TỔNG QUAN
Tổng quan về silymarin
Kế sữa (Sylibum marianum (L.) Gaernt) là một loài thực vật thuộc họ cúc, có thể sống một hoặc hai năm, cao từ 30-150cm với thân thẳng và phân nhánh Lá cây có màu xanh, bóng láng, thường xuất hiện nhiều đốm trắng dọc theo gân, mép lá có răng dạng gai màu vàng và rất nhọn Cụm hoa đầu đơn độc, rộng từ 3-10cm, với hoa màu tím và hiếm gặp màu trắng, mỗi hoa có 5 cánh, 5 nhị và bầu 1 ô với 2 lá noãn Quả bế hình bầu dục thuôn, dài 7-8mm, có màu đen bóng với vân vàng, tùy thuộc vào nguồn giống S.marianum và điều kiện canh tác.
[24], [26] Ra hoa vào tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ hai
Cây có nguồn gốc từ khu vực Địa Trung Hải và mọc hoang dại ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm miền Nam và Trung Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Ấn Độ, Trung Quốc, cũng như Bắc và Nam Mỹ.
1.1.2 Thành phần hóa ho ̣c của ha ̣t kế sữa
Hạt kế sữa chứa thành phần hóa học chính là silymarin, một flavonolignan tự nhiên bao gồm flavonoid và lignan Dịch chiết từ hạt cây này chứa khoảng 70-80% silymarin flavonolignans và 20-30% các hợp chất không xác định, chủ yếu là polyphenol oxy hóa và trùng hợp Silybin, thành phần chính của silymarin, là hỗn hợp của hai diastereomers A và B với tỉ lệ khoảng 1:1, cùng với một lượng lớn các flavonolignants khác.
Silymarin chứa nhiều hợp chất quan trọng như iosilybin, dehydrosilybin, silychristin, silydanin, và một số flavonoids, trong đó chủ yếu là taxifolin.
Nhiều tài liệu dược lý, y học và quang hóa đã tranh luận về hiệu quả của silymarin/silybin, nhưng sự không thống nhất về hiệu quả của chúng chủ yếu do thành phần khác nhau trong các chế phẩm silymarin được sử dụng trong nghiên cứu Tỉ lệ của từng chất trong các loại silymarin phụ thuộc lớn vào nguồn gốc S.marianum, bao gồm giống cây và điều kiện trồng, cũng như quá trình tách chiết và xử lý Gần đây, silymarin/silybin đã thu hút sự quan tâm nhờ vào các hoạt tính có lợi không chỉ liên quan đến hiệu quả bảo vệ gan mà còn chống oxy hóa.
Hình 1.1: Một số chất chính trong silymarin
1.1.3 Đặc điểm và tính chất của flavonoid
Flavonoid là một nhóm polyphenol phổ biến trong thực vật, chủ yếu có màu vàng và tan trong nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Flavonoid là một nhóm sắc tố, bao gồm các màu sắc như xanh, đỏ, tím hoặc không màu, nhưng vẫn có cấu trúc tương tự.
Flavonoid là một hợp chất phenol có một số tính chất sau:
Flavonoid tinh khiết tồn tại dưới dạng tinh thể hoặc vô định hình, với nhiệt độ nóng chảy xác định Chúng có thể mang màu vàng như flavon và chalcon, hoặc không màu như isoflavonoid và catechin Đặc biệt, một số flavonoid như antoxyanidin có thể thay đổi màu sắc tùy thuộc vào pH môi trường, với màu đỏ trong môi trường acid và màu xanh trong môi trường kiềm.
