Phật giáo truyền vào Việt Nam đã mấy ngàn năm và bám sâu gốc rễ vào nhiều lĩnh vực đời sống của người dân Việt. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, nó cũng hòa mình vào lịch sử văn hóa của địa phương và để lại dấu ấn tích cực cho mãi đến hôm nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI : Phân tích những nội dung Triết học của thuyết Tứ Diệu Đế trong
Triết học Phật giáo
HÀ NỘI – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Phân tích những nội dung triết học của thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo .3
1 Tổng quan về triết học Phật giáo và học thuyết Tứ diệu đế 3
1.1 Tư tưởng Phật giáo 3
1.2 Vai trò của thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo 3
2 Thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo 4
2.1 Diệu đế thứ nhất – Khổ đế (Dukkha) 4
2.2 Diệu đế thứ hai - Tập đế (Samudaya) 7
2.3 Diệu đế thứ ba - Diệt đế (Nirodha) 9
2.4 Diệu đế thứ bốn - Đạo đế (Magga) 9
3 Ưu và nhược điểm của thuyết “Tứ Diệu Đế” 12
II Ý nghĩa của nhân sinh quan Phật giáo (thuyết Tứ diệu đế) đối với bản thân 13
1 Với Phật giáo và quan niệm nhân sinh của con người Việt Nam 13
2 Với bản thân và ứng dụng vào công việc: 14
Tài liệu tham khảo chính 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Phật giáo truyền vào Việt Nam đã mấy ngàn năm và bám sâu gốc rễ vào nhiều lĩnh vực đời sống của người dân Việt Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình,
nó cũng hòa mình vào lịch sử văn hóa của địa phương và để lại dấu ấn tích cực cho mãi đến hôm nay
Thời đại ngày nay, gần như hằng ngày, hằng giờ, thế giới phải chứng kiến những xung đột, những bất ổn mà nguyên nhân thường có liên quan đến vấn đề tôn giáo Ở Việt Nam, Phật giáo vẫn tồn tại và gắn bó khăng khít, hòa quyện vào đời sống xã hội, như đã diễn ra trong quá khứ hai ngàn năm tồn tại Khác chăng, trong hoàn cảnh mới, thời đại mới, nó sẽ có biểu hiện và sự phát triển mới Điều đó càng thúc bách việc tìm hiểu nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo địa phương nói riêng một cách đầy đủ, sâu sắc không chỉ ở hiện tại, mà cả trong quá khứ để ứng xử trong tương lai
Trong đó thì Tứ Diệu Đế (tiếng Phạn: catvāry āryasatyāni) là lời dạy đầu tiên của Đức Phật cho những học trò của mình Đức Phật đã nói về Tứ Diệu Đế mà ông đã khám phá ra trong khi đấu tranh cho sự giác ngộ, đó là những lời dạy vô cùng quan trọng trong Phật giáo
Rõ ràng muốn hiểu được nhân sinh quan trong phật giáo thì ta phải hiểu được bài giảng đầu tiên của Đức Phật sau khi giác ngộ đã mô tả Tứ Diệu Đế hay còn gọi là Tứ Thánh Đế về cuộc sống mang lại đau khổ, và đau khổ là một phần của cuộc sống, rằng đau khổ có thể kết thúc và có một con đường dẫn tới sự chấm dứt của đau khổ Những
ý tưởng này tổng hợp thành những giáo lý then chốt của Phật giáo
Trang 4NỘI DUNG
I Phân tích những nội dung triết học của thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật
giáo
1 Tổng quan về triết học Phật giáo và học thuyết Tứ diệu đế
1.1 Tư tưởng Phật giáo
Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại Đạo Phật không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ác thì phải chịu báo ứng Đạo Phật còn thể hiện là một tôn giáo tiến bộ khi không có thái độ phân biệt đẳng cấp Đức Phật đã từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” Ngoài ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết và không phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúng đồng tu”, đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu và nếu ai có quyết tâm đều có thể thành tựu như Đức Phật
1.2 Vai trò của thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo
Phật giáo ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển và hội nhập, trở thành một trong những tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ đông đảo, hoạt động Phật sự phong phú, đa dạng đang ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội ngoài đạo Các nhà sư một mặt tập trung tham cứu Phật pháp khai thác những mặt tích cực của lý luận, tư tưởng Phật giáo có thể phát triển hơn nữa Phật giáo trong bối cảnh hiện đại, mặt khác đồng thời tham gia các hoạt động xã hội, đưa Phật giáo đến gần với các nhu cầu thiết thực mà đời sống xã hội hiện đại còn khổ đau đang tìm kiếm hướng giải quyết
Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế đóng vai trò cơ sở, nền tảng cho toàn bộ hệ thống giáo lý từ nguyên thủy cho đến các nhánh phái hiện đại nhất của nó Hầu như không có nghiên cứu nào về Phật giáo từ góc độ tôn giáo học hay Phật học hoặc khoa học xã hội
về tôn giáo có thể bỏ qua Tứ Diệu Đế Thậm chí các nghiên cứu về tư tưởng triết học-tôn giáo Ấn Độ cổ cũng từ nghiên cứu Tứ Diệu Đế có thể thấy được sự tiếp nối, kế thừa và phát triển liên tục của tư tưởng Ấn Độ như một chỉnh thể thống nhất với những vấn đề có tính truyền thống Hơn nữa, khi so sánh tư duy và văn hóa Đông-Tây, nếu
Trang 5khai thác các thành tựu của Ấn Độ sẽ thấy Phật giáo là một ứng viên điển hình đại diện cho phương Đông trên nhiều phương diện mà Tứ Diệu Đế chính là một trong những điểm sáng đầy sức thuyết phục đối với các học giả phương Tây
Được du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, Phật giáo đã sớm dung hợp với các giá trị văn hóa truyền thống, hình thành nên Phật giáo mang màu sắc Việt Nam Sự dung hợp này đã được nhiều học giả trong và ngoài nước cũng như học giả trong và ngoài Phật giáo đóng góp nhiều thành tựu, song phân tích sự dung hợp đó
ở Việt Nam từ tiếp cận vấn đề triết học của Tứ Diệu Đế vẫn sẽ là một đóng góp thêm cho triết học Phật giáo nói chung và cho lịch sử triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng
từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn
Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã để lại nhiều đóng góp đáng kể cho dân tộc trên nhiều lĩnh vực khác nhau như đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, nếp sống, nếp tư duy của người Việt Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từ những ngày đầu và đến nay đã trở thành một tôn giáo truyền thống của người Việt Nam Ngày nay, Phật giáo ngày càng phát huy các giá trị tích cực của nó trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh hiện đại của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa Có thể nói, Tứ Diệu Đế và tư tưởng triết học của Phật giáo qua Tứ Diệu Đế chiếm vị trí quan trọng trong các ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội của người Việt Nam Nhiều giá trị tư tưởng tích cực của Tứ Diệu đế đã và đang được người Việt Nam tiếp tục phát huy trong đời sống thực tiễn Đức Phật đã dạy rằng:“Nếu con người ta không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì không có cách nào khác có thể tránh được con đường sinh tử luân hồi, không hiểu rõ
