1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau

134 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Tác giả Vương Hoàng Ân
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Thị Cúc
Trường học Trường Đại Học Bình Dương
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đổi mới công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, các đơn vị sự nghiệp y tế nói riêng là cần thiết nhằm phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước với c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

VƯƠNG HOÀNG ÂN

19001001

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH PHÍ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI TỈNH

CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ NGÀNH: 8310110

Bình Dương, năm 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

VƯƠNG HOÀNG ÂN

19001001

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH PHÍ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng nội dung luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau” là bài nghiên cứu của tôi

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoàn rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này

mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tào khác

Cà Mau, ngày …… tháng …… năm 2021

Vương Hoàng Ân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Ban Giám hiệu trường Đại học Bình Dương, Khoa đào tạo Sau Đại học, Giảng viên tham gia giảng dạy đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

Lãnh đạo Sở Tài chính đã đạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian đi học cũng như thời gian làm luận văn

PGS.TS Phan Thị Cúc đã tận tình cung cấp tài liệu, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Lãnh đạo Sở Y tế, tập thể phòng Kế hoạch – Tài chính – Sở Y tế, Lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Y tế, Phòng Kế toán – Kho bạc Nhà nước tỉnh Cà Mau, Phòng Tài chính hành chính sự nghiệp – Sở Tài chính đã đưa ra những ý kiến trong quá trình tác khảo sát để từ toán đưa ra cái nhìn tổng quan cho tôi hoàn thiện đề tài của mình

Các anh, chị học viên ngành Quản lý kinh tế Khóa … và gia đình đã động viên, giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những thông tin, tài liệu có liên quan trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

bổ, quản lý và sử dụng còn nhiều kẻ hở dẫn đến lãng phí và giảm hiệu quả Những tồn tại trên đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho hoạt động y tế

Do đó, luận văn hướng đến mục tiêu là đánh giá thực trạng quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2016 – 2020 Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa

lý luận, so sánh, phân tích, đánh để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản

lý chi thường từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế Ngoài ra, luận văn khảo sát

dữ liệu sơ cấp từ ý kiến của các chuyên gia để làm căn cứ đánh giá những hạn chế đang tồn tại trong quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau Từ đó, luận văn tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế còn tồn tại trong quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế Cuối cùng, luận văn đưa ra các giải pháp

nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự

nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

MỞ ĐẦU xi

1 Lý do nghiên cứu của đề tài xi

2 Mục tiêu nghiên cứu xii

2.1 Mục tiêu chung xii

2.2 Mục tiêu cụ thể xiii

3 Câu hỏi nghiên cứu xiii

4 Đối tượng nghiên cứu xiii

5 Phạm vi nghiên cứu xiii

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài xiii

7 Tình hình nghiên cứu và các nghiên cứu trước đó có liên quan xv

8 Phương pháp nghiên cứu xv

9 Kết cấu nội dung của đề tài xvi

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ 1

1.1 Khái quát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 1

1.1.1 Các khái niệm 1

Trang 7

1.1.2 Công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 61.1.3 Nội dung chi và quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 101.2 Quản lý chi thường xuyên từ sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước 121.2.1 Khái niệm quản lý chi ngân sách Nhà nước 121.2.2 Phân cấp quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 13 1.2.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước 14 1.2.4 Nội dung quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 19 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước 26 1.3.1 Các nhân tố khách quan 26 1.3.2 Các nhân tố chủ quan 281.4 Kinh nghiệm về quản lý chi thường xuyên của một số địa phương trong nước

và bài học 30 1.4.1 Kinh nghiệm quản lý chi thường của tỉnh Bạc Liêu 301.4.2 Bài học rút ra đối với công tác quản lý chi thường từ ngân sách nhà nước cho

sự nghiệp y tế đối với tỉnh Cà Mau 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH PHÍ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ GIAI ĐOẠN

2016 – 2020 CỦA TỈNH CÀ MAU 34

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau và sự nghiệp y tế cấp tỉnh 34 2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 342.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về chi thường xuyên sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau 37

Trang 8

2.2 Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà

nước của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020 43

2.2.1 Công tác quản lý trong khâu lập dự toán, giao, chấp hành dự toán 45

2.2.2 Công tác quản lý trong khâu quyết toán 59

2.2.3 Công tác Thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi ngân sách 64

2.3 Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên từ nguồn bảo hiểm y tế, viện phí cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau 65

2.4 Cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế 67 2.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau 68

2.5.1 Kết quả đạt được 68

2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 69

CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI TỈNH CÀ MAU 74

3.1 Định hướng phát triển sự nghiệp y tế tỉnh Cà Mau 74

3.1.1 Về quan điểm 74

3.1.2 Định hướng phát triển 75

3.2 Giải pháp chung 77

3.3 Các giải pháp cụ thể 78

3.3.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 78

3.3.2 Hoàn thiện công tác phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 79

3.3.3 Hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát kế toán, quyết toán chi thường xuyên sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước 80

3.3.4 Hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý tài chính chi ngân sách Nhà nước cho sự cho sự nghiệp y tế 81

Trang 9

3.3.5 Tiếp tục tăng cường số hóa, công nghệ thông tin vào công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho sự cho sự nghiệp y tế 823.3.6 Các giải pháp khác 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤC LỤC DANH SÁCH CHUYÊN GIA CẦN LẤY Ý KIẾN

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Quy mô số lượng biên chế, số giường bệnh sự nghiệp y tế cấp tỉnh giai

đoạn 2016 – 2020 42

Bảng 2.2 Tình hình thu NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020 44

Bảng 2.3: Tình hình chi NSNN tỉnh Cà Mau giai đoạn năm 2016 – 2020 46

Bảng 2.4 : Chi tiết chi cân đối NS của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm 2016 – 2020 47

Bảng 2.5 : Chi tiết chi thường xuyên NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm 2016 – 2020 49

Bảng 2.6 Chi cho sự nghiệp y tế (chi thường xuyên) giai đoạn 2016 – 2020 55

Bảng 2.7 Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác lập dự toán chi thường xuyên cho Y tế 58

Bảng 2.8 Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN cho Y tế 59

Bảng 2.9 Quyết toán chi thường xuyên của sự nghiệp y tế đối với tổng chi thường xuyên từ NSNN giai đoạn 2016 – 2020 60

Bảng 10 Số lượng và tỷ lệ cán bộ, lãnh đạo các đơn vị trả lời về đội ngũ cán bộ tổ chức quản lý chi thường xuyên 62

Bảng 2.11 Số lượng và tỷ lệ cán bộ trực tiếp theo dõi, quản lý trả lời về công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN của các đơn vị Y tế 63

Bảng 2.12: Số lượng và tỷ lệ cán bộ lãnh đạo đơn vị trả lời về công tác kiểm tra, giám sát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp Y tế 65