Các aglycon (nhân phenol) của flavonoid hòa tan trong dung môi hữu cơ như ether, cồn etylic, aceton và hầu như không tan trong nước
Flavonoid ở dạng liên kết (glycosid) hòa tan được trong nước nhưng không tan trong ether và chloroform Flavonoid có hương thơm và vị đắng
Có khả năng hấp thụ tia tử ngoại nhờ hai vòng benzen A và B Có hai dải hấp thụ cực đại: Dải I ở bước sóng 320-380nm, dải II ở bước sóng 220-280nm
Flavonoid có cấu tạo đặc biệt với các nhóm hydroxyl phenolic, nhóm carbonyl và vòng thơm benzen, cho phép chúng phản ứng mạnh mẽ Tính chất hóa học của flavonoid phụ thuộc vào vị trí của nhóm OH, hệ thống đôi liên hợp và các nhóm thế xung quanh.
Sau đây là các phản ứng hóa học đặc trưng của flavonoid:
*Phản ứng của nhóm hydroxyl (OH)
Oxidation occurs when flavonoids are exposed to oxidizing agents such as silver nitrate, ferricyanide, persulfate, free radicals, or the enzyme polyphenol oxidase This process transforms flavonoids into stable phenoxy radicals (ArO*), which can undergo dimerization or engage in oxidation reactions, leading to the cleavage of their rings.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Flavonoid có tính axit yếu, dễ dàng phản ứng với dung dịch kiềm để tạo muối tan trong nước khi đun nóng, cho màu vàng cam hoặc đỏ thắm Antoxyan trong dung dịch amoniac hoặc natri cacbonat sẽ cho màu xanh hoặc tím.
Liên kết hydro hình thành khi không có trở ngại về mặt cấu trúc, xảy ra giữa các nhóm OH trong cùng một phân tử hoặc giữa các phân tử khác nhau Đặc điểm này ảnh hưởng đến các tính chất hóa học như điểm sôi, điểm nóng chảy, độ hòa tan, đặc tính phổ tử ngoại, cấu trúc phân tử và khả năng phản ứng.
Phản ứng ether hóa là quá trình quan trọng trong hóa học, đặc biệt liên quan đến các ether thiên nhiên của phenol, thường thấy trong thực vật, đặc biệt là các ether etylic Các nhóm OH của phenol có khả năng tham gia dễ dàng vào phản ứng ether hóa, tạo ra các sản phẩm hữu ích trong nhiều ứng dụng.
*Phản ứng của nhóm cacbonyl
Phản ứng của flavonoid đặc trưng bởi nhóm cacbonyl tại vị trí C4 và liên kết đôi giữa C2 và C3 Flanonol, một loại flavon không có nhóm OH ở C3, có phản ứng khó hơn và thường cho màu nhạt, dẫn đến việc khó phát hiện hơn.
Khả năng tạo chelat với kim loại nặng là một trong những tính chất quan trọng của flavonoid, liên quan đến hoạt tính sinh học của chúng Flavonoid có nhóm cacbonyl ở vị trí C4 và hydroxyl ở vị trí C3-C5 có khả năng tạo phức với kim loại, đặc biệt là nhôm, tạo ra màu vàng hoặc vàng xanh và phát quang ở bước sóng 365nm Các phức màu xanh đen cũng được hình thành với molipden và sắt.
Tác dụng dược lý của flavonoid
Tổng quan về protein đâ ̣u tương
1.2.1 Cây đậu tương Đâ ̣u tương hay đỗ tương (tên khoa ho ̣c Glycine max) là cây họ đâ ̣u
Fabaceae là loại bản địa của Đông Á, nổi bật với hàm lượng protein cao, được trồng chủ yếu làm thức ăn cho con người và gia súc Trên toàn cầu, loại cây này đóng vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp.
Có khoảng 1000 loại đậu tương với nhiều đặc điểm đa dạng, từ kích thước hạt nhỏ như đậu Hà Lan đến lớn như trái anh đào Hạt đậu cũng có nhiều màu sắc phong phú, bao gồm đỏ, vàng, xanh, nâu và đen.