Tứ Diệu Đế là gì thì sẽ không thể nào tìm được con đường để thoát ly khổ đau, trầm luân từ kiếp này sang kiếp khác”
2 Thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo
2.1 Diệu đế thứ nhất – Khổ đế (Dukkha)
- Bản chất của khổ: Khổ là điểm khởi đầu và thoát khổ là mục đích cuối cùng của
toàn bộ giáo lý Phật Đặc trưng về “khổ” trong đạo Phật là hoàn cảnh của những hoàn cảnh, là chân trời của những chân trời, nghĩa là một toàn thể viên dung mọi hình thái hiện hữu của chúng sinh
Trong hệ thống giáo lý của Đức Phật, phạm trù Khổ cũng được triển khai nhất quán với nguyên lý Duyên khởi Hiểu rõ duyên khởi là hiểu rõ sự thật về sinh diệt của
Trang 6các pháp, nhận thức đúng các vấn đề liên quan như nhân quả, nghiệp báo luân hồi, và
có một cái nhìn tích cực, khả thi trên con đường truy tìm chân lý, loại trừ tính tiêu cực thần quyền, loại bỏ tư tưởng tà kiến chấp thường hay tà kiến chấp đoạn
- Các dạng thức đau khổ
Khổ là phạm trù nền tảng cho thuyết Tứ diệu đế nói riêng và triết lý – tư tưởng Phật giáo nói chung Khi xét về các cấp độ đau khổ, Phật giáo cho rằng có ba cấp độ chính sau đây:
Trước tiên, ta phải chịu đựng nỗi khổ thô thiển, chẳng hạn như đau đớn, bất hạnh
và đau buồn Đó là điều mà ai cũng có thể hiểu được, và tất cả mọi người, ngay cả thú vật cũng muốn tránh né Không có gì đặc biệt khi đạo Phật nói rằng sự đau đớn và bất hạnh là tình huống bất toại nguyện, và tốt hơn là nên thoát khỏi điều này
Dạng khổ thứ hai được gọi là khổ vì thay đổi (hoại khổ), và nó nói về hạnh phúc bình thường, thông thường, hàng ngày của chúng ta Vấn đề của loại hạnh phúc này là gì? Vấn đề là nó không kéo dài, mà lúc nào cũng thay đổi Hiện nay, ước muốn khắc phục vấn đề này trong hạnh phúc bình thường, thế tục của chúng ta cũng không phải là mục tiêu độc quyền của đạo Phật Có nhiều tôn giáo dạy mình vượt qua lạc thú thế gian để mưu cầu một dạng thiên đàng với hạnh phúc vĩnh hằng
Dạng khổ thứ ba thì đặc biệt chỉ có trong đạo Phật, được gọi là “nỗi khổ bao trùm khắp nơi” Ta cũng có thể gọi nó là “vấn đề toàn diện” của mình Nỗi khổ này thâm nhập tất cả mọi thứ mà ta trải nghiệm, nói về cách chúng ta tái sinh một cách thiếu tự chủ, đó là cơ sở thật sự cho sự thăng trầm trong đời sống hàng ngày của chúng ta Nói cách khác là sự tái sinh hết lần này đến lần khác, với các dạng tâm thức và thân thể mà mình có, là cơ sở cho hai dạng khổ đầu
- Các hình thức đau khổ: Sinh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ,
Oán tăng hội khổ, Cầu bất đắc khổ, Ngũ uẩn xí thịnh khổ
+ Sinh khổ – Sinh ra đời là một nỗi khổ