Bảng 2.13 Chi cho lĩnh vực y tế giai đoạn 2016 – 2020 66

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 01 Chi từ sự nghiệp Y tế so với chi thường xuyên giai đoạn 2016 – 2020 51 Biểu đồ số 02 Tình hình chi NSNN tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020 52 Biểu đồ 03: Tình hình chi thường xuyên từ NSNN của sự nghiệp y tế giai đoạn

2016 – 2020 57 Biểu đồ 04 So sánh số quyết toán chi thường xuyên của sự nghiệp y tế đối với chi thường xuyên từ ngân sách giai đoạn 2016 – 2020 61 Biểu đồ số 05 So sánh tỷ lệ % của chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế so với chi thường xuyên từ NSNN giai đoạn 2016 – 2020 63 Biểu đồ 06: So sánh tỷ lệ phần tổng chi cho lĩnh vực y tế giai đoạn 2016 – 2020 67

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu của đề tài

Con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển của quốc gia vì con người

là chủ thể sáng tạo ra mọi nguồn của cải và tinh thần của chính quốc gia đó Song, đối với mỗi con người cụ thể thì sức khoẻ lại là yếu tố quyết định đến mọi mặt hoạt động trong đời sống Chăm lo phát triển nguồn lực con người và thực hiện công bằng

xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi để Việt Nam có thể thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chiến lược con người có thể được coi là chiến lược hàng đầu của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Trong đó, sức khỏe con người đang là tài sản quý giá nhất, là nguồn lực cần thiết có vai trò quyết định đối với sự đi lên và phát triển kinh tế của đất nước Đảng ta đã khẳng định:

“Sức khỏe không chỉ là tài sản của mỗi người, mỗi quốc gia mà còn là tài sản của nhân loại” Vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe nhân dân trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội là rất quan trọng và cần thiết

Thực tế cho thấy cùng với ngân sách Nhà nước (NSNN), các công cụ tài chính khác như Bảo hiểm y tế (BHYT), viện phí đã đem lại nguồn lực đáng kể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, song cần phải được hoàn thiện cả về việc huy động nguồn lực và công tác quản lý sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân Sự đổi mới công tác quản lý tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp công lập nói chung, các đơn vị sự nghiệp y tế nói riêng là cần thiết nhằm phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn vị để hoạt động theo cơ chế mới, phù hợp hơn và hiệu quả hơn, xóa bỏ cơ chế cấp phát kinh phí theo kiểu “xin – cho”, ban hành cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, cùng với Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là bước tiến mới trong quá trình thực hiện chương trình cải cách tài chính công, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định

cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập Tỉnh Cà Mau đã triển khai thực hiện cơ

Trang 14

chế tự chủ tài chính đối với toàn bộ đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh, trong

đó có trên 30 đơn vị sự nghiệp trực thuộc ngành y tế Trong những năm qua, từ khi thực hiện chính sách xã hội hóa các hoạt động y tế và thực hiện công tác quản lý tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị

sự nghiệp y tế đã có những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý tài chính của mình, kéo theo đó là chất lượng phục vụ cũng được tăng lên đáp ứng đáp ứng được phần lớn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Tuy nhiên, công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau còn một số hạn chế như: Công tác lập dự toán chưa được lãnh đạo đơn vị thật sự quan tâm dẫn đến tình trạng

kế hoạch lập không sát với thực tế; công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình chấp hành dự toán có nơi còn bị xem nhẹ, công tác quyết toán thực hiện còn chậm; định mức phân bổ NSNN cho hoạt động y tế còn nhiều mặt chưa hợp lý,… dẫn tới lãng phí và kém hiệu quả Những hạn chế đó đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả chi NSNN cho sự nghiệp y tế, phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính như hiện nay

Nhận thức được tầm quan trọng của chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y

tế trong điều kiện hiện nay, trước những khó khăn, tồn tại trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà

nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau” làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành

lý kinh phí chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau trong thời gian tới

Trang 15

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên

từ NSNN cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau trong những năm tiếp theo

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế được dựa trên cơ sở

4 Đối tượng nghiên cứu

Lý luận và thực tiễn công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ NSNN cho

sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020

Phạm vi không gian: Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên

từ NSNN cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau

Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2021

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, một trong những chiến lược quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới là

Trang 16

chiến lược phát triển con người Nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực đồng thời cũng là nguồn lực năng động nhất trong mọi nguồn lực của sự phát triển Để phát huy hết vai trò và ưu điểm của nguồn lực này, việc chăm sóc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đối với con người là điều rất cần thiết trong đó sức khỏe của con người được ưu tiên hơn cả, bởi vì có sức khỏe con người mới có thể học tập, nghiên cứu, lao động để tạo ra những sản phẩm có ích phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nhận rõ được tầm quan trọng của sức khỏe và vai trò của ngành y tế trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, hằng năm Nhà nước đã dành một phần từ NSNN cho sự nghiệp y tế Nhưng do NSNN còn hạn hẹp với chủ trương xóa bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng có những thay đổi theo hướng “giảm dần các khoản chi có tính bao biện từ NSNN chi có trọng tâm trọng điểm” nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là “nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”

Trong những năm qua, ngành y tế Cà Mau đứng trước nhiều thử thách do diễn biến phức tạp của thời tiết, bệnh dịch cũng như tình hình kinh tế - xã hội, nhưng cán

bộ nhân viên ngành y tế Cà Mau với tinh thần trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghề tận tụy với việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được không ngừng tăng cường công tác quản lý Nhà nước đa dạng hoá các loại hình phục vụ, đổi mới trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật chuyên môn, đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, ngành y tế Cà Mau còn một số tồn tại như: Trang thiết bị hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, nguồn cán bộ có tay nghề chuyên môn cao còn thiếu nhiều Phần NSNN cho hoạt động y tế, trong quá trình phân bổ, quản lý và

sử dụng còn nhiều kẻ hở dẫn đến lãng phí và giảm hiệu quả Những tồn tại trên đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả hơn cho hoạt động y tế

Qua công tác thực tiễn về tầm quan trọng của chi thường xuyên từ NSNN cho

sự nghiệp y tế và đứng trước những khó khăn tồn tại trong quản lý chi thường xuyên

Trang 17

từ NSNN cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm để tăng cường hoàn thiện đổi mới công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp Y tế tại tỉnh Cà Mau

7 Tình hình nghiên cứu và các nghiên cứu trước đó có liên quan

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, đề cập tới vấn đề Hoàn thiện

công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước: “Quản lý chi

ngân sách Nhà nước huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn nghiên cứu năm 2020; Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại tỉnh Bắc Kạn, của Thạc sĩ Phạm Tiến Nam nghiên cứu năm 2020; Hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước của tỉnh Kom Tum, của Thạc sĩ Nguyễn Minh Khương năm nghiên cứu 2018

