trong những vụ rét, kỹ thuật chăn nuôi của nông dân chưa cao
1.2.2 Khái quát về thực trạng phát triển nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam Từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Bắc Giang giáp với nhiều tỉnh thành, phía bắc giáp Lạng Sơn, phía đông giáp Quảng Ninh, phía tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km
Trong những năm gần đây, Kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện
và đang dần khẳng định được vị của mình Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương
Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác
Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở phía nam Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh
là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều
Bắc Giang phát triển khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng bình quân 5,2%/năm, trong đó tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân đạt 4,0%/năm Giá trị sản xuất trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt 86 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2010 Cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi (năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm 45%) Tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất nông nghiệp
hàng hóa tập trung quy mô lớn, tạo được sản phẩm đặc trưng có thương hiệu
Đã hình thành vùng trồng cây ăn quả lớn thứ 3 toàn quốc, vùng trồng vải thiều
là vùng sản xuất chuyên canh đứng thứ nhất, đàn gà đứng thứ 4 và là một trong
Trang 392 tỉnh có đàn lợn dẫn đầu cả nước Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 34/202 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm16,3% số xã toàn tỉnh; bình quân các xã trên địa bàn tỉnh đạt 12,7/19 tiêu chí xã nông thôn
Tiểu kết chương 1
Nông nghiệp là ngành có vai trò kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia Sản xuất nông nghiệp có bốn đặc điểm cơ bản và sản xuất nông nghiệp chịu sự tác động của các nhân tố vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội Để đánh giá sự phát triển của ngành nông nghiệp thường dựa vào các tiêu chí: tốc độ tăng trưởng GDP, năng suất lao động, giá trị sản xuất, và giá
trị được tạo ra trên 1 ha đất nông nghiệp
Trang 40Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
Yên Thế là huyện miền núi cao của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 27km về phía Tây Bắc, có địa hình đồi núi trung du, thuộc vùng Đông Bắc (Việt Nam), nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, giáp giới với hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn
Địa hình thấp dần theo hướng Đông Nam, phía Bắc là vùng núi thấp dưới chân dãy núi Bắc Sơn, mà dãy núi này hay được biết đến hơn với cái tên cánh cung Bắc Sơn chạy từ Lạng Sơn sang Thái Nguyên (một trong năm dãy núi hình vòng cung tạo nên nét đặc trưng của địa hình vùng Đông Bắc)
Phía Đông Nam huyện Yên Thế giáp huyện Lạng Giang, ranh giới tự nhiên
là con sông Thương một sông lớn trong hệ thống sông Thái Bình, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tân Yên, đều của tỉnh Bắc Giang
Phía Tây và phía Bắc Yên Thế giáp các huyện của tỉnh Thái Nguyên, kể
từ Tây lên Bắc lần lượt là: Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai
Toàn bộ phía Đông Yên Thế giáp với huyện Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn Chảy qua giữa huyện, theo hướng Đông Nam là con sông Sỏi, một nhánh nhỏ đầu nguồn của sông Thương
Diện tích tự nhiên của Yên Thế là 301,3 km² Huyện Yên Thế có 21 xã, thị trấn (trong đó có 5 xã vùng cao), hai thị trấn là: Cầu Gồ và Bố Hạ (đang đề nghị thành lập thị trấn vùng cao Mỏ Trạng)
Trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 75km Hệ thống đường giao thông đến các trung tâm này rất thuận lợi, trên địa bàn huyện có 5 tuyến đường tỉnh lộ chạy qua đến nay cơ bản đã được nhựa hoá; hệ thống đường huyện, đường trục