Thứ nhất, sinh ra là khổ Chúng ta sinh ra là khổ Mẹ mang thai mình, mẹ khổ không? Làm mẹ rất khổ Rồi đến ngày sinh nở, rất là khổ Sinh ra, ta khổ quá thì ta mới kêu “Oa oa” đấy “Oa oa” nghĩa là “Khổ quá, khổ quá, khổ quá” Cho nên mở màn cuộc đời là tiếng kêu khổ Mình ra ngoài gặp nóng, gặp lạnh, thời tiết là thấy đau khổ rồi Trong bụng mẹ khác, ra ngoài khác Thế cho nên Phật gọi là sinh là khổ Đây
là sự khổ đầu tiên mà ai cũng gặp phải
Trang 7+ Lão khổ – Già là khổ
Tất cả chúng ta không ai thích mình già cả Chúng ta chỉ thích mình lớn thôi, chứ không thích già Bé thì thích mình lớn, mình làm người lớn nhưng già là không thích Chúng ta không ai thích già cả vì già thấy nó xấu xí, nó vô dụng Cho nên già là một nỗi khổ Già là một nỗi khổ mà hầu hết ai cũng phải trải qua dù không muốn Khi già,
cơ thể nhăn nheo, trở nên xấu xí; trí tuệ cũng giảm sút Chính vì vậy, già cũng là một nỗi khổ không tránh né được trong cuộc đời
+ Bệnh khổ – Bệnh tật, ốm đau là khổ
Bệnh là khổ Đúng rồi, bệnh thì không ai muốn rồi Ai cũng thích mình mạnh khỏe, không một chút bệnh tật Người ta mới bảo là: “Không ốm, không đau làm giàu mấy chốc” là thế đấy
Một sự thật trên thế gian là ai cũng mong cầu sức khỏe cũng như mong mỏi khi
về già vẫn có sức khỏe Tuy nhiên, điều đó không thể xảy ra trong cuộc đời của chúng
ta Khi bị bệnh, chúng ta sẽ thấm thía được nỗi khổ mà bệnh tật mang đến
+ Tử khổ – Mất đi thân mạng này là khổ
Chết là cực khổ, chẳng ai muốn chết cả Chết là một sự thật mà tất cả chúng ta đều phải trải qua Nhưng hiếm có người nào lại chấp nhận phải chết bởi ai cũng sợ chết Chết là đau khổ, là sợ hãi Ai cũng mong muốn được sống lâu, sống khỏe, không
ai muốn chết Nhưng cái chết sẽ đến với tất cả chúng ta Vì vậy, chết là một sự khổ lớn của chúng sinh
+ Ái biệt ly khổ – Yêu thương mà phải lìa xa là khổ
Chúng ta thấy chắc rằng thương nhau mà phải xa rời là một sự khổ Mà sự khổ này chúng ta ai cũng phải trải qua Trong đời sống, có rất nhiều người để chúng ta thương yêu như cha mẹ, vợ chồng, bạn bè,… Nhưng không phải ai cũng ở với mình suốt cả cuộc đời Nếu gặp duyên sự phải chia xa sẽ sinh ra buồn bã, khổ đau Thế cho nên Đức Phật mới dạy: “Yêu thương phải xa lìa là nỗi khổ của chúng ta”
+ Cầu bất đắc khổ – Cầu mong không được là khổ
Trong cuộc đời, dù ít dù nhiều chúng ta đều có những mong cầu, ước vọng Người thì cầu công danh, tiền bạc Người thì cầu sức khỏe, tình yêu, con cái,… Nhưng
có một sự thật là rất ít khi chúng ta được toại ý Khi những mong cầu của chúng ta không được toại ý thì sinh ra đau khổ, phiền não, tuyệt vọng Cho nên chúng ta chắc chắn một điều rằng, cầu không được là một nỗi khổ của thế gian
Trang 8+ Oán tăng hội khổ – Ghét nhau mà gặp mặt là khổ
Còn cái khổ nữa là ghét nhau mà cứ phải chạm mặt Đó là cái khổ của chúng
ta Việc chạm mặt người mình không ưa là không thể tránh khỏi trong cuộc sống đời thường Điều đó có thể dẫn đến tâm trạng bực bội, không vui Phật dạy đó là nỗi khổ thứ bảy của chúng sinh
+ Ngũ uẩn xí thạnh khổ – Nỗi khổ của thân thể
Còn cái khổ nữa là cái khổ của thân thể chúng ta Ngay nơi thân, tâm chúng ta sinh ra rất nhiều phiền muộn, nỗi buồn bâng quơ, những điều vu vơ, những cái tự nhiên trong lòng thấy buồn, thấy chán, không biết nguyên nhân vì sao Phật gọi đấy là cái thân ngũ ấm này, nó xí, nó thịnh, nó bừng cháy, nó làm thiêu đốt chúng ta rất khổ Những ham muốn của thân thể, thân tâm chúng ta, chúng ta không được thỏa mãn, sinh ra bao nhiêu cái khổ ở trong thân tâm này, thiêu đốt chúng ta”