Các nghiên cứu trên đã cung cấp những thông tin có ý nghĩa về cơ sở lý luận

về công tác quản lý chi thường xuyên từ ngân sách nói chung Tuy nhiên, với mỗi địa phương có cách quản lý khác nhau nhưng không trái với quy định của pháp luật thì việc tiếp cận và áp dụng là khác nhau, các nghiên cứu trên cũng chưa phân tích rõ những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế theo cơ chế tự chủ tài chính mới tại nghị đinh số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ và tình hình triển khai nghị định còn gây nhiều tồn tại gây bức xúc dư luận xã hội vì đã không thực hiện đúng các quy định của Nhà nước

về quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế nói chung và ở các địa phương nói riêng Dựa trên những cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu này, cũng như những tồn tại trong công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên, vì vậy tác

giả đã lựa chọn đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế này là: “Hoàn

thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau”

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu để xây dựng hệ thống lý luận về quản lý kinh tế và các vấn đề có liên quan

Trang 18

- Phương pháp phân tích: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản

lý nguồn vốn sự nghiệp y tế tại tỉnh Cà Mau

- Phương pháp thống kê: Thống kê thu thập số liệu về việc sử dụng và thanh quyết toán nguồn sự nghiệp y tế giai đoạn 2016 – 2020 tại tỉnh Cà Mau

- Phương pháp so sánh, đánh giá: Là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc)

- Phương pháp khảo sát các chuyên gia tại các Sở Y tế, Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh và huyện, các đơn vị trực thuộc Sở Y tế

+ Đối tượng 1: Lãnh đạo Sở Tài chính, Sở Y tế

+ Đối tượng 2: Thủ trưởng các đơn vị

+ Đối tượng 3: Chuyên viên phòng Tài chính - Kế hoạch Sở Y tế và chuyên viên phòng Tài chính hành chính sự nghiệp Sở Tài chính

+ Đối tượng 4: Cán bộ KBNN trực tiếp theo dõi, hướng dẫn các đơn vị trong ngành y tế

9 Kết cấu nội dung của đề tài

Ngoài các phần như: Lời cam đoan, lời cảm ơn, Danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu sơ đồ, kết cấu của đề tài gồm ba phần chính:

Phần I: Phần mở đầu

1 Lý do nghiên cứu của đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Câu hỏi nghiên cứu

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

6 Ý nghĩa của đề tài

7 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan

8 Phương pháp nghiên cứu

9 Kết cấu và nội dung của đề tài

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN

LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO

SỰ NGHIỆP Y TẾ 1.1 Khái quát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nước

“Chi NSNN (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp…

Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và bảo đảm an ninh quốc phòng” (theo Trần Đình Ty và cộng sự ,2003, tr 110)

Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN Thu ngân sách là nguồn vốn

để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngược lại sử dụng vốn ngân sách để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết kiệm luôn được Nhà nước quan tâm

Chi NSNN gắn liền với thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Điều này chứng tỏ các khoản chi của NSNN có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia

1.1.1.2 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách

“Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của

bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” (khoản 6 Điều 4 Luật NSNN năm 2015)

Trang 20

1.1.1.3 Khái niệm chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước

Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của

bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (theo quy định khoản 6 Điều 4 Luật NSNN năm 2015)

Chi thường xuyên

Chi các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác; các hoạt động kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội; hoạt động các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; trợ giá theo chính sách Nhà nước; các chương trình quốc gia; hỗ trợ bảo hiểm xã hội; trợ cấp cho đối tượng chính sách xã hội; tài trợ cho các tổ chức xã hội; xã hội – nghề nghiệp; trả tiền lãi do Nhà nước vay; chi viện trợ; các khoản chi khác(theo quy định tại khoản 3 Điều

36 và khoản 2 Điều 37 Luật NSNN năm 2015) Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế

độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Việc lập

dự toán ngân sách của các cơ quan Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định của Chính phủ (theo quy định tại điểm

c khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015)

Chi đầu tư phát triển

Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết; chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình, dự án phát triển kinh tế; chi cho dự trữ Nhà nước (theo quy định tại khoản 1 Điều 36 và khoản 1 Điều 38 Luật NSNN năm 2015)

Dự toán chi đầu tư phát triển được lập trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chương trình,

Trang 21

dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch đầu

tư trung hạn nguồn NSNN, khả năng cân đối các nguồn lực trong năm dự toán, quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015)

Chi trả nợ do Chính phủ vay và chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính

Dự toán chi trả nợ được lập trên cơ sở bảo đảm trả các khoản nợ đến hạn của năm dự toán ngân sách (theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015)

Dự toán vay bù đắp bội chi NSNN phải căn cứ vào cân đối NSNN, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ và trong giới hạn an toàn về nợ theo Nghị quyết của Quốc hội (theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015)

Chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

Chi thường xuyên từ NSNN cho SNYT chính là việc sử dụng nguồn vốn từ ngân sách làm công cụ thực hiện các hoạt động y tế hay chính là quản lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành Chi thường xuyên cho SNYT

là chi cho các hoạt động nhằm phục vụ công tác khám, chữa bệnh; công tác phòng bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng; chi cho các chương trình, dự án quốc gia về

y tế, chương trình quốc gia về dân số kế hoạch hoá gia đình Xét về nội dung, chi cho SNYT trước hết bao gồm các khoản chi cho bộ máy, con người như: thanh toán cho các nhân, chi cho công việc hành chính Chi nghiệp vụ chuyên môn gắn với nhiệm

vụ cụ thể của mỗi đơn vị, như gắn với nhiệm vụ khám, chữa bệnh hay điều dưỡng

Các nguồn tài chính đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên SNYT ở nước ta bao gồm:

- Nguồn từ NSNN đây là nguồn tài chính lớn nhất, chủ đạo và quan trọng nhất đảm bảo cho hoạt động thường xuyên, liên tục cho cho sự nghiệp khám chữa bệnh; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

- Nguồn đóng góp của người dân thông qua hình thức thu một phần viện phí, phí các dịch vụ kỹ thuật y tế như siêu âm, chuẩn đoán qua chụp phim X quang,

Trang 22

Scanner… nguồn này được coi như nguồn của NSNN được bổ sung vào NSNN qua hình thức “ghi thu, ghi chi”