Cây đậu tương là một loại thực phẩm có giá trị kinh tế cao và dễ trồng Sản phẩm từ đậu tương rất đa dạng, bao gồm quả thô, đậu phụ, dầu đậu tương, nước tương, bánh kẹo và sữa đậu tương, góp phần đáp ứng nhu cầu protein trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người và gia súc.
Cây đậu tương không chỉ có khả năng cải tạo đất mà còn giúp tăng năng suất cho các loại cây trồng khác Điều này đạt được nhờ vào hoạt động cố định nitơ của vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây đậu.
1.2.2 Tha ̀nh phần hóa ho ̣c trong quả đậu tương
Trong qua ̉ đâ ̣u tương có thành phần hóa ho ̣c chủ yếu là protein , lipid, glucid, các muối khoáng Ca,
Đậu tương chứa nhiều dưỡng chất quan trọng như Fe, Mg, K, Na, S, và các vitamin A, B1, B2, D, E, F, cùng với enzyme, sáp, nhựa và cellulose Thành phần dinh dưỡng cụ thể bao gồm độ ẩm 8-10%, protein 35-45%, lipid 15-20%, carbohydrate 15-16%, cellulose 4-6%, vitamin A 710 UI, vitamin B1 300 UI, vitamin B2 90 UI, vitamin C 11 UI, và muối khoáng 4,6% Hàm lượng axit amin không thay thế trong protein đậu tương có Tryptophan 1,1%, Leucine 8,4%, Isoleucine 5,8%, Valine 5,8%, Threonine 4,8%, Lysine 6,0%, Methionine 1,4%, và Phenylalanine 3,8% Đậu tương cũng chứa các axit béo không thay thế có giá trị dinh dưỡng cao, bao gồm axit không no: linoleic 52-65%, oleic 25-36%, linolenoic 2-3%, và các axit béo bão hòa: axit panmitic 6-8%, stearic 3-5%, arachidoic 0,1-1,0%.
Đậu tương chứa nhiều loại carbohydrate, bao gồm các polysaccharide không hòa tan như hemicellulose, pectin, cellulose và các oligosaccharide như hexose, raffinose, stachiose, verbascose Ngoài ra, tro từ đậu tương cũng rất giàu sắt và kẽm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.3.1 Thành phần Protein đậu tương
Sau khi hòa tan trong nước hoặc ở pH kiềm nhẹ, protein đậu tương có thể được tách thành nhiều đoạn thông qua các phương pháp như sắc ký thấm gel, điện di và siêu ly tâm Phương pháp siêu ly tâm cho phép tách ra 4 đoạn với các hệ số sa lắng S20,W là 2S, 7S, 11S và 15S Trong đó, hai thành phần chính là globulin 7S và 11S, hay còn gọi là β-conglycinin và glycinin, chiếm hơn 70% tổng lượng protein của hạt Cụ thể, glycinin chiếm 60% và β-conglycinin chiếm 40% trong tổng lượng protein Glycinin bao gồm năm tiểu đơn vị có nồng độ acid amin từ 3-4,5%, trong khi β-conglycinin chứa ba tiểu đơn vị với nồng độ acid amin thấp hơn 1%.
Trong thực phẩm có pH trung tính và không qua xử lý nhiệt, các globulin 7S và 11S vẫn duy trì trạng thái hoạt động, không bị biến tính, với cấu trúc phân tử ở dạng dime (7S) và oligome (11S) do lực ion yếu.
PH sẽ làm cho protein bi ̣ biến tính và các cấu trúc bâ ̣c cao bi ̣ phá hủy
1.2.3.2 Tính chất của Protein đậu tương
Sự phân li và sự tập hợp của protein đậu tương
Khi đun nóng dung dịch -conglixinin loãng ở pH 7-8 và trong môi trường lực ion yếu đến 100 độ C, các phân tử sẽ phân li thành các dưới đơn vị mà không xảy ra hiện tượng tập hợp phân tử.
Khi dung dịch glixinin có nồng độ loãng (