Chúng ta thấy có tám điều khổ chính mà tất cả chúng sinh đều phải trải qua Tuy nhiên, con người sống trong đời còn vô vàn những điều khổ khác
2.2 Diệu đế thứ hai - Tập đế (Samudaya)
Đây là chân lý chỉ bày nguyên nhân của đau khổ Con người vì vô minh, vì nghiệp tích tập bao đời mà mãi trầm luân trong bể khổ Để tận diệt được quả khổ, chúng ta phải tiêu trừ được cái nhân của nó Tập đế đã vạch mặt chỉ tên thủ phạm đằng sau mọi khổ đau của chúng sinh Vô minh chính là cội nguồn của tham, sân, si kéo lôi con người tạo nghiệp để rồi tái sinh và chịu quả khổ
- Nguyên nhân chấp ngã
Tham lam, giận dữ và si mê thiếu trí tuệ là ba phiền não căn bản khiến con người luôn trầm luân với khổ đau Sự vô minh mê mờ khiến chúng ta bám chấp vào cái tôi và tất cả những gì chúng ta cho rằng thuộc về tôi Sự tin tưởng một cách sai lầm vào bản ngã chắc thật khiến chúng ta phân biệt ta người, từ đó mọi yêu ghét buồn vui, mọi tư tưởng tình cảm đối đãi phát khởi, và bức tranh luân hồi khổ đau từ đó được vẽ nên Chúng ta không hiểu rằng mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này đều vô thường và biến đổi từng phút giây, tất cả đều nương vào nhau mà sinh khởi, không một cái nào
có tự tính riêng biệt, độc lập
Tâm bám chấp là gốc rễ phát khởi lòng tham, tính vị kỷ cũng như tâm sân hận, tật đố và các phiền não nhiễm ô khác Cho rằng “tôi” là tâm điểm, chúng ta luôn tham lam muốn vun vén chạy theo những nhu cầu bất tận của bản thân Lòng tham khiến ta
Trang 9tìm mọi cách thỏa mãn tham vọng cá nhân, kể cả làm những việc bất chính hay chà đạp, gây đau khổ cho người khác Vì tham mà gia đình ly tán, anh em bất hòa, bạn bè xung đột Tội ác và bạo lực xảy ra khắp nơi cũng đều bắt nguồn từ tham vọng ích kỷ của con người Tâm tham lam càng mạnh mẽ thì sân hận càng có nhiều điều kiện để phát khởi, do ham muốn không được thỏa mãn Vì bám chấp vào “cái tôi” cố hữu, chúng ta luôn tự đồng hóa với những cảm xúc của chính mình và trở thành nô lệ cho những cơn bão cảm xúc triền miên như tham luyến, sân hận, đố kỵ, kiêu mạn Cuộc sống của chúng ta vì vậy mà đau khổ trầm luân không lối thoát
- 12 nhân duyên
Nếu như vô minh là căn nguyên của mọi khổ đau sinh tử luân hồi thì Theo phật giáo nguyên nhân tạo ra nỗi khổ thì nhiều không phải tìm đâu xa, mà tìm chính trong bản thân mình Có thấy được nguyên nhân mới diệt được khổ ở đây phật giáo đưa ra
12 nguyên nhân: “Thập nhị nhân duyên”, giải thích tường tận tiến trình sinh tử đó Nhờ vậy chúng ta thấy mọi sự vật hiện tượng đều do nhân duyên giả hợp Mười hai nhân duyên giống như mười hai mắt xích Mỗi mắt xích là kết quả của mắt xích trước
và là nguyên nhân của mắt xích sau Nguyên nhân và điều kiện kết hợp để sinh ra mọi
sự vật hiện tượng Khi nhân duyên lìa tan thì các sự vật hiện tượng cũng diệt vong
Vô minh được đề cập đến đầu tiên bởi đó là nguyên nhân căn bản; tiếp đến, theo thứ tự nhân duyên, chúng ta có: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thụ, Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão, Lão duyên Tử