- Nguồn kinh phí từ Quỹ BHYT tế chuyển sang cho các bệnh viện, trung tâm

y tế để thanh toán chi phí chữa bệnh chi trả thuốc men, hóa chất, vật tư dụng cụ y tế cho người bệnh theo tiêu chuẩn, chế độ của Nhà nước; nguồn kinh phí này ngày càng lớn trong những năm gần đây do nước ta đang thực hiện chiến lược BHYT cho toàn dân vì vậy đây cũng là nguồn kinh phí đáng kể theo Luật Bảo hiểm Y tế quy định bổ sung vào nguồn tài chính đảm bảo chi thường xuyên cho SNYT ở nước ta

Như vậy nguồn tài chính để đảm bảo cho công tác hoạt động thường xuyên của SNYT theo 03 nguồn nêu trên nhưng trong phạm vi thuộc lĩnh vực nghiên cứu của luận văn chỉ đi sâu vào công tác quản kinh phí chi thường xuyên cho SNYT từ nguồn NSNN nhưng sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến nguồn thu viện phí coi như nguồn NSNN và nguồn thanh toán của Quỹ BHYT chuyển sang chi thường xuyên cho SNYT

Theo đó chi thường xuyên cho SNYT được chia thành các nhóm sau:

- Nhóm chi cho con người (còn gọi là chi cho thanh toán cá nhân) bao gồm:

Các khoản chi lương, phụ cấp theo lương, phụ cấp trực đêm, phụ cấp phẫu thuật, phụ cấp trách nhiệm cho công chức viên chức trong ngành y tế, thuộc về nhóm này còn có các khoản chi phúc lợi xã hội như thanh toán tàu xe nghỉ phép cho các trường hợp bố mẹ, vợ chồng qua đời được cho phép hỗ trợ theo chế độ do mức Nhà nước quy định ;

- Nhóm chi về nghiệp vụ phí gồm: Các khoản chi như: Chi điện, nước, điện

thoại thông tin liên lac, chi phi thuốc men, dụng cụ, bông băng cồn gạc, bị mất đi trong quá trình khám và chữa bệnh cho bệnh nhân ở các cơ sở y tế công lập từ tuyến Trung ương đến tuyến y tế xã phường;

- Nhóm chi về mua sắm, sửa chữa thường xuyên như: Chi sửa chửa nhỏ nhà

cửa, buồng bệnh, chi thay thế phụ tùng máy móc, thiết bị y tế, sửa chữa tủ giường đựng quần áo bệnh nhân, quần áo bảo hộ lao động của nhân viên, mua sắm vật rẻ tiền mau hỏng, tiêu hao trong quá trình khám chữa bệnh

Trang 23

-Nhóm chi thường xuyên khác bao gồm: Các khoản chi thường xuyên phát sinh

nhưng không ổn định như chi trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, hỗ trợ tập luyện dân quân tự vệ phường xã nơi cơ sở y tế làm việc

Nội dung công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế

Chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có kế hoạch theo chu trình quản lý chi tiêu từ nguồn NSNN (bao gồm từ khâu lập dự toán kinh phí; chấp hành dự toán kinh phí và quyết toán kinh phí chi thường xuyên cho sư nghiệp y tế từ NSNN) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt đươc hiệu quả, chi tiêu hơp lý, tiết kiệm trong những điều kiện cụ thể về thực trạng tình hình diễn biến bệnh tật ở địa phương nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân

1.1.1.4 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y

tế

Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế chính là việc sử dụng nguồn vốn

từ ngân sách làm công cụ thực hiện các hoạt động y tế hay chính là quản lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành Chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế là chi cho các hoạt động nhằm phục vụ công tác khám, chữa bệnh; công tác phòng bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng; chi cho các chương trình, dự án quốc gia về y tế, chương trình quốc gia về dân số kế hoạch hoá gia đình Xét về nội dung, chi cho sự nghiệp y tế trước hết bao gồm các khoản chi cho bộ máy, con người như: thanh toán cho các nhân, chi cho công việc hành chính Chi nghiệp vụ chuyên môn gắn với nhiệm vụ cụ thể của mỗi đơn vị, như gắn với nhiệm vụ khám, chữa bệnh hay điều dưỡng

1.1.1.5 Khái niệm về công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế

Quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế chính là việc sử dụng nguồn vốn từ ngân sách làm công cụ thực hiện các hoạt động y tế hay chính là quản

lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành Chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế là chi cho các hoạt động nhằm phục vụ công tác khám, chữa bệnh; công tác phòng bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng; chi cho các chương trình, dự

án quốc gia về y tế, chương trình quốc gia về dân số kế hoạch hoá gia đình

Trang 24

Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục đích đã đề ra

Quản lý kinh phí chi thường xuyên từ NSNN cho SNYT là việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, công cụ, để xây dựng tiêu chuẩn, mức chi hợp lý, tiên tiến vào công tác quản lý lập dự toán kinh phí, chấp hành dự toán phân bổ, sử dụng kinh phí đúng đối tượng nhằm điều phối nguồn lực bảo đẩm nhiệm vụ hoạt động thường xuyên liên tục cho sự nghiêp y tế, đồng thời giám sát hoạt động chi tiêu kinh phí từ khi bắt đầu năm ngân sách đến khi kiết thúc quyết toán kinh phi NSNN

1.1.2 Công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

1.1.2.1 Vai trò của sự nghiệp y tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Chất lượng, hiệu quả của các hoạt động y tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, mà sức khỏe con người là tiền đề cần thiết để tạo ra trí tuệ - tài sản quý nhất của mọi tài sản Thực tế cho thấy, quá trình phát triển kinh tế xã hội không diễn

ra một cách thụ động mà nó phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của con người, con người không nắm vững khoa học công nghệ tiên tiến, không có phẩm chất nhân cách phù hợp với nhu cầu công việc thì không thể đẩy mạnh phát triển kinh tế là điều tất yếu, điều đó chứng tỏ y tế không phải là phạm trù phúc lợi đơn thuần mà nó tác độ đến sự nghiệp kinh tế của mỗi quốc gia

1.1.2.2 Các nguồn vốn đầu tư cho y tế và vai trò của chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

- Chi từ nguồn vốn NSNN

+ Chi đầu tư phát triển;

+ Chi thường xuyên;

+ Chi bổ sung có mục tiêu từ NSNN cho sự nghiệp y tế

- Chi từ nguồn vốn ngoài NSNN

+ Thu từ viện phí;

+ Các khoản thu khác

Trang 25

1.1.2.3 Vai trò của chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp

đó tạo lòng tin với nhân dân, thu hút được sự đóng góp của các tầng lớp trong xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp y tế, phát huy một cách tối đa hiệu quả các khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế Tóm lại, từ những vai trò cơ bản trên ta có thể thấy chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội Đề các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế thực sự mang lại hiệu quả và phát huy được những vai trò to lớn của mình thì đòi hỏi công tác quản

lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế phải được tăng cường và hoàn thiện

Trong xã hội hiện nay, sự phân biệt giàu nghèo còn khá lớn đó cũng là một quy luật tất yếu của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Những người giàu thì khả năng thanh toán bằng tiền của họ cho dịch vụ y tế là rất cao, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt Bên cạnh đó còn một tầng lớp nghèo có nguy cơ bị thiệt thòi không được khám chữa bệnh khi ốm đau Chính vì vậy, thông qua những chính sách của mình, Nhà nước điều tiết nguồn tài chính từ nơi thừa sang nơi thiếu, mà ở lĩnh vực y

tế là từ người giàu sang người nghèo, sang những gia đình chính sách, có công với đất nước, điều này khu vực tư nhân không thể làm được Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế góp phần hỗ trợ những đối tượng nghèo, đối tượng chính sách khi ốm đau, từ đó đảm bảo công bằng xã hội

Mặc dù NSNN hiện nay cũng còn hạn hẹp lại được sử dụng chi cho nhiều lĩnh vực khác nhau, song với tầm quan trọng của y tế hàng năm Nhà nước dành sự ưu tiên rất lớn đầu tư để phát huy vai trò quyết định của nó đến sự phát triển kinh tế của đất nước

Trang 26

1.1.2.4 Tác động của công tác quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, bên cạnh đó chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội Bên cạnh việc hoàn thiện tác quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế của tỉnh Cà Mau nó đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của tỉnh

Hoạt động của ngành y tế có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của mỗi người dân

mà sức khỏe là tiền đề tạo ra trí tuệ, tài sản quý giá nhất trong các tài sản Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội có lợi thế về nguồn nhân lực (Sức khỏe và trình độ chuyên môn) sẽ có lợi thế rất lớn trong quá trình phát triển và phát triển nhanh hơn các tỉnh hạn chế về điều kiện này Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực chuyên môn của mỗi người lao động, đội ngũ lao động không nắm vững khoa học công nghệ hiện đại, không có những phẩm chất nhân cách phù hợp với công việc thì rất khó có thể nâng cao trình độ sản xuất và tốc độ phát triển kinh tế Qua đó ta thấy chi NSNN cho sự nghiệp y tế không chỉ là một dịch vụ xã hội đơn thuần mà nó có tác động rất lớn đến sự phát triển của tỉnh Từ đó cho ta thấy việc hoàn thiện công tác chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế đòi hỏi phải có sự quản lý sao cho thật phù hợp để một khoản chi nhất định nhưng chất lượng và hiệu quả kinh tế mang lại là lớn nhất

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn có một vai trò xã hội rất lớn và cũng rất dễ nhận biết đó là thực hiện công bằng xã hội Trong xã hội ta, sự phân biệt giàu nghèo còn khá lớn đó cũng là một quy luật tất yếu của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Những người giàu thì khả năng thanh toán bằng tiền túi của họ cho dịch vụ y

tế là rất cao, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt Bên cạnh đó còn một tầng lớp người nghèo có nguy cơ bị thiệt thòi không được khám chữa bệnh khi ốm đau

Những người sử dụng bệnh viện công chủ yếu thuộc nhóm có thu nhập cao nhất, còn những người sử dụng trạm y tế xã lại thuộc nhóm người nghèo nhất, nguyên

Trang 27

nhân của tình trạng này là hầu hết các bệnh viện điều đặt ở thành thị thuận lợi hơn cho người dân thành thị đến khám chữa bệnh, bên cạnh đó chi phí trực tiếp của cá nhân cho việc sử dụng các dịch vụ bệnh viện là lớn nên thường những cá nhân có thu nhập khá hơn sử dụng

Do việc mở rộng phạm vi của BHYT đã cũng cố thêm tình trạng trên vì các cá nhân có BHYT thường khá giả hơn những người không có BHYT, cơ quan Bảo hiểm nói chung là thanh toán cho các chi phí bệnh viện chứ không trả cho các chi phí khám bệnh tại các trạm y tế xã Do đó, chi NSNN cho sự nghiệp y tế là bảo đảm cho mọi người dân điều được chăm sóc sức khỏe ở mức độ cơ bản theo khả năng tối đa của NSNN Thông qua các chính sách để hỗ trợ ưu tiên cho người nghèo không có khả năng chi trả cho dịch vụ y tế cũng chính là đảm bảo sự công bằng cho các thành viên trong xã hội

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn nhằm duy trì, phát triển những chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, hơn nữa đó cũng là chiến lược để đạt được mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đã đề ra thông qua việc xác định cơ cấu, tỷ trọng các khoản chi cho sự nghiệp y tế

Từ việc hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp

y tế ta có thể nhận thấy rằng Nhà nước kiểm tra được việc sử dụng các khoản chi cho hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân nói riêng và chi NSNN nói chung, từ hoạt động kiểm tra đó sẽ tạo ra lòng tin cho nhân dân, thu hút được sự đóng góp của các tầng lớp trong xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp y tế, phát huy một cách tối đa hiệu quả các khoản chi của NSNN cho sự nghiệp y tế thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu đã đề ra Đây là ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau Chúng ta có thể nhận thấy ảnh hưởng tích cực của việc hoàn thiện như sau:

- Thông qua việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, điều trị bệnh, bảo đảm cuộc sống sức khỏe cho con người để học tập và lao động

Trang 28

- Ngành y tế ứng dụng các thiết bị khoa học để phát triển hơn, khi sức khỏe con người trở nên ổn định thì đương nhiên mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều được thúc đẩy mạnh mẽ

- Con người là chủ thể của xã hội, có thể đưa ra những quyết định thay đổi về mặt hình thái kinh tế Chính vì điều này mà chúng ta có thể nhận thấy được rằng việc đảm bảo cho con người có sức khỏe tốt sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững Hơn thế nữa là người lao động có thể yêu tâm trong công tác, yên tâm phát triển kinh

tế chúng ta cũng bớt đi những kinh phí không cần thiết cho những chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe

1.1.3 Nội dung chi và quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

1.1.3.1 Nội dung chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp

án quốc gia về y tế, chương trình quốc gia về dân số kế hoạch hoá gia đình

Các nguồn thu viện phí được để lại để trang trải một phần chi thường xuyên, chi cho con người (nếu có) và các khoản thu khác theo quy định của cơ chế tự chủ Nhưng trong điều kiện nền kinh tế còn nghèo, thu nhập bình quân theo đầu người còn thấp thì khả năng huy động nguồn kinh phí ngoài NSNN cho y tế vẫn còn hạn chế ở một mức độ nhất định thì nguồn chi từ NSNN vẫn phải giữ vai trò chủ yếu có tính chất quyết định đến sự phát triển của sự nghiệp y tế Trong đó bao gồm các nội dung chi như sau:

- Chi về công tác khám chữa bệnh;