Triết lý Mười hai nhân duyên không chỉ giải thích tiến trình sinh diệt của thân trong vòng quay sinh tử mà còn mô tả tiến trình tư tưởng Triết lý này chỉ rõ, mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong vòng liên hệ qua lại, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, tạo thành một vòng liên tục với mười hai yếu tố không có điểm kết thúc cũng như bắt đầu Đây chính là nguyên lý căn bản của sinh tử luân hồi, tức khổ đau
2.3 Diệu đế thứ ba - Diệt đế (Nirodha)
Không chỉ nói về khổ và nguyên nhân của khổ, đức Phật còn chỉ cho chúng ta thấy rằng có thể tận diệt khổ đau, chấm dứt luân hồi sinh tử, đạt được giác ngộ giải thoát chân thật Trạng thái giải thoát đó thường được gọi dưới cái tên Niết bàn tịch
Trang 10diệt Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, Niết bàn không phải một cõi, một nơi nào đó xa rời thế gian này, cũng không thể hiểu một cách máy móc rằng nơi đó chỉ có sự rỗng không, vắng lặng, diệt trừ hết tất cả chẳng còn gì tồn tại, hiện hữu Niết bàn là sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau, là sự vắng mặt của tham, sân, si là tâm giác ngộ tuyệt đối vốn siêu việt mọi ngôn từ và nhận thức thế gian thông thường
Một cách thực tiễn hơn, khi đã giác ngộ được chân lý về khổ được trình bày trong Khổ đế, hiểu được bản chất những nguyên nhân gây ra đau khổ trong Tập đế, cũng như thành tựu thực hành tu tập các phương pháp diệt khổ trong Đạo đế, hành giả coi như đã thành tựu quả vị giác ngộ, đạt được chân hạnh phúc và giải thoát luân hồi sinh tử Mỗi chúng ta đều có thể đạt được quả vị giác ngộ theo cách này Dù chưa thể thành tựu giác ngộ tuyệt đối, chúng ta vẫn có thể đạt được những cấp bậc giác ngộ khác nhau tương ứng với trình độ hiểu biết và thực hành ba chân lý còn lại của Tứ Diệu đế
Sự giác ngộ tuyệt đối vốn siêu việt mọi ngôn từ Cảnh giới giác ngộ là không thể nghĩ bàn bởi càng dùng ý niệm và ngôn từ phân biệt để diễn tả thì càng xa với chân lý
Dù vậy, đức Phật từ bi vô lượng, vì muốn cho chúng sinh được thấu rõ chân lý và phát khởi tín tâm tu tập, Ngài đã khai thị một cách khái quát về các quả vị giác ngộ này Tuy vậy, chúng ta cần hiểu rằng các cấp bậc đó cũng chỉ là sự chia chẻ mang tính tương đối, giúp tâm phàm của chúng ta dễ tiếp cận mà thôi
2.4 Diệu đế thứ bốn - Đạo đế (Magga)
- Bát chánh đạo
Bát chính đạo là những chỉ dẫn của đức Phật về cách thực hành tu tập nhằm đưa
hành giả thoát khỏi mọi bám chấp và vọng tưởng mê lầm, giúp hiển lộ trí tuệ hiểu biết đúng đắn Tám khía cạnh thực hành khác nhau có mối quan hệ tương hỗ mật thiết và cần được thực hành đồng thời
Chính kiến là sự hiểu biết, quan kiến đúng đắn Chính kiến có được khi bạn giác
ngộ về Khổ đế, nhìn mọi sự vật hiện tượng như bản chất chân thật của chúng thay vì nhìn qua lăng kính vọng tưởng thông thường của thế gian Để có được quan kiến đúng đắn này, bạn cần thấu hiểu rằng lý vô thường, khổ, không, vô ngã và quy luật
về Nghiệp chi phối mọi sự vật, hiện tượng thế gian Chính kiến không được xây dựng nên từ những hiểu biết, phân biệt nhị nguyên mà cần được bắt đầu bằng trực giác quán