+ Lương, phụ cấp lương, tiền công…

+ Phúc lợi, bảo hiểm, nghỉ phép…

Trang 29

+ Chi mua sắm, sửa chữa nhỏ thường xuyên…

+ Chi hoạt động thường xuyên khác…

- Chi phòng bệnh;

+ Lương, phụ cấp lương, tiền công…

+ Phúc lợi, bảo hiểm, nghỉ phép…

+ Chi mua sắm, sửa chữa nhỏ thường xuyên…

+ Chi hoạt động thường xuyên khác…

- Chi sự nghiệp y tế khác

+ Lương, phụ cấp lương, tiền công…

+ Phúc lợi, bảo hiểm, nghỉ phép…

+ Chi mua sắm, sửa chữa nhỏ thường xuyên…

+ Chi hoạt động thường xuyên khác…

1.1.3.2 Cơ chế tự chủ tài chính về chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp công lập trong nghành y tế

Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thụ hưởng kinh phí chi thường xuyên cho

sự nghiệp y tế:

Các đơn vị thuộc khối khám chữa bệnh (các bệnh viện, trung tâm y tế công lập

từ tuyến huyện trở lên được nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hoặc nhà nước hỗ trợ kinh phí từ NSNN)

Các đơn vị y tế dự phòng được thu phí để thực hiện công tác tiêm chủng, phòng bệnh (vệ sinh dịch tễ, vệ sinh môi trường được nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hoặc nhà nước hỗ trợ kinh phí từ NSNN)

Cơ chế tự chủ về nguồn tài chính chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành y tế theo Điều 13 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định “tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công

tự bảo đảm chi thường xuyên”:

* Nguồn tài chính của đơn vị

- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách Nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí;

Trang 30

- Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí);

- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có);

- Nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị định Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ (nếu có));

- Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật (theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định

cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập)

* Sử dụng nguồn tài chính

- Chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao

tự chủ quy định tại Điểm a, Điểm b (phần được để lại chi hoạt động thường xuyên)

và Điểm c Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ để chi thường xuyên theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 12 Nghị định

1.2 Quản lý chi thường xuyên từ sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước 1.2.1 Khái niệm quản lý chi ngân sách Nhà nước

Quản lý chi NSNN là một bộ phận trong công tác quản lý NSNN cũng là một

bộ phận trong công tác quản lý nói chung Xét theo nghĩa rộng, quản lý chi NSNN là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua các chức năng vốn có; theo nghĩa hẹp, quản lý chi NSNN là quản lý các đầu ra của NSNN thông qua các công cụ và quy định cụ thể

Trang 31

Quản lý chi NSNN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi NSNN luôn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính, bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm

vụ của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu chiến lược của quốc gia

Quản lý chi NSNN góp phần quan trong để NSNN phát huy được vai trò chủ đạo đó và NSNN thực sự trở thành công cụ hữu hiệu hướng tới mục tiêu đã định

Vị trí quan trọng của công tác quản lý chi NSNN được thể hiện rõ nét thông qua quá trình định hướng, hoạch định chính sách, ban hành cơ chế, tiêu chuẩn, định mức để thực hiện chức năng vốn có của ngân sách

1.2.2 Phân cấp quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

Kinh phí chi thường xuyên sự nghiệp y tế thuộc ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương đảm bảo

Ngân sách Trung ương phân bổ khi được Quốc hội phê chuẩn ngân sách Trung ương hàng năm Bộ Tài chính cấp thẳng cho Bộ Y tế, Bộ Y tế cấp cho các khám chữa bệnh của Bộ Y tế

Ở địa phương kinh phí chi thường xuyên sự nghiệp y tế được cân đối vào ngân sách địa phương (ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) sau khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn ngân sách chi thường xuyên sự nghiệp y tế thì Sở Tài chính sẽ kết hợp với Sở Y tế phân bổ cho các đơn vị trực thuộc Sở Y tế và Phòng Kế hoạch - Tài chính cấp huyện cấp cho Phòng Y tế huyện để cấp cho các đơn vị thuộc phòng y tế quản lý Kinh phí chi thường xuyên sự nghiệp y tế được cân đối vào ngân sách địa phương nên không phải rót xuống từ Bộ Tài chính

Sơ đồ phân cấp quản lý chi thường xuyên sự nghiệp y tế

Trang 32

1.2.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên sự nghiệp y tế từ ngân sách Nhà nước

Quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho SNYT phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc của quản lý chi thường xuyên của NSNN

Nguyên tắc tính toán các khoản chi thường xuyên phải dựa trên tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn dựa trên đầu dân, dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, vùng có khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có diện tích đất trồng lúa nước lợ, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, vùng kinh tế trọng điểm

BỘ TÀI CHÍNH

KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG

SỞ Y

TẾ tỉnh, TP KBNN

SỞ TÀI CHÍN

Phòng Tài chính HCSN,

Sở Tài chính

KBNN cấp huyện, thị

xã, thành phố

Trang 33

Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu bắt

buộc của chu trình quản lý tài chính Nhà nước Những khoản chi thường xuyên một

khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN

Lập dự toán là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất cho toàn bộ chu trình chi thường xuyên, nó quyết định số lượng, chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính Lập dự toán còn là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên phát sinh hàng năm Hay nói cách khác, quản lý theo dự toán đối với chi thường xuyên là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tùy tiện của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách Tuy vậy, điều quan trọng ở đây là cần phải nâng cao chất lượng lập và xét duyệt

dự toán trên cơ cở bố trí ngân sách sát đúng với thực tế nhiệm vụ của từng đối tượng, từng loại hình hoạt động Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau

Nguyên tắc đảm bảo tỉnh hiệu quả, tiết kiệm: Một trong những điều kiện để

đạt được hiệu quả là tiết kiệm Hiệu quả ở đây là phải gắn với mục tiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu để đạt được mục tiêu đó Tiết kiệm và hiệu quả

là nguyên tắc chủ đạo của mọi hoạt động kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thường xuyên nói riêng, bởi khả năng cung ứng nguồn tài chính có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu lại gia tăng với tốc độ nhanh Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất

Ngoài ra, do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng

và phức tạp, nhu cầu chi từ thường xuyên từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh

Trang 34

trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên từ NSNN

Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Chỉ có như vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi

Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát

áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị một cách phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi

Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hình hoạt động hoặc theo nhóm các mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn được hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau, trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối

ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy, khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi

từ NSNN phải đặt trong sự ràng buộc với hiệu quả và ngược lại

Khi đánh giá tính hiệu quả của chi NSNN phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó Vì vậy, khi nói tới hiệu quả của chi thường xuyên NSNN người ta hiểu đó là những lợi ích

về kinh tế và xã hội mà toàn xã hội được thụ hưởng

Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi thường xuyên của NSNN được nhìn nhận qua các góc độ: Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ đơn

vị cơ sở thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao Quyết định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên thuộc về Quốc hội, HĐND các cấp Chỉ sau khi dự toán đã được Quốc hội, HĐND các cấp phê duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi

Trang 35

ngành, mỗi cấp Do vậy, quyết định của Quốc hội, HĐND các cấp về việc thông qua

dự toán chi thường xuyên từ NSNN cho các cấp, các ngành như là một đạo luật điều chỉnh đến hoạt động của lĩnh vực này Vì vậy, các cấp, các ngành phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được thông qua

Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các khoản, mục đó và hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định

Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước (KBNN): Quản lý quỹ

NSNN là một trong những chức năng quan trọng của Kho bạc Nhà.nước Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên; chi NSNN cho SNYT là chi thường xuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này Thực hiện kiểm soát chi trực tiếp qua KBNN sẽ nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng NSNN góp phần lập lại kỷ cương tài chính

Một số vấn đề cơ bản khi thực hiện nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN đó là:

Một là, mọi khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và

sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí chuẩn chi

Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí ngân sách

Nhà nước (gọi chung là đơn vị sử dụng kinh phí NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN

Ba là, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông

báo hạn mức kinh phí quí cho các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách, kiểm tra việc

sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị, tổng hợp quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN

Trang 36

Bốn là, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và

thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua kho bạc của các đơn vị KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các đơn vị sử dụng NSNN biết đồng thời gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp như: Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt; chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính của Nhà nước; không đủ các điều kiện về chi theo quy định

Năm là, mọi khoản chi đều phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo

từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN Các khoản chi bằng ngoại

tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo

tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định

Sáu là, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi

sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi NSNN

Đối với các khoản chi cho SNYT để đảm bảo nguyên tắc này thì:

Tất cả các khoản chi cho SNYT phải được kiểm tra trước, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN đã được duyệt, đúng tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định và phải được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN chuẩn chi

Tất các đơn vị sử dụng nguồn kinh phí chi cho SNYT phải mở tài khoản tại KBNN nơi giao dịch, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Sở Y tế, Sở Tài chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán, hạch toán và quyết toán theo quy định

Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán NSNN của Sở Y tế

và các đơn vị cùng cấp có sử dụng nguồn kinh phí chi cho SNYT

Trang 37

KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN cho y tế theo đúng quy định

1.2.4 Nội dung quản lý chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

Nội dung công công tác quản lý chi thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y

tế bào gồm:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn quản lý chi thường

xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế Trong đó, các nội dung liên quan cả nước do Chính phủ ban hành, các Bộ chức năng (Bộ Tài chính, Bộ Y tế ban hành) các văn bản

có liên quan đến địa phương trong chức năng quản lý nhà nước của địa phương do UBND tỉnh hoặc Sở Tài chính, Sở Y tế ban hành hướng dẫn

Thứ hai, công tác lập dự toán chi NSNN cho sự nghiệp y tế hàng năm, 03 năm,

05 năm theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền

Thứ ba, công tác điều hành, chấp hành dự toán kinh phí chi sự nghiệp y tế Thứ tư, công tác kế toán, kiểm toán và quyết toán kinh phí chi từ NSNN cho

sự nghiệp y tế

Thứ năm, công tác, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí chi

thường xuyên từ NSNN cho sự nghiệp y tế

Trog tất cả các nội dung trên đây thì nội dung thứ nhất do cấp Trung ương thực hiện, công tác này trog thực tế đã thực hiện rất đầy đủ hình thành một hệ thống các văn bản pháp quy hướng dẫn đầy đủ cho cả nước để thực hiện Riêng bốn nội dung còn lại các địa phương phải tiến hành cụ thể thường xuyên nên tác giả sẽ lần lượt giới thiệu hoạt động quản lý cụ thể dưới đây:

1.2.4.1 Lập dự toán chi thường xuyên

Lập dự toán NSNN là khâu đầu tiên của chu trình ngân sách Đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của Nhà nước để

từ đó xác lập các mục tiêu thu, chi, dự trữ ngân sách hàng năm một cách đúng đắn,

có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó có thể xác lập những biện

Trang 38

pháp lớn về kinh tế - xã hội nhằm tổ chức thực hiện tốt chỉ tiêu đã đề ra Dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNYT áp dụng theo phương pháp lập dự toán truyền thống

Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên: Căn cứ vào quy định tại Điều 41 Luật

NSNN năm 2015 và Điều 22 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 2/12/2016 của Chính phủ, để nghiên cứu cụ thể:

Thứ nhất, căn cứ vào chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển sự

nghiệp y tế Trên cơ sở đó có các hình thức, các phương pháp phân phối nguồn vốn của NSNN vừa tiết kiệm, vừa đạt kết quả cao nhất

Thứ hai, dựa vào các chỉ tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội năm

của Nhà nước và của địa phương Cụ thể hóa các chủ trương của Nhà nước trong từng giai đoạn thành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Kết hợp với định mức chi, các chỉ tiêu này sẽ trở thành yếu tố cơ bản để xác định kế hoạch chi thường xuyên NSNN cho SNYT

Thứ ba, căn cứ khả năng nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của SNYT

Muốn vậy phải dựa vào cơ cấu thu NSNN của các năm trước đặc biệt là năm báo cáo

và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch Từ đó thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng thu và nhu cầu chi

Thứ tư, các chính sách chế độ của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực y tế

Đây là cơ sở pháp lý cho việc tính toán và bảo vệ dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNYT Đồng thời cũng là điều kiện cho quá trình chấp hành dự toán không rơi vào tình trạng hụt hẫng khi có sự điều chỉnh hay thay đổi một số chính sách, chế độ chi nào đó của Nhà nước

Thứ năm, căn cứ kết quả đánh giá tình hình thực hiện chi thường xuyên từ

NSNN cho SNYT kỳ trước để xem xét tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương pháp quản lý tài chính đối với từng loại hình đơn vị Đây là những thông tin mang tính thực tiễn cao trong quá trình lập dự toán chi NSNN cho SNYT

Thứ sáu, căn cứ vào số kiểm tra được cấp có thẩm quyền giao Số kiểm tra là

cơ sở, là hành lang pháp lý tạo điều kiện cho đơn vị lập dự toán một cách chính xác, khách quan và khả thi

Trang 39

Quy trình lập dự toán chi thường xuyên (quy định tại Điều 23 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ) Theo phương pháp lập từ cơ sở lên, các đơn vị trực thuộc Sở Y tế (đơn vị dự toán cấp ba) là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổng hợp, xác định nhu cầu chi để lập dự toán chi năm kế hoạch cho đơn vị mình gửi lên Sở Y tế tổng hợp, xét duyệt theo những căn cứ đã nêu

ở trên; trong quá trình tổng hợp, lập dự toán ngân sách, Sở Y tế có trách nhiệm làm việc với các đơn vị trực thuộc để điều chỉnh dự toán kinh phí mà các đơn vị lập (nếu có) để phù hợp với tình hình thực tế, chế độ định mức quy định Sau đó, Sở Y tế tổng hợp gửi Sở Tài chính theo quy định

Sau khi nhận dự toán của Sở Y tế tổng hợp, Sở Tài chính xem xét tính hợp lệ, đúng đắn của dự toán sẽ tổng hợp chung vào dự toán toàn tỉnh trình UBND tỉnh phê duyệt sau đó trình Bộ Tài chính theo quy định

Sau khi làm việc và thảo luận với Bộ Tài chính và được Bộ thông báo số dự toán ngân sách Trung ương cấp cho địa phương, Sở Tài chính sẽ tiến hành mời Sở Y

tế thảo luận dự toán, tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua, sau khi được thông qua UBND tỉnh sẽ ra quyết định phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị sử dụng (đối với các đơn vị vừa là đơn vị dự toán cấp 1 vừa là đơn vị sử dụng ngân sách), phân bổ, giao dự toán cho SNYT (đối với các đơn vị trực thuộc), sau đó Sở Y tế sẽ

ra quyết định giao dự toán thu, chi NSNN cho các bệnh viện trực tiếp sử dụng ngân sách, đồng gửi Sở Tài chính để thực hiện kiểm tra dự toán đơn vị dự toán Sở Y tế đã giao cho các đơn vị trực thuộc Trường hợp phát hiện việc phân bổ không đúng tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ của dự toán ngân sách đã được giao; không đúng chính sách, chế độ quy định thì yêu cầu Sở Y tế điều chỉnh lại chậm nhất

là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo phân bổ của đơn vị dự toán ngân sách, trường hợp phân bổ đúng Sở Tài chính tiến hành nhập dự toán cho các đơn vị

sử dụng trực tiếp ngân sách, đồng gửi KBNN nơi giao dịch để theo dõi và kiểm soát theo quy định

Phương pháp lập dự toán: Việc lập kế hoạch chi thường xuyên ngân sách

Nhà nước cho SNYT theo phương pháp tính toán tổng hợp Số chi cho kỳ kế hoạch

Trang 40

sẽ được xác định dựa trên định mức chi tổng hợp dự kiến cho mỗi loại hình đơn vị, theo từng đối tượng và số đối tượng bình quân được tính định mức Tùy thuộc vào việc xác định chi thường xuyên NSNN cho SNYT theo từng loại hình đơn vị sẽ áp dụng phương pháp, cách thức tính toán và định mức riêng để xác định số chi cho kỳ

kế hoạch Cụ thể:

+ Đối với khối y tế dự phòng (tính theo số biên chế được giao):

giao + Đối với khối khám chữa bệnh (tính theo số giường bệnh):

trong định mức = được giao trong năm x cho một giường

bệnh

1.2.4.2 Chấp hành dự toán

Tổ chức thực hiện chi hay còn gọi là chấp hành dự toán chi, đây là khâu tiếp theo khâu lập dự toán của một chu trình ngân sách Đó là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghi trong kế hoạch ngân sách thành hiện thực Thực hiện dự toán đúng đắn là tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển bệnh viện Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các bộ phận trong đơn vị Vì vậy, đây là một nội dung đặc biệt quan trọng trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho SNYT Việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độ ngân sách (ở nước ta là một năm, từ ngày 01/01 đến 31/12 hằng năm) Các căn cứ tổ chức thực hiện:

Thứ nhất, dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Có

thể nói đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, bởi vì hầu hết các nhu cầu chi đã có định mức, tiêu chuẩn và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, thông qua

Ngày đăng: 09/10/2023, 15:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau (Trang 52)
* Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức Sở Tài chính tỉnh Cà Mau - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức Sở Tài chính tỉnh Cà Mau (Trang 57)
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức Sở Y tế - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Sơ đồ 2 Sơ đồ tổ chức Sở Y tế (Trang 59)
Bảng 2.1. Quy mô số lượng biên chế, số giường bệnh sự nghiệp y tế cấp tỉnh  giai đoạn 2016 – 2020 - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.1. Quy mô số lượng biên chế, số giường bệnh sự nghiệp y tế cấp tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 (Trang 60)
Bảng 2.2. Tình hình thu NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020 - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.2. Tình hình thu NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 – 2020 (Trang 62)
Bảng 2.3: Tình hình chi ngân sách Nhà nước tỉnh Cà Mau giai đoạn năm - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.3 Tình hình chi ngân sách Nhà nước tỉnh Cà Mau giai đoạn năm (Trang 64)
Bảng 2.4 : Chi tiết chi cân đối ngân sách của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm 2016 - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.4 Chi tiết chi cân đối ngân sách của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm 2016 (Trang 65)
Bảng 2.5 : Chi tiết chi thường xuyên NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.5 Chi tiết chi thường xuyên NSNN của tỉnh Cà Mau giai đoạn năm (Trang 67)
Bảng 2.6 Chi cho sự nghiệp y tế (chi thường xuyên) giai đoạn 2016 – 2020. - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.6 Chi cho sự nghiệp y tế (chi thường xuyên) giai đoạn 2016 – 2020 (Trang 73)
Bảng 2.7. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác lập dự toán - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.7. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác lập dự toán (Trang 76)
Bảng 2.8. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác tổ chức thực  hiện dự toán chi thường xuyên NSNN cho Y tế - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.8. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức trả lời về công tác tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN cho Y tế (Trang 77)
Bảng 2.10. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, lãnh đạo các đơn vị trả lời về đội ngũ - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.10. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, lãnh đạo các đơn vị trả lời về đội ngũ (Trang 80)
Bảng 2.11. Số lượng và tỷ lệ cán bộ trực tiếp theo dõi, quản lý trả lời về công  tác quyết toán chi thường xuyên NSNN của các đơn vị Y tế - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.11. Số lượng và tỷ lệ cán bộ trực tiếp theo dõi, quản lý trả lời về công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN của các đơn vị Y tế (Trang 81)
Bảng 2.12: Số lượng và tỷ lệ cán bộ lãnh đạo đơn vị trả lời về công tác kiểm  tra, giám sát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp Y tế - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 2.12 Số lượng và tỷ lệ cán bộ lãnh đạo đơn vị trả lời về công tác kiểm tra, giám sát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp Y tế (Trang 83)
Bảng 13. Chi cho lĩnh vực y tế  giai đoạn 2016 – 2020. - Hoàn thiện công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế tại tỉnh cà mau
Bảng 13. Chi cho lĩnh vực y tế giai đoạn 2016 – 2020 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w